868 – “Của cho không bằng cách cho”

642 – Bá quyền văn hóa kiểu Trung Quốc

doan-tau-cao-toc-thong-nhat-to-quoc.jpg

Nhìn vào độ chiếm sóng của phim Trung Quốc trên các đài truyền hình ở Việt Nam, nhiều người lo ngại về khả năng Việt Nam bị “đồng hóa” bởi anh bạn láng giềng. Khả năng đó có thật, và nó là biểu hiện của một hình thức bá quyền tinh vi: bá quyền văn hóa – một phần quan trọng trong chính sách bá quyền của nước lớn, một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ.

* “Giai điệu chủ”

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1987…

Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh – Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị gồm đại diện của tất cả các đơn vị sản xuất truyền hình khắp cả nước. Tại đây, Bộ cảnh báo về xu hướng “giải trí hóa” phim ảnh trên sóng truyền hình, đồng thời đưa ra chính sách mới: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim “giai điệu chủ” nhằm mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới.

Chính sách này phân loại phim truyền hình thành một số thể loại chính, nằm trong một khái niệm chung mà Chủ tịch Giang Trạch Dân gọi là “giai điệu chủ”:

• Dòng phim về những đề tài mang tính thực tiễn, ca ngợi người tốt việc tốt – gọi chung là phim “thần tượng tuổi trẻ”;

• Dòng phim cổ trang, gồm phim lịch sử (“Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Vương triều Ung Chính”, “Khang Hy”, “Thái Bình Thiên Quốc”…), dã sử (“Tể tướng Lưu Gù”, “Hoàn Châu Cách Cách”…)

• Dòng phim gia tộc luân lý (“Mùa quýt chín”, “Gia tộc Kim Phần”…)

• Dòng phim cách mạng, dựng lại ngữ cảnh thời xưa (“Khát vọng”, “Câu chuyện Thượng Hải”…) hoặc tái hiện chân dung những nhân vật nổi tiếng (Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…)

• Dòng phim hình sự, chống tham nhũng (“Xứng danh anh hùng”, “Khống chế tuyệt đối”…)

Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng.

Đặc biệt, chúng nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Nhà nước: Tất cả các phim, chỉ trừ dòng hình sự, chống tham nhũng, đều được hỗ trợ xuất khẩu, nhằm mục đích cao nhất là phổ biến “giá trị Trung Hoa” tới các quốc gia trong khu vực.

Trong số những nước mà Trung Quốc hướng tới, Việt Nam nổi lên như một tiền đồn, bởi “đây là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thay vì văn hóa Ấn Độ”, như lời tác giả Hạo Kiện viết trong cuốn “Phim truyền hình Trung Quốc – nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu loại hình” (NXB Điện ảnh Trung Quốc, 2008).

Phần lớn các phim “giai điệu chủ” đã được giới thiệu ở Việt Nam, khán giả nước ta chẳng xa lạ gì với chúng. Các phim đều được xuất khấu với giá hết sức ưu đãi sang Việt Nam, thậm chí một số phim cho không (như “Khát vọng”, “Tây du ký”, “Vương triều Ung Chính”) theo thỏa thuận hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước.

* Ồ ạt “xâm lăng văn hóa”

Song song với việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, nhất là phim truyền hình, sang các nước trong khu vực mà đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc cũng tiến hành “Trung Hoa hóa” các sản phẩm của những nước này.

Bất chấp việc giới truyền thông Việt Nam đưa tin đậm về những phim hợp tác giữa hai nước như “Hà Nội Hà Nội” hay “Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong”, các bộ phim này chưa bao giờ được ưu tiên chiếu giờ vàng trên sóng truyền hình của bất cứ đài nào ở Trung Quốc. Ví dụ, “Hà Nội Hà Nội” chỉ được phát trên đài tỉnh Quảng Tây, Nam Ninh vào lúc… đêm khuya thanh vắng.

