590 – Người bạn lớn phương Bắc cư xử với Mekong ra sao?

1267321511-can-nuoc-song-me-kong-2.jpg

Bản đồ lưu vực sông Mê Kông (Nguồn: UB Mê Kông VN us.24h.com.vn)

Từ vụ Xayaburi, nhìn lại số phận Mê Kông

Vấn đề xây đập ồ ạt từ thượng lưu Mekong (thuộc Trung Quốc) làm ảnh hưởng nghiêm trọng khu vực hạ lưu đã và tiếp tục trở thành đề tài nóng hổi vài năm nay. Bất chấp dư luận phản đối của các quốc gia hạ lưu Mekong, Trung Quốc vẫn tăng tốc “chiến dịch chặn dòng” nhằm thỏa mãn lợi ích riêng (nhu cầu điện). Ngày 21-5-2009, Liên Hiệp Quốc một lần nữa khẳng định Trung Quốc đang là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tương lai Mekong. 8 con đập trên dòng Mekong (gọi là Lan Thương tại nước này) chảy qua tỉnh Vân Nam, trong đó có đập Tiểu Loan (Xiowan) cao nhất thế giới (292m) với tổng dung tích tương đương tất cả hồ chứa nước Đông Nam Á cộng lại, đang tàn phá cái “thân xác” vốn đang “rã rời” của hạ lưu Mekong, với mức độ khủng khiếp tăng dần…

Trung Quốc “thảm sát” Mekong như thế nào?

Kế hoạch cực kỳ tham vọng của Trung Quốc trong việc xây một thác nước khổng lồ gồm 8 con đập trên thượng lưu Mekong chảy qua những hẻm núi cao Vân Nam có lẽ là mối đe dọa lớn duy nhất đối với con sông” – báo cáo LHQ viết. Báo cáo cũng cho biết ảnh hưởng từ cơn sốt xây đập “điên rồ” từ Trung Quốc gồm “những thay đổi dòng chảy và thời gian thủy triều, sự xuống cấp chất lượng nguồn nước và sự mất mát tính đa dạng sinh học”. Với hơn 85.000 con đập (còn tiếp tục xây), Trung Quốc có thể “tự hào” số một thế giới về công trình đập thủy điện (trước năm 1949, Trung Quốc chỉ có 22 đập). Từ con đập cao nhất thế giới, to nhất thế giới, dung tích chứa nhiều nhất thế giới, đến khả năng sản xuất điện nhiều nhất thế giới…, tất cả đều có ở Trung Quốc. Trong khi đó, các con sông thuộc Trung Quốc lại gần như chẳng giúp được gì. Cần mở ngoặc, dù 1,3 tỉ dân Trung Quốc chiếm đến 1/5 dân số thế giới nhưng Trung Quốc chỉ được xếp thứ 15 về nguồn nước ngọt. Hơn nữa, 5 trong 7 con sông chính của Trung Quốc lại bị ô nhiễm nghiêm trọng đến mức hiện có đến 300 triệu dân Trung Quốc không được tiếp cận nguồn nước sạch.

Trung Quốc bắt đầu vận hành con đập đầu tiên – Mạn Loan (Manwan) – xây chắn ngang dòng Mekong vào năm 1992. Con đập thứ hai và thứ ba – Đại Triều Sơn (Dachaoshan) và Cảnh Hồng (Jinghong) – hoàn thành năm 2003 và 2008. Tháng 10-2009, Trung Quốc tuyên bố con đập thứ tư – Tiểu Loan (Xiaowan) – bắt đầu được đưa nước vào bồn chứa. Đây là con đập nguy hiểm nhất đối với sinh mạng Mekong. Khi hoàn chỉnh (vận hành đồng bộ vào năm 2013), Tiểu Loan tạo ra một hồ chứa khổng lồ với 15 tỉ m3 (trên diện tích hơn 190km2), nhiều hơn gấp 5 lần tổng dung lượng của ba con đập Mạn Loan, Đại Triều Sơn và Cảnh Hồng gộp lại và cần đến 10 năm mới làm đầy! Ít người biết rằng người đứng đầu công ty trúng thầu xây Tiểu Loan cũng như nhiều con đập tại Trung Quốc (Hoa Năng quốc tế điện lực khống cổ hữu hạn công ty) là Lý Tiểu Bằng, con trai cả của cựu Thủ tướng Lý Bằng!

1267321511-can-nuoc-song-me-kong-3.jpg

Trung Quốc kiểm soát được thượng nguồn sông Mê Kông với nhiều con đập kỳ vĩ như thế này  – Ảnh: Sina.com (Nguồn: us.24h.com.vn)

0-mekong.jpg

Đập nước Tiểu Loan ở Vân Nam, Trung Quốc cao 292m trên thượng lưu sông Mekong – Ảnh: sinohydro (Nguồn: vietbao.vn)

Sự can thiệp thô bạo dòng Mekong bởi Tiểu Loan sẽ mang lại ảnh hưởng nghiêm trọng với 250 triệu người Campuchia, Việt Nam, Lào và Thái Lan sống ở châu thổ Mekong. Giới môi trường nhấn mạnh, con đập Tiểu Loan chắc chắn trở thành thủ phạm tai ác đối với đời sống người dân khắp Đông Nam Á. Ngư phủ Campuchia chắc chắn bắt được ít cá hơn và nông dân Việt Nam phải dùng phân hóa học nhiều hơn bởi phù sa bị chặn lại từ Vân Nam-Trung Quốc; trong khi đó, cư dân khu vực bờ Mekong tại Thái Lan sẽ đối mặt hạn hán và xâm thực. Tất cả sẽ “thay đổi toàn bộ sự cân bằng sinh thái của con sông” – theo Aviva Imhof, giám đốc chiến dịch thuộc tổ chức Mạng sông ngòi quốc tế (International Rivers Network) – “Cư dân hạ lưu Mekong phụ thuộc nguồn cá cung cấp 80% protein cho họ. Chúng tôi đang chứng kiến sự “sụp đổ” tiềm tàng trong chế độ dinh dưỡng khu vực này nếu ảnh hưởng của nó tệ như chúng tôi dự báo”. Vào mùa khô, thượng lưu Mekong chiếm hơn 60% dung tích con sông. Một khi nguồn nước này bị cắt, hạn hán tại hạ lưu chắc chắn xảy ra. Trong khi đó, vào mùa mưa, sự xả nước đột ngột từ hồ Tiểu Loan sẽ tạo ra những trận lụt kinh hoàng. Ấy vậy mà Trung Quốc chưa dừng lại. Năm 2014, Trung Quốc tiếp tục xây thêm một con đập nữa bên dưới Tiểu Loan, tại Nhu Trác Độ (Vân Nam). Theo thiết kế, “con quỷ nhập tràng” Nhu Trác Độ không cao bằng Tiểu Loan nhưng nó chứa nước nhiều hơn, gần 23 tỉ m3 với khả năng cung cấp 5.000 megawatt điện.