Với nhiều tác phẩm điện ảnh và truyền hình nổi tiếng đến từ các nước khác, Trung Quốc thực hiện làm mờ tính nước ngoài của chúng. “Vua Kungfu” (Forbidden Kingdom) dù là phim của Mỹ và từ đạo diễn đến quay phim, phục trang đều là người Mỹ, nhưng khi đến đại lục, phim mặc nhiên được giới truyền thông nhào nặn thành sản phẩm Trung Hoa.

Các ngôi sao châu Á của Hollywood cũng bị “Trung Hoa hóa” tương tự. Khán giả Trung Quốc nói riêng và châu Á nói chung dễ lầm tưởng rằng Dương Tử Quỳnh (sinh tại Malaysia, học ở Anh, thành danh trên đất Hong Kong), Maggie Q. (Lý Mỹ Kỳ – mẹ là người Việt Nam, cha mang quốc tịch Mỹ, sinh tại Hawaii) là người đại lục.

Trung Quốc cũng khéo léo lờ đi chuyện quốc tịch của nhiều diễn viên nổi tiếng trong nước họ: Hầu như rất ít người biết rằng ngôi sao Trương Thiết Lâm mang quốc tịch Anh, Tư Cầm Cao Oa là người Thụy Sĩ, Ninh Tĩnh là người Pháp, còn mỹ nhân Chương Tử Di gốc gác Hong Kong.

(Ngoài lề: Một vụ việc đặc biệt có liên quan đến Việt Nam, nhưng không thuộc lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, là cuốn “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” của Giáo sư Đài Loan Hồ Tuấn Hùng, phát hành tháng 11-2008. Trong cuốn sách, tác giả cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính danh là Hồ Tập Chương, nguyên là một người Khách Gia [Hakka, tiếng Việt gọi là người Hẹ], tức thuộc Hán tộc.)

* Điều gì nằm sau chiến lược xuất khẩu văn hóa của Trung Quốc?

Một nước lớn với dân số hùng hậu như Trung Quốc khó mà chấp nhận tầm ảnh hưởng ít ỏi trên thế giới. Và trên con đường “trỗi dậy hòa bình” để trở thành bá quyền ít nhất là trong khu vực, Trung Quốc mau chóng nhận thấy sức mạnh của văn hóa – thứ “quyền lực mềm” đầy quyến rũ.

Chẳng riêng Trung Quốc biết điều đó. Như một nhà nghiên cứu người Hungary, Márkus Péter, đã viết: Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thoạt tiên, khi không có sự khác biệt đáng kể trong kỹ thuật, sức mạnh chân tay – quân sự thô kệch còn chiếm vai trò chế ngự. Thế kỷ 16-19, những mối quan hệ kỹ thuật – kinh tế từng bước chiếm ưu thế. Từ thế kỷ 20, văn hóa và truyền thông bắt đầu lên ngôi.

Bên cạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia sẽ thực hiện cả tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Sau Chiến tranh Lạnh, ở châu Âu, bên cạnh ngoại giao về chính trị và kinh tế, thì ngoại giao văn hóa ngày càng nở rộ, và dần dần sẽ trở thành hình thức bá quyền chủ yếu.

Pháp và Đức là hai quốc gia rất chú trọng tới vấn đề “bá quyền văn hóa” này. Các hoạt động “xuất khẩu văn hóa” của họ được tiến hành mạnh mẽ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó ngay tại Việt Nam: Chương trình hoạt động thường niên của Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace) và Viện Goethe dường như sôi nổi hơn hẳn so với Hội đồng Anh (British Council) hay Viện Cervantes của Tây Ban Nha.

Và đến đây thì chúng ta cũng có thể nhận thấy những hình thức ngoại giao văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành đối với Việt Nam, trong nhiều ví dụ thực tế. Phim truyền hình Trung Quốc chiếm sóng các đài ở Việt Nam, cả trung ương lẫn địa phương. Khán giả thuộc sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam. Các ca sĩ thời thượng rành rẽ về trang phục của đời Thanh và chắc chắn là sẽ không trả lời được câu hỏi vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa ăn mặc như thế nào.