Mekong bị chặt từng khúc – vấn đề sinh tử của khu vực

Cần nhất thiết nhấn mạnh, viễn cảnh đen tối cho cư dân hạ lưu Mekong như vừa nói không là giả thuyết mơ hồ thiếu chứng cứ. Trong thực tế, hiện tượng hạn hán hoặc lũ lụt bất thường tại hạ lưu Mekong đã xảy ra, chủ yếu bởi những con đập thủy điện – như khẳng định của giới khoa học được nhắc đi nhắc lại vài năm gần đây. Trong khi đó, cơn sốt thủy điện vẫn bùng nổ, với hơn 80 dự án đập thủy điện ở những giai đoạn khác nhau (có cái chuẩn bị, cái đang xây) đang hình thành trên dòng Mekong cũng như các nhánh sông của nó. Trong bài viết trên Japan Focus, hai tác giả Geoffrey Gunn và Brian McCartan đã đưa ra vô số chứng minh về tình trạng lụt bất thường (nghiêm trọng nhất trong một thế kỷ!) bởi sự sử dụng thô bạo dòng Mekong ở thượng nguồn. Trận lụt kinh hoàng năm 2008 (mực nước cao 13,7m) đã làm thiệt hại Thái Lan khoảng 220 triệu baht (6,48 triệu USD) và Lào chừng 100 tỉ kip (11,6 triệu USD). Cuối tháng 3-2004, Ủy hội Mekong (MRC) công bố dữ liệu cho thấy lượng mưa giảm mạnh tại 16 địa điểm khắp châu thổ Mekong vào năm 2003. Chính Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng từ việc khai thác Mekong quá mức. Năm 2010, trận hạn hán nghiêm trọng trong ít nhất 50 năm đã làm vô số cánh đồng Nam Trung Quốc trở nên khô cằn và khiến hàng chục triệu người bị thiếu nước. Tại Thái Lan, trận hạn hán 2010 gây ảnh hưởng cho ít nhất 14.000 ngôi làng. Tổng quát, hạn hán đã khiến mực nước Mekong năm 2010 tụt ở mức thấp nhất trong gần 20 năm qua. Tháng 2-2010, mực nước Mekong tại Tây Nam Trung Quốc đã ở mức thấp nhất trong 50 năm, với lượng nước chỉ bằng ½ so với bình thường. Những hiện tượng quái đản này, chẳng phải do “ông Trời” gây ra, chưa hề xuất hiện trước đây, vào năm 1986 chẳng hạn, khi Trung Quốc bắt đầu xây con đập đầu tiên trên Mekong…

Việc xây đập đáp ứng cơn khát điện không phải không có cái họa nhãn tiền cho chính Trung Quốc. Sau trận động đất kinh hoàng tại Tứ Xuyên vào tháng 5-2008, Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia Trung Quốc cho biết có đến 391 con đập thủy điện tại 5 tỉnh Trung Quốc đang trong “tình trạng nguy hiểm” bởi có thể bị đổ sập do động đất. Trong thực tế, Trung Quốc không phải chưa từng bị “quả báo”. Ngày 12-7-2005, tờ Epoch Times dẫn lời Bộ thủy lợi Trung Quốc cho biết có đến 30.000 con đập đang trong tình trạng nguy hiểm, đe dọa 400 thành phố và gần 150 triệu người. Trong cùng bài báo, tác giả còn cho biết từ năm 1954-2003, có đến 3.484 con đập Trung Quốc bị sập (trung bình 71 đập/năm)! Không chỉ hiểm họa sập đập, còn nhiều vấn đề khác. Đầu tháng 4-2007, giáo sư Đại học Bắc Kinh Thịnh Kiệt Dân cùng 12 học giả đã ký lá thư gửi Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh rằng con đập khổng lồ Tam Hợp đang đẩy nhanh mức độ ô nhiễm sông Dương Tử cũng như gây ra hạn hán năm 2006 tại khu vực Trùng Khánh thuộc Tứ Xuyên bởi nó chặn dòng ra của lưu vực Tứ Xuyên (Tứ Xuyên Bồn Địa). Trận hạn hán trên là lần hạn hán nghiêm trọng nhất trong 100 năm qua! Vấn đề xây đập thật ra là đề tài gây tranh cãi với chính những người trong bộ máy Chính phủ Trung Quốc. Năm 2004, ông Ôn từng cố ngăn chặn “chiến dịch” xây 13 con đập trên sông Nộ (Nujiang, dài 2.815km – chảy ngang Vân Nam rồi vào Myanmar, nơi nó có tên Thanlwin; và Thái Lan, nơi có tên Salawin) nhưng bất thành.

image00112-570x455.jpg

Dự án 14 con đập bậc thềm Vân Nam

Những biện bạch xảo ngôn

Một trong những biện bạch quen thuộc của Trung Quốc là những con đập trên dòng Mekong chẳng tội tình gì, bởi dòng chảy từ Trung Quốc chỉ chiếm vỏn vẹn 13,5% dòng chảy Mekong khi nó chảy ra đến biển. Nói cho dễ hiểu, Trung Quốc cho rằng hầu hết chiều dài phần thượng lưu Mekong đều uốn khúc ở những địa giới không thuộc nước mình. Trút tội và đổ vấy đổ vung là oan cho Trung Quốc quá! Làm gì có chuyện các con đập Trung Quốc ngốn cạn nước Mekong, và do đó hệ thống đập thủy điện Trung Quốc trên dòng Mekong chẳng gây tai họa gì cho các nước hạ lưu, và tất nhiên chẳng ảnh hưởng gì đến các hiện tượng bất thường như hạn hán hoặc lụt lội ở “mé dưới” cả. Sao cứ lu loa và nhặng xị lên như thế!? Tuy nhiên, cái “nỗi oan khiên thấu trời” này đã bị chính một giáo sư sử lừng lẫy Trung Quốc, ông Tần Huy (Qin Hui) thuộc Đại học Thanh Hoa, vạch trần trong bài báo gần đây trên chuyên san Kinh tế quan sát báo (ấn bản tiếng Anh tờ này có tên Economic Observer). Theo khảo sát thực địa của giáo sư Tần, 2/3 lượng nước sông tại Luang Prabgang (Lào) đều đến từ Trung Quốc và do đó không thể nói rằng trận lụt nghiêm trọng tại Lào năm 2008 không dính dáng đến hệ thống đập thủy điện Trung Quốc trên dòng Mekong. Giáo sư Tần cho biết thêm, 70% trữ lượng nước tại lưu vực Mekong đều nằm ở Trung Quốc (!) và nó sẽ tăng đến 90% khi con đập Nhu Trác Độ bắt đầu vận hành. Vấn đề nghiêm trọng ở chỗ, tất cả nguồn trữ nước của các con đập Trung Quốc đều nằm trên dòng chính của Mekong, trong khi các nước khác đều xây đập ở những nhánh phụ Mekong. Còn nữa, ba “khối đá chặn dòng” gồm Mạn Loan, Đại Triều Sơn và Cảnh Hồng (đều cao hơn 100m) – có trữ lượng là 920 triệu, 940 triệu và 1,4 tỉ m3 theo thứ tự (tổng cộng bằng ba con hồ Côn Minh) – hẳn nhiên sẽ tác động trực tiếp đến dòng chảy tự nhiên theo mùa của Mekong…