Ngay trong giới trí thức, tâm lý sùng bái văn hóa Trung Hoa đã rất nặng. Một số đông trí thức Việt Nam có thể dễ dàng trích dẫn các điển tích, điển cố của Trung Hoa thay vì của phương Tây hay thậm chí của chính nước mình. Nói tới văn hóa Trung Hoa là nói tới một nền văn học với những tác phẩm vĩ đại, tới triết học thâm sâu, tới sân khấu kinh kịch có sức sống trường tồn, tới điện ảnh với những nhân tài mà ngay cả Hollywood cũng phải kiêng nể.

Điều này không sai, tuy nhiên, cái đáng nói ở đây là nhiều trí thức Việt Nam luôn vị nể quá mức thay vì đặt văn hóa Trung Hoa vào tương quan đúng mực với các nền văn hóa khác trên thế giới – cũng rực rỡ và vĩ đại như thế.

Khái niệm bá quyền văn hóa – tư tưởng mãi tới thập niên 30 của thế kỷ 20 mới ra đời (1). Trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện bá quyền văn hóa – tư tưởng với láng giềng Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua. Ngày nay, với sự phát triển của truyền thông, dường như cuộc “xâm lăng văn hóa” này diễn ra một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Vấn đề đến từ phía những kẻ “bị xâm lăng”

Truyền bá văn hóa của đất nước mình là điều bất kỳ chính phủ nào cũng nên làm. Vấn đề chỉ là làm sao để có sự trao đổi văn hóa song phương và mọi quan hệ đều là hợp tác tương hỗ.

Bá quyền không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được bá quyền, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần của những kẻ bị bá quyền. Riêng trên địa hạt văn hóa – tư tưởng, các học giả nghiên cứu về bá quyền văn hóa đều cho rằng bá quyền văn hóa, nếu được thực hiện, không thể thiếu sự đồng thuận một phần hoặc toàn thể của kẻ bị bá quyền. Như thế, việc Trung Quốc tiến hành bá quyền văn hóa thành công còn phụ thuộc cả vào cách cư xử của nước bị bá quyền, ở đây là Việt Nam.

Điều đó nghĩa là Việt Nam cần có thái độ và ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, nên có sự trao đổi văn hóa song phương với Trung Quốc một cách tương xứng.

Việt Nam có thể thỏa thuận các chương trình trao đổi văn hóa với Trung Quốc, theo đó, đồng thời với việc nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của nước láng giềng, Việt Nam sẽ xuất khẩu văn hóa theo hướng ngược lại, xuất bản sách, tổ chức những ngày văn hóa, tuần văn hóa Việt Nam… tại Trung Quốc.

Theo một thống kê (2) được công bố trên tờ “China Daily”, năm 2004, Trung Quốc nhập khẩu 4.000 đầu sách từ Mỹ, nhưng chỉ xuất khẩu 14 đầu sách sang nước này; nhập 2.000 đầu sách từ Anh, nhưng chỉ xuất sang đây 16 đầu sách.

Từ năm 1999 đến năm 2002, hơn 280 đoàn nghệ thuật Nga biểu diễn ở Trung Quốc, trong khi chỉ có 30 đoàn nghệ thuật Trung Quốc sang biểu diễn tại Nga. Giai đoạn 2000-2004, Trung Quốc nhập khẩu trên 4.000 phim và chương trình truyền hình, nhưng xuất khẩu không đáng kể. Dòng phim “giai điệu chủ” hầu hết chỉ tiêu thụ được ở khu vực Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là “tiền đồn”.

Đã đành Nga, Mỹ và Anh là ba nước lớn nên Trung Quốc không dễ tiến hành bá quyền văn hóa như với Việt Nam. Nhưng ngay cả một quốc gia nhỏ bé ở Đông Âu là Hungary – diện tích chỉ bằng một phần ba Việt Nam, dân số 10 triệu – thì cũng từng tổ chức Năm Văn hóa Hungary tại Trung Quốc (2007-2008), và dựng tượng đại thi hào dân tộc Petőfi Sándor ở Thượng Hải.

Những thông tin này có gợi cho chúng ta một suy nghĩ gì chăng?

Đoan Trang

_____

Chú thích

(1) Khái niệm “bá quyền văn hóa” (cultural hegemony) do Antonio Gramsci (1891 – 1937) – triết gia chính trị, sáng lập viên Đảng Cộng sản Ý – đưa ra từ những năm 30 của thế kỷ trước. Gramsci cho rằng, để có được và duy trì quyền lực chính trị, giai cấp vô sản phải thực hiện bá quyền văn hóa, phải có tiếng nói thống trị trong truyền thông đại chúng và giáo dục, cũng như phải tiến hành kiểm soát toàn diện trên bình diện tư tưởng và tín ngưỡng.

(2) Số liệu lấy từ bài “Trung Quốc tăng cường trao đổi văn hóa” trên “China Daily”. Báo “Người đại biểu nhân dân” dịch và đăng lại, 26-12-2006.

_________________________

603 – Những em bé H’mong trong khuôn hình của bạn tôi

nguyenhuutuan.jpg

Anh bạn đồng môn của tôi, là nhà quay phim nổi tiếng mà bỗng dưng giở chứng về già lại đi mua sắm cả đống máy ảnh, máy phóng phim nhựa và cất công nhiều chuyến tới các vùng quê, vùng cao hẻo lánh chụp ảnh. Mang về tự rửa phim làm ảnh lấy… rồi chất cả đống đầy từ buồng ngủ tới hành lang… chất ních những tủ, thùng cạc tông, sắt, gỗ nhỏ to.

Biết tôi khoái môn ảnh, anh đem ra lụ khụ cả đống thành phẩm và bán thành phẩm khoe. Mình hỏi, ông làm công việc này có động lực gì thôi thúc không? Anh nói, mấy chục năm gặp lại nhau, mừng qúa nên tôi đem cho ông xem, chứ hơi đâu mà khoe với ai. Có khi họ còn bĩu môi cười cho ấy chứ?

Nhìn những chồng ảnh những đường làng cổ ven sông Đáy đang mất dần. Đặc biệt hơn là đề tài về người H’mong, với những bức chân dung trẻ em người H’mong xách lồng chim hay theo mẹ đi làm nương. Cảnh bạt núi làm đường cheo leo trên những đỉnh núi mù sương… cứ khiến tôi ám ảnh mãi. Tôi biết, để đạt được những kỳ công đó anh ta đã phải tiêu tốn thời gian và vất vả biết chừng nào.

Tôi hỏi:

-Thế ông có tham gia hội viên Hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh không?

-Không, mình chỉ độc lập tự thân thôi. Chứ vào đó bị chi phối, sáng tác theo phong trào, mục tiêu này nọ… thì mình không hợp…

Anh kể, nhiều đại gia có xe (ô tô) đẹp đắt tiền, cũng mua máy rủ mình đi chung. Nhưng đi như thế cũng không mần ăn được ông ạ. Mục tiêu của mình và đám đó khác nhau, đi chung chỉ tổ cãi nhau thôi… nên mình cứ một mình, chập tối ra bến Kim Mã, mua vé đi Hà Giang hay Tây Bắc. Lên xe đánh một giấc… mờ sáng là đã tới nơi rồi.

Tôi nêu câu hỏi:

-Thế mang cả đống tài sản lớn đắt giá như vậy lên rừng xanh núi đỏ ông không sợ bị trấn lột à?

-Chả lo. Thậm chí mình còn lân la tìm đúng dân anh chị đầu gấu để nhờ vả chúng ấy chứ. Thuê chính chúng nó chở xe máy tới những nơi cần chụp. Vừa tay lái, hoa tiêu lại vừa phụ giúp bắc chân máy, lắp ống kính, che chắn halô (sáng ngược)… nuôi ăn cho nó tử tế một chút, tôn trọng nó… thì chính nó lại là người bảo vệ mình một cách tận tình…

Anh có ước nguyện, sau khi anh không còn leo núi được nữa thì sẽ làm thành sách. Gửi lại cho hậu thế. Để con cháu chúng ta biết. Đất nước, quê hương, con người của mình đã từng đẹp và thơ như thế đấy! Nhưng có một thời chúng ta đã không biết giữ nó, khiến nó tàn tệ. Trách nhiệm thuộc về ai ư? Tất cả, bắt đầu từ tôi, ông cho tới những người cầm cân nảy mực cao tít tắp kia. Một thời mông muội, u mê, tham lận… để mãi mãi mất đi những thứ vô giá mà không hay biết. Mình bỏ công sức tiền bạc ra… để chuộc một phần những lỗi lầm ấy… của riêng mình… để mong được cứu rỗi… chứ mong gì được ai đền đáp. Mình hơn các bạn là mình có chút lộc giời đều đặn hàng tháng để làm các việc ấy… nên mình tự nguyện làm… mà không đòi hỏi bất cứ ai, hay bất cứ điều gì…

Những lời nói văng vẳng đó cách đây đã hơn 5 năm trôi qua. Chia tay nhau ở nhà căn nhà anh trên phố Hàng Đào Hà Nội hôm đó, anh không tiễn tôi. Mà chỉ đứng ở lan can gác 2 nhìn theo…, tới nay, mỗi người một việc, không ai hỏi ai. Nhưng cả tôi và bạn đều đọc được những ý nguyện của nhau mà ngầm khích lệ, động viên nhau cùng vươn tới.

Anh bạn tôi, hơn tôi 5 tuổi, anh không đảng viên, thờ Phật trong nhà. Sau đợt gặp nhau đó, thấy anh được phong danh hiệu “Nghệ sỹ Nhân Dân“ (về lĩnh vực quay phim). Nay đã nghỉ hưu nhưng ít ai biết anh còn là một tay săn ảnh có hạng. Chuyên chụp phim khổ lớn tâm huyết, qúi hiếm vào bậc nhất của xứ sở mình!…

Gocomay

* * *

          >> PS: Xem bài cùng chủ đề của nhà nhiếp ảnh Xuân Bình!

Ẩn trong Mây và Núi

140g1241_resize_resize.jpg
Cán Cấu
bac-ha-pho-ban_resize2.jpg
sapa-thung-lung-muong-hoa_resize.jpg
Đồi Violet Sapa
simacai-2_resize.jpg

Simacai

Chúng tôi đi quyên góp tiền giúp các trẻ em nghèo miền núi. 250 triệu cho 312 cháu ở 6 huyện thuộc Lào Cai và Điện Biên. Mỗi cháu được hỗ trợ 800.000 đồng. Số tiền không lớn nhưng với một số cháu đó là… tài sản. Vậy mà sao ở đâu tôi cũng chỉ nhìn thấy những ánh mắt rất buồn, rất xa, rất lạ? Vì sao?

Simacai- Cán Cấu- Bắc Hà- Tả Phìn- Sapa- Cát Cát… một cung đường cắt chéo Đông và Tây của Lào Cai. Đó là những địa danh được định vị ở độ cao trên dưới 1500m. Một hướng vận động khác ngược với hình thái của Fanxifang- dãy núi cao và hiểm trở bậc nhất đất nước. Nhịp nối đủ dài để vượt qua đôi bờ sông Hồng, sông Chảy. Cũng là tọa độ, lát cắt khá tiêu biểu, thú vị cho không gian sống của người Hmong Hoa, Đỏ, Trắng, Xanh và Hmong Đen. Có thể ví đây là góc ban công hay bậc thang của Tây Bắc giúp cho những ai muốn có tầm vóc và cơ hội để nhìn thấu những tiếp biến, giao thoa cũng như quá trình xâm thực của các nền văn hóa. Một cơ sở dữ liệu, điểm tựa cần thiết để rò tìm, phân tích, dự báo những thay đổi về không gian sống cũng như thời vận, thế cuộc…

Một lộ trình phai tàn

140g0914-bl_resize.jpg

Dinh Hoàng A Tưởng- Bắc Hà

sapa-doi-violet-kien-truc-cu-cua-nguoi-phap_resize.jpg

sapa-doi-violet-kien-truc-cu-cua-nguoi-phap-3_resize.jpg

20 năm qua tôi không còn nhớ mình đã quay trở lại cung đường này bao nhiêu lần. Chỉ có vóc dáng sừng sững, trầm tư của núi; hình thái biến ảo, lãng mạn của mây; âm thanh tình tứ của nước và sự hào phóng, ngang tàng của gió là không đổi.

Đâu đó, thiên tai, lũ bùn, dông lốc có thể đã xóa sổ vài ngôi làng bé nhỏ. Nhưng nhân tai thì khủng khiếp hơn cả những cơn đại địa chấn. Xuân thu nhị kỳ, cứ theo chính lộ, đường lớn mới mở, nhu cầu đồng hóa vô thức tựa như những đợt sóng thần hoặc xối xả, lôi cuốn, phá bỏ hoặc lì lợm biến đổi, biến dạng tất thảy những gì chúng bắt gặp.

Bao đời nay nguồn sống của người Hmong gắn bó thiết thân với rừng vậy mà có những lúc người ta đã cấm cửa rừng. Nguồn sống tại chỗ cạn kiệt, cái nghèo và sự mặc cảm đeo bám dai nhách. Cơ chế, hiện thực đó cho phép văn minh vật chất ở dưới xuôi tràn lên. Những khẩu hiệu bảo vệ rừng, cải tạo đất, đưa núi rừng tiến kịp miền xuôi… cứ nghênh ngang, ngạo mạn vai trò dẫn đường, thống lĩnh.

Rừng núi với biết bao nguồn tài nguyên, nguồn sống dồi dào, trù phú bỗng chốc trở thành … vùng rất sâu mới nhặt được vàng, rất xa mới kiếm được bạc và rất nhọc nhằn với miếng cơm, manh áo. Người bản địa rơi vào tình cảnh tá túc trên chính nơi chôn nhau, cắt rốn. Họ chỉ biết lặng nhìn cây rừng, thổ sản, tài nguyên bị chặt đốn, khai thác tận diệt vô tội vạ để… góp phần xây dựng miền xuôi.

Lễ hội Gầu Thào, Nào Lồng bớt đi phần kính ngưỡng thiên nhiên, đất trời nhưng rộng lối cho trình diễn, sắp đặt để mua vui cho khách lạ. Chợ Cán Cấu nhạt nhòa không gian văn hóa, tinh thần, cảm xúc và ngày càng trơ trụi thân phận một nơi mua bán, trao đổi vật phẩm, hàng hóa. Rượu ủ Bắc Hà đã bỏ qua quốc hồn, nhạt nhòa cái tinh túy của trời đất ban tặng cho con người. Chỉ có tửu lượng là còn cơ hội thắng thế, tiến thẳng, tiến vững chắc lên thành phép thử tình cảm, tiêu chuẩn định lượng năng lực và thước đo phẩm chất.

Kiến trúc kềnh càng, ngơ ngáo, ngớ ngẩn và ngu dốt của miền xuôi khống chiếm những vị trí đắc địa. Nhà mái gỗ samu, bưng sàn, vách pơmu với cầu thang may mắn, cột thiêng bị thế chỗ bởi nhà bê tông, mái tôn hoặc công trình nhiều tầng nhại phong cách của người Pháp. Dinh thự Hoàng A tưởng một thời đại diện cho sự giàu có, tráng lệ của núi rừng, của người Hmong nay ngơ ngác trong dáng vẻ của một đào già, kép ế, phấn son lòe loẹt. Cũn cỡn và hớ hênh những vạt … bản sắc văn hóa… hiện đại.

Những biệt thự ở Tả Phìn, đồi Violet hay kiến trúc đá tọa lạc bên suối Hoa, suối Thủy Tiên từng một thời kiêu hãnh cùng mây ngàn núi cao nay mốc xanh, mốc đỏ, đổ vỡ, hoang tàn. So với Đà lạt, Bà Nà, Bạch Mã, Tam Đảo, Mẫu Sơn ( những khu nghĩ dưỡng sang trọng mà người Pháp đã kiến lập từ đầu thế kỷ trước) tạm thời, Thị trấn Sapa vẫn còn là một điểm đến hấp dẫn nhất. Nhưng sức lôi cuốn của vùng đất này vẫn đang từng giờ bám víu vào những cái chưa thể mất. Những giá trị mới được tạo dựng thì quá mong manh và xộc xệch. Nhiều khoản đầu tư càng lớn thì càng xa lạ với nhu cầu thực tế và sức công phá văn hóa bản địa càng gia tăng.

8 năm qua, kể từ khi người Pháp kiên trì quay trở lại góp sức xây dựng Quy chế đô thị Sapa, quỹ kiến trúc đặc biệt quý hiếm này ngày càng suy đồi. Rất nhiều những quy định, chỉ định cụ thể về sử dụng đất, kích thước lô đất, vị trí vọng lâu, chỉ giới, ranh giới phân cách, mật độ xây dựng, chiều cao, màu sắc công trình, độ dốc của mái… tiếp tục bất động trên những trang giấy cô hồn.

Quan sát hiện thực không gian sống trong hơn sáu chục năm qua, ngỡ tưởng nơi đây chưa từng có sự hiện diện đời sống các dân tộc, những cư dân chính đáng, xứng đáng với Tây Bắc như Hmong, Dao, Tày, Xa phó, Lô Lô, Pháp … Chẳng thể định nghĩa cái gì đang hiện hình?

Cổ tích Gai Dầu?

bac-ha_resize.jpg

Chợ Bắc Hà

simacai-1_resize.jpg

Để tiếp cận và cảm nhận văn hóa Hmong theo một hướng khác biệt, tôi tự tìm kiếm, xác định một biểu tượng riêng.

Ban đầu tôi bị ám ảnh bởi những Giằng lì- tờ giấy bản ba màu trắng- đỏ-vàng, nơi tạm trú của các ma Saman trước khi chuyển tới bàn thờ. Người Hmong thường dán ở gần ban thờ hoặc cửa ra vào. Tôi cũng rất tò mò bởi bức tranh giấy lớn, màu tím có dán hình chim- ngựa- cá treo ở chính giữa ban thờ. Hình ảnh tượng trưng cho quan niệm của người Hmong về thế giới ma với ba tầng Trời- Đất và Nước (trong bản cát cát còn treo một bức). Tôi cũng cân nhắc về cột thiêng, cột ma, cột chính (Cù dề đăng). Cột nằm ở vì kèo bên trái, là nơi phân chia gian bếp với gian giữa. Cột được lựa chọn từ những cây gỗ thẳng, đẹp, không bị đóng đinh, tránh bị đánh roi, không được dây bẩn. Dưới chân cột thường chôn nhau thai của bé trai…

Cuối cùng thì tôi lựa chọn một tác phẩm của tự nhiên nhưng gần gũi và thiết thân với người Hmong. Nếu ở Bắc bộ có cây tre, đất Mũi- Cà Mau có cây Mắm, cây Đước bám nhau lấn biển, nuôi dưỡng con người, hun đúc tinh thần đồng bằng châu thổ thì biểu tượng của đồng rừng, của người Hmong có lẽ phải là cây Gai Dầu.

Cây Gai dầu còn có tên gọi khác như Gai Mèo, Cần sa, Bồ đà. Lá hoa Gai dầu dùng để làm thuốc chữa đau dạ dày, bệnh về đường tiêu hóa cũng như chữa sởi cho trẻ em. Vỏ cây chữa bỏng. Hạt gai chữa đau đầu, tạo chế phẩm tương tự như đậu phụ làm thức ăn cho người và gia súc.

Nhưng có lẽ công dụng đáng kể nhất của gai dầu là nguồn nguyên liệu dệt vải. Với người chết, không có giày may bằng gai dầu thì không biết lối đi ở âm phủ. Không có quần áo, mũ bằng gai dầu thì tổ tiên từ chối không đón nhận nơi thiên đường. Với người sống, gai dầu là chất liệu chính tạo ra những tác phẩm thời trang có ấn tượng thị giác hấp dẫn lạ lùng, tín hiệu nhận diện ban đầu, dữ liệu phân biệt các nhóm người Hmong và người Hmong với các tộc người khác. Ở một tầng ngữ nghĩa nào đó, bộ váy áo của người Hmong giống như một ngôn ngữ đối thoại có sức truyền cảm và ám ảnh nhất với môi trường nhân sinh chung quanh.

Sách cũ của người Trung Quốc thời Hậu Hán (960- 1279) từng viết rằng: tổ tiên người Hmong đã đan bện vỏ cây, nhuộm với nước cỏ và hoa quả để vải có màu đẹp. Việc trồng cây gai, se sợi, dệt áo, may thêu, đính thêm những mẫu trang trí khác kéo dài ít nhất là hai năm.

Hàng trăm nếp gấp trên trang phục Hmong là tượng trưng cho bầu trời của các vị thần. Theo khảo cứu ở khu vực người Hmong sinh sống tại châu Á của Gu Wenfeng (Viện dân tộc học Vân Nam) và Robert. Clarke (Hội gai dầu Quốc tế, Hà Lan) thì có nhiều ý kiến cho rằng hình vẽ, họa tiết trên váy áo còn mô tả lịch sử, chiến tranh, bản đồ dẫn đường, địa phận, nơi tụ cư ban đầu của dòng họ (bên sông suối hay trên núi).

Cây gai dầu còn gợi cho tôi liên tưởng tới tên gọi “Hmong” hay “H’mong”. Nghĩa của từ này là những hạt giống. Hơn ba thế kỷ qua người Hmong vẫn lặng lẽ tìm kiếm cho mình những nơi hoang vu, hoang vắng nhất, khó khăn nhất ở Tây Bắc để gieo cấy, chăm tỉa, vun trồng cho những thế hệ mới, tầng môi sinh khác cùng những vỉa văn hóa đa dạng.

Ước sao các nhà quản lý, văn hóa, quy hoạch, kiến trúc…. cũng như mỗi người Xuôi chúng ta đều biết tìm kiếm, đón nhận và làm gia tăng những giá trị Hmong giống như cách mà họ đã từng bày tỏ, ứng xử thân thiện với cây gai dầu, với thiên nhiên. Biết cách gieo trồng để tạo thêm màu xanh cho đất rừng; Lựa chọn đúng kỳ thu hoạch vỏ để vải chắc bền, dễ dệt; Chậm rãi, cần mẫn se bện, dùng lá rừng để nhuộm màu, lấy mật ong để vẽ kiểu cho thổ cẩm; Khéo lựa mũi kim thêu luồn, thêu đột để dựng lên những ký hiệu, mật mã văn hóa…

Cũng như nhiều tộc người khác, người Hmong cần được tôn trọng bởi những giá trị khác biệt và bình đẳng trong ứng xử. Không cơn cớ nào cho phép chúng ta ghẻ lạnh với một tộc người từng có chừng ba nghìn năm thực hiện những hành trình dịch chuyển lớn từ miền Đông Sibirea qua Hoàng Hà, Dương Tử và nay tạm dừng chân ở những mom núi Tây Bắc. Như những cánh chim nhỏ bé, người Hmong dời bỏ hoang mạc phương Bắc giá lạnh, xa lánh những áp lực, ảnh hưởng dữ dội của nền văn hóa Hoa Hạ và tạm lưu trú lại trong mây và núi rừng phương Nam.

Chắc chắn người Hmong hơn hẳn chúng ta về cách làm đẹp núi rừng Tây Bắc. Có lẽ vì thế mà những ngày cuối xuân này, hoa mận vẫn trắng tinh khôi Simacai, hoa đào bừng nở núi đồi Cán Cấu, hoa cúc rực rỡ Phố Bản và mây lành vẫn lững thững vờn quanh những bản làng người Hmong ở Cat Cat, Tả Phìn…

140g2633_resize.jpg

140g2681_resize.jpg

140g2751_resize.jpg

140g2679_resize.jpg

140g2680_resize.jpg

140g2691_resize.jpg

140g2646_resize.jpg

140g2846_resize.jpg

Nhóm thiện nguyện 2011

_________________________________
Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