Rõ ràng là xảo ngôn-điêu ngữ khi nói rằng hệ thống đập thủy điện Trung Quốc trên dòng Mekong không gây ảnh hưởng hạ lưu, bởi bản thân Trung Quốc (phải) hiểu rõ hơn ai hết tác động kinh khủng đến môi trường và xã hội từ việc can thiệp dòng chảy tự nhiên của hệ thống sông ngòi, ngay tại nước họ, cho mục đích thủy điện và cả cho yếu tố “an ninh nước”. Theo bài viết trên Quang Minh nhật báo (Guangming Daily) của tác giả Bằng Vĩnh Phong (Feng Yongfeng), tháng 12-2009, 160.000 cư dân dọc dòng Thanh Giang ở Hà Bắc đã cùng ký đơn thỉnh nguyện yêu cầu chính quyền địa phương ngưng xây một nhà máy thủy điện tại tỉnh láng giềng Sơn Tây vì dự án này có thể làm mất miếng cơm manh áo của những người lam lũ kiếm ăn trên dòng Thanh Giang (thuộc hệ thống sông Hải Hà). Trong hai thập niên trước 1965, lưu lượng trung bình hàng năm của Thanh Giang là 1,96 tỉ m3 nhưng từ 1980-2000, nó chỉ còn 356 triệu m3, bởi phải bị dồn vào các bồn chứa ở thượng nguồn cho thủy điện. Trong khi đó, Hà Bắc tiếp tục tất bật với vô số dự án đập thủy điện. Từ năm 1949 đến nay, hơn 1.000 hồ thủy điện với đủ kích cỡ đã được xây, cho mục đích “phòng chống lụt lội” cũng như “mang lại lợi ích nhiều mặt cho kinh tế địa phương”. Tổng cộng, kho nước trữ cho hệ thống thủy điện Hà Bắc chiếm đến 10 tỉ m3 nước. Không chỉ tích nước cho thủy điện, Hà Bắc còn trữ nước để cung cấp cho Bắc Kinh, do tỉnh này nằm trong khuôn khổ chương trình Nam thủy Bắc điều công trình (dự án chuyển nước tại trục Bắc-Nam), với kế hoạch luôn cung cấp đủ nước cho Bắc Kinh ở bất kỳ tình trạng nào. Khi thủ đô thiếu nước, ba hồ trữ chính của Hà Bắc – Vương Khoái, Cảng Nam và Hoàng Bích Trang – sẽ lập tức xả vòi đưa nước lên thủ đô. Khi nước tại hồ trữ Mật Vân (Mật Vân thủy khố) của Bắc Kinh xuống thấp dưới mức 1 tỉ m3, các hồ Hà Bao và Dựng Chu (nằm trên biên giới Hà Bắc) cũng buộc phải cung ứng tức thì, ngay cả trong trường hợp các hồ này gần như khô kiệt. Và để bảo đảm an toàn tối đa cho “an ninh nước” thủ đô, Bắc Kinh không chỉ “hút” sạch nước Hà Bắc và Sơn Tây mà còn lấy từ sông Vĩnh Định để cấp cho hồ trữ Quan Thính (4 tỉ m3). Điều này khiến dòng Vĩnh Định (một nhánh của Hải Hà) ngày càng cạn khô…

Do hụt nước trầm trọng, hiện tại hầu hết địa phương Trung Quốc đều cố “giữ” lại nguồn nước trong địa phận mình trước khi nó “còn sót” chảy qua địa phận “tỉnh bạn”. Một tình trạng bắt đầu phổ biến tại nhiều địa phương Trung Quốc hiện nay: vài nơi đang nổi khùng trước dự án nào đó tại địa phương “bạn” có “mưu đồ nham hiểm” là thay đổi dòng nước để phục vụ lợi ích riêng mà “chẳng biết chia sẻ” cũng như “chẳng biết sống tử tế là gì”. Chỉ với trường hợp này, đã có thể thấy yếu tố xung đột nguồn nước giữa các địa phương là quan trọng như thế nào, nói chi đến cấp độ quốc gia. Và nói như vậy để Trung Quốc thấy mà có thể “thông cảm” cũng như hiểu tại sao những nước hạ lưu lên án các chương trình thủy điện Trung Quốc tại thượng nguồn Mekong. Một nước lớn, hoặc “đang cố chứng tỏ mình lớn” như Trung Quốc, cần nên hành xử cho ra tư cách “người lớn”, mới là thể hiện của hạng người không phải thuộc phường tà đạo xảo biện ma giáo!

Mạnh Kim

TL6.jpg

Trận lụt kinh hoàng năm 2008 (mực nước cao 13,7m) đã làm thiệt hại Thái Lan khoảng 220 triệu baht (6,48 triệu USD) – Ảnh minh hoạ

Mekong-081-11w.jpg

Hình ảnh khô hạn chưa từng có ở hạ nguồn MêKông (miền Tây Nam Bộ VN) – Nguồn: Báo Thanh niên

___________________________

3 phản hồi

  1. […] Người bạn lớn phương Bắc cư xử với Mekong ra sao? – https://gocomay.wordpress.com/2011/04/23/590-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-b%E1%BA%A1n-l%E1%BB%9Bn-ph%C6%B0%C6%A1ng-b%E1%BA%AFc-c%C6%B0-x%E1%BB%AD-v%E1%BB%9Bi-mekong-ra-sao/ […]

  2. Nên nhớ thời cổ đại Trung Hoa, Cổn đã bị vua Thuấn chém đầu vì đắp đập ngăn nước!

  3. Không share được!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: