855 – Vài cảm nghĩ nhân ngày 27/2

848 – Khi ngỗng trời bay về…

839 – Mai vàng xa xứ…

808 – Tiếng đất kêu thương

P1020470Thế là thời gian không còn đui mù câm điếc mãi được nữa. Đêm qua (26/11), mấy tay làm chương trình “Ký ức thời gian” ở Ban Khoa giáo của VTV cũng phải thú nhận thời kỳ Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) mỗi công (một ngày) lao động của xã viên HTX chỉ được chia từ 1 đến 3 lạng thóc. Hôm trước mình cứ lo hão mỗi công lao động được chia 4 lạng thóc ở quê mình là bèo qúa. Hóa ra vẫn tươm chán.

Những “phát minh” vĩ đại của mô hình sản xuất “tiên tiến” ở miền Bắc XHCN thời đó cũng được một nông dân trung thực ở xã Yên Nghiã – Hà Đông (mình đoán tay này chắc phải cỡ chủ nhiệm HTX) thú nhận, ngoài mỗi việc chế ra được máy tuốt lúa (đạp chân hay dùng mô tơ điện) thay dùng cối đá đập lúa. Thì chuyện cải tiến cày 2 lưỡi đã giết chết không biết bao nhiêu trâu khoẻ trâu ngoan. Việc dùng hai người kéo trục đá thay cho trâu bò bừa rơm cũng vậy. Đã làm giập nát những hạt thóc vàng chắc mẩy qúi giá. Đành phải “cải lùi”. Nhớ ở quê mình thời đó có chú Minh Cứ nhà ở xóm Bẫm, không biết nghe cán bộ đi tập huấn về khoa học kỹ thuật ở trên về xui dại. Nói phân trâu non là còn chứa nhiều chất bổ dưỡng. Hệ tiêu hóa của trâu chưa hấp thụ hết có thể đem nấu với cám nuôi lợn rất tốt. Nói là làm, nhà chú Minh có mấy cái nồi bằng đồng và gang to (loại chuyên dùng nấu bánh vào dịp tết) đều được huy động vào cuộc thử nghiệm. Tới bữa, đàn lợn lúc đầu cũng rũi mõm tìm hít những chỗ đặc cám rít ăn. Nhưng sau đấy, dù có chết đói cũng không chịu “sực” cái món “thức ăn tổng hợp” nặng mùi đó. Kết cục đi tong mấy cái nồi (tài sản qúi của nhà nông thời đó) nấu bánh vì khi được đun nóng, mùi phân trâu đã ngấm sâu vào bên trong thành và đáy nồi không tài nào ngâm cọ sạch được nữa…

Thời bao cấp, mỗi khi có con trâu mộng kiệt sức mà chết. Ngoài đồng thì thiếu sức kéo. Nhưng trong làng thì rậm rịch vui phải biết. Trâu ngả thịt được chia theo lao động chính. Mỗi đợt chia, ngoài vài cục xương và mấy miếng lòng sách (dạ dày) ra, mỗi xuất chỉ được khoảng 3 – 4 lạng thịt vụn là cùng. Tôi nhớ sao món thịt trâu xào rau cần tỏi dạo đó thơm ngon thế không biết. Sau này dù có được dự những mâm cao cỗ đầy đến đâu cũng không thấy ngon hơn. Hóa ra, cái câu “Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại/ Miếng thịt bò (trâu) lại vĩ đại gấp đôi” của thi sỹ Nguyễn Chí Thiện không chỉ đúng trong nhà tù nhỏ mà còn đúng cả ở nhà tù lớn nữa!

Thiếu sức kéo, đội cày bừa máy (mỗi huyện có một đội vài ba cái) lại càng cao giá. Đám “kiêu binh” này mè nheo đủ kiểu. Luật bất thành văn, đám “trâu đỏ” (đầu máy kéo sơn màu đỏ) đi đến đâu cũng được đãi món thịt gà (món ăn thượng đẳng thời bao cấp). Nơi nào thiếu gà chúng cày bừa giả dối, thợ cấy có mà khốn khổ với đám ruộng gồ ghề lồi lõm do chúng tạo ra. Bởi vậy cái câu ca “trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà” có xuất xứ như thế!

P1020468Sẽ không thật công bằng khi chỉ biết phê phán một chiều cái mô hình HTXNN quái đản ở xứ ta. Mà không thấy những cái được của nó trong việc tạo ra được những hệ thống bờ vùng bờ thửa với kênh mương tưới tiêu khá hiệu qủa một thời. Cái cảnh “tát nước chống hạn/ úng” hồi trước thập niên 1960 về cơ bản đã không còn tái diễn thời HTXNN nữa.

Nắng chiều thấp thoáng ngọn cây tre
Sóng lúa mênh mông cuộn đổ về
Anh cùng tôi bước trên đê nhỏ
Áo nâu bạc màu bay với gió
Anh giơ tay vẽ giữa đồng xanh
Vẽ cả ngày mai thành bức tranh

(Anh chủ nhiệm – Hoàng Trung Thông)

Nhưng tiếc thay, cái bức tranh ngày mai mà anh chủ nhiệm HTXNN hay nhà thơ lớn nhưng qúa đỗi ngây thơ chót vẽ vời ra đó nó đã phá sản qúa nhanh. Nhanh chưa bằng nửa cái vỗ tay của đời người. Để những “sóng lúa” mênh mông ấy đã bị chia nhỏ cắt vụn ra thành những ô to nhỏ lớn bé manh mún (thời khoán sản). Tuy chẳng hay hớm gì. Nhưng đã cứu tế. Đã mang lại bát cơm thơm cho người nông dân sau bao ngày không chết đói nhưng đói tới chết“.

Lại nhớ, hồi đầu xuân năm 1983, khi tới cửa sông Ninh Cơ quay cảnh lau sậy, đoàn làm phim tài liệu chúng tôi có đi qua huyện Nam Ninh. Nơi một dạo được đích danh TBT Lê Duẩn về chỉ đạo mô hình “Pháo đài huyện” với sản xuất lớn XHCN – cơ giới hóa 100% trong nông nghiệp. Thì hỡi ôi, những đàn “trâu đỏ” hùng hổ dạo nào nay đã trở thành bãi sắt phế thải hoen gỉ vì các hộ gia đình không ai còn muốn nuôi chúng bằng gà nữa. Với lại với những vạt ruộng khoán dài như những dải phướn bé xíu trên khắp cánh đồng. Thì chả có con “trâu đỏ” nào còn quanh cho được.

Trong khi chờ trời nắng, vào ngủ nhờ ở Đội 202 của cụ Việp (năm đó cụ đã ngót 70). Thấy đám trai gái con cái cụ (mấy chục người) vẫn vác đất bằng vai, sắn kéo bằng tay để quai đê lấn biển như cha ông ta từ ngàn xưa. Không có gà đãi chúng tôi. Cụ Việp chỉ có món “đặc sản” lá sung non gói cá nhạch (trông giống con chạch nhưng biết lắc mình trườn rất nhanh trên bãi bồi), kho tương ăn với xôi đỗ đen được bày ra ven bờ đê ngăn biển trên những tàu lá chuối. Nhưng hương vị của món ăn đồng biển ấy cứ theo tôi mãi tới tận bây giờ. Nhớ cái đêm đang hầu cụ ván cờ ở lán nứa ven đê, thấy có đám thanh niên cả nam lẫn nữ tới khoanh tay xin phép cụ được vào làng xem phim. Chả cần ý tứ (trước mặt khách) cụ vô tư dặn: Hết phim nhớ về ngay đi ngủ để mai lấy sức mà làm cho xong mức khoán đã nhận. Cụ còn dặn với theo là đừng có cấu đít nhau đấy. Đám thanh niên khúc khích cười vâng dạ rồi kéo nhau đi….

ccrd1Sau tìm hiểu kỹ mới biết, nhờ hai bàn tay lao động cần cù, gia đình cụ trước 1954 cũng thuộc hàng khá giả trong vùng. Đùng cái đợt CCRĐ long trời lở đất đã giáng xuống đời cụ những đòn chí tử. Nhà ngói cây mít tự tay cụ làm ra bỗng chốc bị tịch thu. Gia sản tan nát khiến cụ phải tìm về nơi bãi bồi hoang vắng giữa hai cửa sông (sông Đáy và sông Ninh Cơ) để làm lại từ đầu. Đội thủy lợi 202 do cụ làm đội trưởng được hình thành như thế. Từ hai bàn tay trắng, đội quân chân đất của cụ đào đắp hàng tỷ khối đất. Quai đê “biến cải vũng nên đồi” được hàng ngàn Ha bãi sình lầy lau sậy thành những cánh đồng “bờ xôi ruộng mật” cây trái xanh tươi. Tự lo cho thân, cụ còn cưu mang biết bao cảnh đời cơ nhỡ, những lứa đôi bất hạnh lỡ làng. Ai tới cũng được cụ dung nạp, thương yêu, gọi bằng “các con” trìu mến. Cụ bày cho đám trẻ cách thức làm ăn, dạy chúng đạo lý làm người rồi dựng vợ gả chồng cho nữa. Một tay cụ lo toan cắt đặt đâu đấy. Hết lứa này tới lứa khác. Mãi tới cuối thập niên 1980 người ta “vu” cho cụ được đảng giác ngộ và chỉ đường mới đạt được kỳ tích lớn lao như vậy. Để vụ  “bức cung” được trôi chảy, trước khi phong danh hiệu “Anh hùng lao động” người ta đã ép cụ viết đơn xin ra nhập đảng vào năm cụ tròn 73 tuổi.

Bộ phim tài liệu nhựa 35 mm dài 30 phút về chân dung của cụ Việp có tên “Những người chân đất” đã được đạo diễn Tô Việt Hải hoàn thành để đem đi dự LHP Việt Nam lần VIII ở Đà Nẵng vào tháng 3-1988. Nhưng không được ai chú ý tới. Vì đơn giản Tô đạo diễn dù luôn tự hào đỗ bằng đỏ ở Đại học Điện ảnh Vờ-Gích (Liên Xô cũ) đã không hiểu gì về nông thôn. Không hiểu về nông dân nên không biết cách khai thác cái bi hài ẩn chứa sâu trong vóc dáng gầy khô đen đúa nơi con người cụ Việp. Bi kịch ấy cũng chính là nỗi đau chung của hàng triệu nông dân miền Bắc và cả nước thời “tiến nhanh, tiên mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”. Nay cố nhân Tô Việt hải đã về nơi đất Phật. Chắc cụ Việp tròn trăm tuổi cũng đã an nhàn ở cõi vĩnh hằng lâu rồi. Nhưng khát vọng và nỗi đau của đất và người quê ta vẫn còn nguyên đó!

dm4

Không biết đến bao giờ tiếng đất kêu thương mới thấu tới trời?

Gocomay

_____________________

801 – Đảng ta hơn ở chỗ vẫn còn nhiều người tốt?

37

Dạo này nhận Job (việc) mới, bận tối ngày. Nên cũng có phần sao nhãng việc đàn sáo (gõ phím). Nhưng hôm nay, tình cờ vào Quê choa đọc được Chuyện mấy cái phong bì của Phan Chi khiến mình lại tủm tỉm cười và có hứng loạn bàn chút cho đỡ “nhạt miệng” (chữ của NQL). Chứ cái thá vô công dồi nghề như mình, hơi đâu mà mua dây buộc cho nhọc lòng…

1.- Thời còn ở làng, hàng năm cứ đến lễ Hội chùa Thày (7/3 âm lịch) là mình hay cơm nắm muối vừng theo các anh chị đi trẩy hội. Nhớ dạo đó tinh đi bộ chứ làm gì đã có đủ xe đạp mỗi người một chiếc mà đi. Từ nhà đến núi Thày, đi tắt qua bãi Giá cũng phải tới mươi cây số. Nhưng cứ nghĩ tới cảnh được trèo lên các tảng đá tai mèo chênh vênh mà ngắm xuống khung cảnh chùa chiền, làng mạc và cánh đồng bên dưới là lòng mọi người lại háo hức một cách lạ kỳ. Không biết nhà thơ nổi tiếng xứ Đoài – Quang Dũng (quê Đan Phượng) thời ở làng có giống tâm trạng của tôi không? Nhưng khi đọc tới cái câu “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng” trong tuyệt phẩm nổi tiếng Đôi mắt người Sơn Tây thì tôi tin cái đẹp hoang sơ của tuổi ấu thơ ở một vùng đầy ca dao ổ tích như xứ Đoài, người nào kinh qua chả cảm nhận được.

Cho đến một năm, khi tôi đã đi thoát ly được vài năm rồi. Hôm rủ bạn bè từ thành phố đạp xe ngót ba chục cây số về thăm lại núi Thày ngay sau hội chùa hàng năm. Chúng tôi lại leo ra các mỏm đá chơi vơi thi nhau chụp ảnh kỷ niệm. Đói lại trải báo lên các mỏm đá tai mèo, nơi có các tán cây hoa đại (cây bông xứ) để dùng bữa trưa một cách ngon lành. Vừa ăn vừa ngắm lúa vàng đang sắp vào vụ thu hoạch bên dưới. Khi vừa ăn xong, lúc thu dọn chiến trường thì phát hiện ra bên dưới các tảng đá thơ mộng đó là vô số các bãi phân khô (chắc do các du khách đi trẩy hội gửi lại) ở trong các khe đá được phủ những túm lá khô tai tái ngụy trang bên trên nên chả ai phát hiện được. Vậy mà bữa ăn vẫn ngon lành như thường. Thế mới biết cái câu “khuất mắt trông coi” là thế!

2.- Vào mùa xuân năm 1976, tôi cùng Lê Định và Vi Kiến Hoà (Hoà là thân phụ của nhà thơ Vi Thùy Linh) lên làm phim tốt nghiệp ở Trường Thanh Niên Lao Động XHCN Hoà Bình. Được ông Lượng – Bí thư đảng ủy và anh Xum hiệu phó đón tiếp rất thịnh tình và đưa đi quay ở tất cả các cơ sở vừa học vừa làm của nhà trường. Lên phân hiệu 2 rộng mênh mông bát ngát ở Tu Lý – Đà Bắc thấy hàng loạt gốc dâu và gốc canh-ki-na cổ thụ bị đánh bỏ để chổng ngược trên các bờ ruộng ven đường. Hỏi ra thì được biết đó là hậu qủa của các chỉ thị (tùy hứng) của các vị lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước mỗi khi lên thăm nông trường cứ phán bừa là phải trồng cây gì và nuôi con gì khiến thầy trò cả trường bị nhiều phen khốn đốn. Nay không thu được chút lợi ích kinh tế nào đành phá bỏ toàn bộ để quay lại trồng sắn và xu hào cứu đói cho học sinh. Năm 1979 khi tôi xin chuyển về làm việc tại Hãng phim TL&KH TW, kể lại chuyện đó cho anh em nghe, anh Thiệu (lúc đó làm quản đốc) cho biết chuyện đó các anh ấy cũng chẳng lạ gì. Anh kể, hồi ông Tố Hữu còn đương kim trưởng Ban tuyên huấn TW, một hôm xuống thăm Thái Bình, lúc qua phà Tân Đệ, anh lái xe tranh thủ lúc chờ phà chạy đi mua chuối về đãi thủ trưởng. Thời đó ở khắp Miền Bắc chuối tây người ta cắt ra bán theo túm, mỗi túm từ 2 đến 3 qủa. Ông Tố Hữu vừa ăn vừa hỏi anh lái xe kiêm cần vụ là mỗi túm như thế giá bao nhiêu? Anh lái xe nhanh trí nói 3 hào (thực tế là 5 hào) cho thủ trưởng đỡ xót. Vậy mà ông Lành đã nổi cơn tam bành nói: “chết.. chết thật, một túm chuối nhỏ xíu mà giá tới 3 hào, đắt bằng một bữa ăn tập đoàn…”. Ngay sau chuyến đi đó về ông cho gọi tất tật các cơ quan báo đài lên họp (trong đó có xưởng phim TL&KH) và chỉ thị phải ngay lập tức tuyên truyền rầm rộ cho các địa phương phải đẩy mạnh nuôi trồng 3 con và 3 cây. Trong đó chuối là một trong những cây được đặc biệt quan tâm…

3.- Một bộ phim hay khá hiếm hoi của điện ảnh xứ mình – phim Bao giờ cho đến tháng mười, tôi thấy ấn tượng đặc biệt với hình ảnh ông bố chồng cô Duyên (do Lại Phú Cương đóng). Có một chi tiết Đặng Nhật Minh xử lý khá đắt mà tôi để ý chưa thấy các nhà phê bình phim nào đề cập tới. Đó là chi tiết ông già tay run rẩy sờ vào khẩu súng lục đeo bên hông của cái anh bộ đội mà Duyên nhờ đóng giả chồng mình (đã chết) từ Cam-pu-chia trở về vào cái phút lâm chung của ông già đau khổ. Và ông ta đã được mãn nguyện trước khi nhắm mắt xuôi tay để về với tổ tiên. Khi mắt đã mờ nhòa mà bàn tay run rẩy vẫn cố gắng quở quạng chạm được vào cái bao da đựng khẩu súng ngắn anh bộ đội cùng đơn vị (mà cô Duyên nhờ) để cố lừa ông lần cuối (như đã từng lừa ông bằng những bức thư giả mạo nhờ thầy giáo làng viết giúp bấy nay) để mong ông được thanh thản phiêu diêu nơi tiên giới trước khi từ giã cõi trần. Thật kỳ lạ cái đứa con trai giả mạo vừa từ chiến trường khốc liệt trở về với súng lục đeo hông (biểu tượng sự thăng tiến trong quân ngũ) đã khiến ông trào nước mắt sung sướng. Vết thương chiến tranh, vết thương sâu nặng trong tâm con người đau khổ ấy coi như đã được vá lành trong cái phút tử biệt sinh ly! Dù đấy chỉ là một trò lừa của những người thân cùng bất đắc dĩ phải làm…

4.- Chuyện mấy cái phong bì của Phan Chi có đề cập tới việc ông Bách (Trần Xuân Bách) đã bị mấy cái phong bì (nói dối) mà trước khi chết vẫn tấm tắc khen: “Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt”. Những ai đã đọc cuốn Bên thắng Cuộc (Chường 13 – Phần 2 – Quyền bính) thì sẽ càng rõ hơn tại sao lúc ông Bách không còn bổng lộc như thời “lên voi”, bà vợ trẻ của ông cựu Bí thư TW đã phải đi làm thêm vào ban đêm để phụ cho bữa cơm hàng ngày của gia đình đỡ bị bôi bác. Những điều dấu diếm (nói dối) nhỏ đó chắc cũng đã phần nào củng cố cái niềm tin (hão) cho một ông “vua thập thể” khi bị thất sủng vẫn tin rằng chế độ do ông tạo dựng vẫn không đến nỗi qúa cạn tàu ráo máng qúa đối với người đã ngã ngựa như ông. Ông đã nhắm được mắt để về cõi vĩnh hằng.

Ông Lê Hiếu Đằng trong lần tham gia biểu tình với các bạn trẻ (mùa hè 2011)

Ông Lê Hiếu Đằng trong lần tham gia biểu tình với các bạn trẻ (mùa hè 2011)

5.- Mấy hôm nay trên các diễn đàn báo chí quốc doanh như các báo QĐND; Nhân Dân; Đại Đoàn Kết và Công An Nhân Dân đã công kích dữ dội lên bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh… của ông Lê Hiếu Đằng mà không hề dẫn lại nguồn. Khiến tôi phải tìm đọc lại trên mạng một lần cho biết. (Xem  ở đây). Thực ra những vấn đề ông Đằng nêu ra chả có gì mới mẻ cả. Đó thuần túy chỉ là sự công khai quan điểm cá nhân để gọi là “tính sổ” với ĐCS VN và với bản thân… một cách minh bạch, sòng phẳng như cách nói của ông Đằng. Nó như tiếng lòng của một người đã đi theo đảng ngót nửa thế kỷ. Nay quỹ thời gian cũng chả còn được là bao, lại đau yếu bệnh tật. Ông muốn mình và mọi người có suy nghĩ giống ông dứt khoát quan điểm một lần nhằm sửa lại những gì mà ông và đảng của ông đã gieo tai ương (dù vô tình hay cố ý) lên quê hương xứ sở và đồng bào mình. Những lời từ đáy lòng ông như lời một người gần đất xa trời. Như tiếng khẩn thiết của một con chim kêu lên những tiếng bi thương và chân thật trước khi vĩnh biệt sự sống. Vậy mà…

Nếu so với Trần Xuân Bách hay Trần Độ, ông Lê Hiếu Đằng không phải là đối thủ nặng ký của giới chóp bu trong chính quyền CS đương thời. Trong thâm tâm, tôi đảm bảo giới lãnh đạo CS cũng chả thù oán cá nhân gì với một ông già chỉ ở tầm lãnh đạo bậc trung có tư tưởng cấp tiến đã về hưu, từng theo đảng tới già nửa đời người nay không còn tha thiết gì với tổ chức đảng (thời buổi chợ chiều) nữa. Nhưng cái sợ của giới chóp bu là nếu để ngọn cờ tầm tầm bậc trung ấy mà tập hợp được một lực lượng đông đảo các đảng viên ly khai trở thành một lực lượng đối lập nặng ký nhằm cạnh tranh ảnh hưởng về mặt chính trị với ĐCS đang trị vì thì đó sẽ là một tai hoạ nhãn tìền. Vì thế những tên “lính gác” tư tưởng của đảng ở báo QĐND; Nhân Dân; Đại Đoàn Kết và CAND với phương châm “còn đảng còn mình” đã được lệnh tấn công và bôi nhọ bằng mọi giá vào con người và tư tưởng của Lê Hiếu Đằng. Nhằm tiêu diệt cái mầm đối lập (mà đảng không bao giờ chấp nhận) để tránh mọi hậu hoạ về sau.

Như vậy chẳng nói ai cũng rõ, nếu cứ khuất mắt trông coi như vụ dùng xong bữa (mà vẫn thấy ngon) ở đỉnh núi chùa Thầy. Chuyện các gốc cây cổ thụ ở trường Thanh niên LĐXHCN Hòa Bình hay túm chuối đắt hơn cả bữa cơm tập đoàn ở Tân Đệ. Chuyện công kích lại việc “tính sổ” của ông Lê Hiếu Đằng… đã chứng tỏ những “đỉnh cao trí tuệ” của hệ thống quan liêu này luôn độc quyền chân lý và không bao giờ chấp nhận thực tiễn sinh động của cuộc sống đang diễn ra một cách khách quan khoa học hàng ngày.

Bởi bất kỳ thể chế toàn trị nào mà chả muốn bưng bít mọi thông tin và bắt muôn dân phải tin theo một thứ định hướng chủ quan mà không có một phản biện xã hội nào được phép tồn tại và thách thức lại  ý chí sắt đá của tầng lớp cai trị độc quyền. Trong bối cảnh u ám ấy chuyện mấy cái phong bì và những bữa ăn ít biến động trong mâm cơm hàng ngày trong câu chuyện ông Trần Xuân Bách bị thất sủng mà vẫn giàu trí tưởng thật về thể chế và tình người trong cái tổ chức sắt máu (qua câu ngộ nhận: Đảng ta hơn các đảng khác ở chỗ chúng ta vẫn còn nhiều người tốt) đã tự nó nói lên tất cả bản chất của sự việc rồi.

Trong câu chuyện phút lâm chung của ông bố chồng cô Duyên (Bao giờ cho đến tháng mười) lại đem đến cho ta một cảm nhận khác về mối quan hệ giữa thật và giả. Đôi khi sự dối lừa ngọt ngào còn giúp con người ta chữa lành các nỗi đau. Sự tuyệt vọng để giúp nhau cùng tồn tại trong cuộc sống vốn đầy tai ương bất hạnh. Như vậy ai dám bảo bất cứ cái dối gian nào cũng đều đáng trách? Khi những điều bất đắc dĩ ấy nó không chỉ là yếu tố tâm lý, chính trị mà còn tiềm ẩn cả yếu tố văn hóa tâm linh của dân tộc mình ở trong đó nữa.

Mặc dù vậy, đứng về mặt chính danh, một hệ thống mà chuyên dùng bạo lực và lừa mị để biện minh cho sự tồn tại của mình. Hệ thống ấy trước sau cũng sụp đổ. Có điều nó sẽ theo kịch bản nào?

Là con dân luôn nặng lòng với quê hương, ai chả muốn sự chuyển đổi ngọt ngào. Để chả bao giờ phải bị giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…

Gocomay

___

PS:

Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…

– http://boxitvn.blogspot.de/2013/08/suy-nghi-trong-nhung-ngay-nam-binh.html

Ông Lê Hiếu Đằng: Báo Quân đội Nhân dân ‘bỏ bóng đá người’

– http://www.voatiengviet.com/content/ong-le-hieu-dang-bao-quan-doi-nhan-dan-bo-bong-da-nguoi/1735937.html

Sự quẫn cùng về phương pháp định hướng dư luận của ba tờ báo lớn: Nhân dân, Quân đội Nhân Dân và Đại Đoàn Kết

– http://www.basam.info/2013/08/24/1988-su-quan-cung-ve-phuong-phap-dinh-huong-du-luan-cua-ba-to-bao-lon-nhan-dan-quan-doi-nhan-dan-va-dai-doan-ket/

AI VỤNG VỀ HƠN AI?

– http://www.basam.info/2013/08/24/1989-ai-vung-ve-hon-ai/

BÁO QĐND “ĐÓI ĂN VỤNG, TÚNG LÀM LIỀU”?

– http://boxitvn.blogspot.de/2013/08/bao-qnd-oi-vung-tung-lam-lieu.html

LS Trần Vũ Hải gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội bản Dự thảo Ý kiến về Thành lập và Tham gia đảng phái

– http://www.basam.info/2013/08/22/1981-ls-tran-vu-hai-gui-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-ban-du-thao-y-kien-ve-thanh-lap-va-tham-gia-dang-phai/

* * *

QUỶ SỨ, CÒN GÌ MÀ PHẢI GIẤU NỮA CHỨ?!!!

Nhiều sai lầm, lệch lạc trong bài viết trên giường bệnh của ông Lê Hiếu Đằng (09:09:00 24/08/2013)
Sự thật không như những điều anh Lê Hiếu Đằng suy nghĩ (24/08/2013)
“Màn tung hứng” vụng về (QĐND – Thứ Sáu, 23/08/2013, 0:45 (GMT+7)
Khi người bệnh sám hối (23/08/2013)
__________________________

800 – Vụ nhân bản xét nghiệm máu ở BV Đa khoa Hoài Đức do ‘lỗi hệ thống‘?

Chiều chiều ngóng núi Tản Đà

Lòng ta nhớ bạn nước mắt và trộn cơm

“Cả bệnh viện biết đạo đức ông giám đốc nhưng không ai dám nói ra, không ai dám đứng lên đấu tranh. Tôi và tất cả cán bộ trong bệnh viện đã phải chịu đựng quá lâu, đã sống và làm việc quá nhục nhã. Còn nhân dân thì bị nhận một dịch vụ lừa đảo” (Lời chị Hoàng Thị Nguyệt)

“Cả bệnh viện biết đạo đức ông giám đốc nhưng không ai dám nói ra, không ai dám đứng lên đấu tranh. Tôi và tất cả cán bộ trong bệnh viện đã phải chịu đựng quá lâu, đã sống và làm việc quá nhục nhã. Còn nhân dân thì bị nhận một dịch vụ lừa đảo” (Lời chị Hoàng Thị Nguyệt)

Đó là tình cảm thật của tôi mỗi khi nhớ về quê hương, nơi ấy xứ Đoài, nhiều mây trắng lắm!. Nhưng buồn thay, tại cơ sở khám chữa to lớn của huyện “Bạn có thể tưởng tượng được không một bệnh nhân 70 tuổi, chẩn đoán lao phổi, một bệnh nhân 27 tuổi, chẩn đoán áp xe cạnh hậu môn, một bệnh nhân 61 tuổi, chẩn đoán viêm phê quản và một bệnh nhân 12 tuổi, chẩn đoán viêm ruột thừa có chung một kết quả xét nghiệm, chính xác từng dấu phẩy trong các chỉ số, từng phút thời gian xét nghiệm.
Bạn có thể bình tĩnh khi các mẫu máu bị vứt bỏ, còn kết quả được “nhân bản” từ kết quả của một ai đó“.
Một nhà báo quốc doanh vừa viết như thế trên trang cá nhân của mình ở entry Đến Lãn Ông cũng phải… chửi thề. Còn một độc giả trên Vietnamnet đã thốt lên “Thật là không còn gì để nói. Bây giờ người ta sẵn sàng bán tất cả mọi thứ để có tiền, kể cả nhân phẩm, lương tâm, tự trọng”. Sau khi vụ nhân bản xét nghiệm máu ở BV Đa Khoa Hoài Đức – Hà Nội bị phanh phui do chính người trong cuộc làm đơn tố cáo.

“Chuyện này chỉ có thể xảy ra ở xứ lừa, họ đã biến những người dân thành lừa”. Một độc giả khác đã nhận xét trên VNN như thế. Hôm nay tờ LĐ Online mô tả, sáng 8/8, chị Hoàng Thị Nguyệt, kỹ thuật viên khoa xét nghiệm BV Hoài Đức (người đã tố cáo vụ việc), mặc trời mưa như trút nước đã lột guốc dẫn các phóng viên lặn lộn tìm đến tận nhà ba bệnh nhân để tìm hiểu: Một bệnh nhân động kinh đã 20 năm là anh Nguyễn Công Thụ (40 tuổi, đội 5 xã Cát Quế) và hai cháu nhỏ là các cháu Phạm Tuấn Đạt (3 tuổi, cũng ở đội 5, xã Cát Quế) bị viêm phế quản; cháu Nguyễn Đức Khải (11 tháng tuổi, ở thôn Nội, xã Đức Thượng) bị bệnh tiêu chảy. Cả ba đều có chung một kết qủa xét nghiệm. Sau khi gặp anh Thụ và mẹ của các cháu, được biết các “kỹ thuật viên ngoại trú“ do lãnh đạo BV Hoài Đức lập ra đã bùa phép lừa bà con “lấy máu xét nghiệm để… vứt đi“ bằng cách cứa đầu ngón tay lấy máu vào miếng kính (gọi là ‘lam kính‘) tức là là chỉ dùng các tiêu bản này cho việc thử máu đông, máu chảy. Chứ để xét nghiệm huyết học, sinh hóa thì phải lấy máu ở ven mới đủ lượng máu để phân tích (như chị Nguyệt giải thích cho bà con). Khiến mọi người không khỏi bàng hoàng.

mauTheo kết qủa tổng hợp còn chưa đầy đủ thì trong vòng có 10 tháng (từ tháng 7/2012 đến tháng 5/2013 đã có trên 1.000 cặp bệnh nhân có kết qủa xét nghiệm giống nhau (1.000 người được nhân bản thành 2.000 người). Trong đó có nhiều trường hợp chênh lệch nhau qúa nhiều về tuổi tác như các cặp: bà Lương Thị Máng (64 tuổi, xã Song Phương) và cháu Nguyễn Văn Quảng (6 tuổi, xã Lại Yên); ông Nguyễn Trí Mạng (66 tuổi, xã Song Phương) và cháu Nguyễn Ngọc Diệu (11 tháng tuổi, xã Tiền Yên); cụ Nguyễn Châu 80 tuổi, xã Song Phương) và cháu Nguyễn Trang (22 tháng tuổi, xã Đức Thượng); cụ Phạm Sáu (82 tuổi, xã Cát Quế) và cháu Vương Anh (4 tháng tuổi, xã Di Trạch)… (xem ở đây).

Liệu đã ai thống kê được đầy đủ hậu qủa của việc làm của các vị “lương y như từ mẫu“ (thầy thuốc như mẹ hiền) ở bệnh viện này chưa? Bởi “Xét nghiệm máu được coi là một trong những xét nghiệm quan trọng để chẩn đoán bệnh chính xác cũng như phát hiện sớm bệnh. Vì thế kết quả xét nghiệm máu phải rất chính xác. Sai lệch kết quả sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường cho bệnh nhân vì không được chữa đúng bệnh, thậm chí khiến bệnh nhân tử vong”. (Lời GS.TS Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học và Truyền máu T.Ư).

Thảo nào ở các xứ “giẫy chết“, như trường hợp bà xã nhà tôi chả bệnh tật gì ngoài chuyện lượng mỡ trong máu hơi cao một chút, cứ mỗi đợt đi kiểm tra sức khoẻ ở ông bác sỹ gia đình (Hausarzt) là  đều bị lấy tới 3 ống máu (để họ gửi đi xét nghiệm ở 3 nơi khác nhau nhằm so sánh kết qủa). Tuy chả mất đồng xu cắc bạc nào. Nhưng người Việt mình nói chung vẫn cứ ngại đi khám bệnh và lấy máu. Lại còn thích ăn các món khoái khẩu (của thời bao cấp) như móng giò hầm cùng đồ chiên rán nữa. Vì thế, kết quả đợt khám định kỳ (1 năm/ lần) vừa rồi, chỉ số Cholesterin cao vượt ngưỡng 300, khiến ông bác sỹ gia đình phải kê đơn cắt thuốc cho uống và hẹn cứ 6 tháng phải tới kiểm tra định kỳ một lần. Nay đọc báo thấy lùm xùm chuyện “nhân bản xét nghiệm máu“ ở bệnh viện huyện nhà, các bà ấy mới thấm cái câu “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ“ nó nghiêm trọng tới mức nào.

Gương mặt đáng mến của những thầy thuốc xứ "giẫy chết"... (Ảnh GCM chụp ngày 6.5.2011 tai BV huyện Winsen/Luhe - CHLB Đức) *

Gương mặt đáng mến của những thầy thuốc xứ “giẫy chết”… (Ảnh GCM chụp ngày 6.5.2011 tai BV huyện Winsen/Luhe – CHLB Đức) *

Cái khác nhau căn bản về y đức ở xứ “thiên đường“ và xứ tư bản “giẫy chết“ là ngoài Lời thề Hippocrates tụi thầy thuốc các xứ “kém dân chủ gấp vạn lần“ ấy chúng chỉ vì tiền chứ không chịu học tập tư tưởng đạo đức của bất kỳ ai nên chúng không bao giờ dám bày các trò qủi quái để “biến những người dân thành lừa“ như đám thầy thuốc vừa hồng vừa chuyên đỉnh cao trí tuệ“ xứ mình. Câu hỏi được đặt ra là, có phải chỉ duy nhất cái BV Đa Khoa Hoài Đức ở thủ đô ngàn năm văn hiến xứ mình mới có cách kiếm tiền táo tợn như vậy hay đây chính là ‘lỗi hệ thống‘ mà cái bệnh viện nơi cửa ngõ xứ Đoài (BV Đa khoa Hoài Đức) ấy chỉ là một ví dụ sinh động cho các “đồng chí bị lộ“ mà thôi?

Theo mô tả của chị Thúy (Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết 2 lần chị làm xét nghiệm tại 2 bệnh viện nhưng cho 2 kết quả khác nhau. Một lần nhóm máu B, một lần nhóm máu O. Cơ quan chị cũng có vài người bị như vậy và giờ không biết mình thuộc nhóm máu nào. Một nạn nhân khác kể rằng rằng: “Mẹ mình cắt túi mật từ chục năm nay, khi nào siêu âm bác sĩ cũng biết là không còn túi mật. Vậy mà đi khám ở một bệnh viện Quân y nọ, bác sĩ ghi “Túi mật không sỏi, vách mỏng…”. Mẹ bị gan nhiễm mỡ nặng thì đợt này lại không thấy.

Hỏi lại bác sĩ, bác sĩ bảo “bà vào tôi siêu lại”. Xong bác ấy ghi “Túi mật đã cắt”, “gan nhiễm mỡ” rồi đưa lại và bảo “bà nói đúng đấy, bà đã cắt túi mật và gan nhiễm mỡ nhé!”… Độc giả Đàm Huy (VNN) còn chỉ rõ: “70% bệnh viện vì lợi nhuận, 20% bệnh viện làm cho có và 10% còn lại là vì mục đích chữa bệnh thực sự”. (Xem ở đây)

Qua đó cho thấy việc “biến những người dân thành lừa” không còn là sự cá biệt ở một bệnh viện nào. Chuyện vỡ lở ở BV Đa Khoa Hoài Đức chỉ như giọt nước tràn ly. Nếu không có người trong cuộc dũng cảm (như KTV Hoàng Thị Nguyệt) khai thật tụi “cán bộ nằm trong đống rơm“ thì có lẽ tới mùa quýt cũng không ai đụng được tới lông chân của chúng.

Chỉ xét riêng ở địa bàn Hoài Đức thôi, cũng không phải chỉ một lĩnh vực y tế là có tiêu cực. Mà nhũng nhiễu đã trở thành “chuyện thường này ở huyện“ từ lâu lắm rồi. Kẻ đang viết bài này cũng đã từng là nạn nhân, mục sở thị chứng kiến những hành xử nhũng nhiễu của đám quan huyện tại quê mình nên chẳng hề lạ. Như vào đầu xuân Nhâm Thìn – 2012 vừa rồi, được nhận thừa kế, tôi có về quê để làm thủ tục đứng tên sở hữu (sổ đỏ) hợp pháp trên miếng đất kỷ niệm mà cha mẹ di chúc lại cách đây từ ngót 30 năm, trước khi các cụ về đất Phật. Bắt tay vào làm thủ tục. Tôi mới vỡ lẽ mảnh đất ở của tôi đã được các quan huyện cấp bừa sổ đỏ trái pháp luật cho người khác (dù bản di chúc tôi còn giữ có xác nhận của chính quyền địa phương).

Cán bộ Địa chính xã tới đo đất để hoàn chỉnh hồ sơ tách sổ đỏ cho gia đình tôi... (Ảnh GCM chụp ngày 13.01.2012)

Cán bộ Địa chính xã tới đo đất để hoàn chỉnh hồ sơ tách sổ đỏ cho gia đình tôi… (Ảnh GCM chụp ngày 13.01.2012)

Để khắc phục hậu qủa, theo hướng dẫn mới của Phòng Tài nguyên Môi trường (TNMT) huyện Hoài Đức, muốn tách sổ đỏ một cách nhanh gọn thì phải theo thủ tục chuyển nhượng lại (dù ai cũng biết chỉ trên hình thức giấy tờ). Sau khi hoàn chỉnh bộ hồ sơ (có công chứng) nộp lên bộ phận Một cửa của huyện, tôi nhận được giấy hẹn đúng một tháng sẽ lên lấy kết qủa. Vậy mà tới nay đã một năm rưỡi trôi qua, các quan huyện vẫn khất lần lữa với lý do “bận“ hay còn “đang chờ lãnh đạo phê duyệt“. Hôm vừa rồi thấy người ủy quyền có công chứng (chú em họ) của tôi nói lên tìm cái tay trực tiếp giải quyết hồ sơ cấp sổ đỏ ở Phòng TNMT của huyện Hoài Đức thì không bao giờ gặp được. Nhân viên thì nói “tại vì làm hồ sơ theo diện chuyển nhượng quyền sở hữu đất đai nên còn phải chờ kết qủa kiểm tra… do đó không thể làm nhanh như thủ tục tài sản kế thừa của bố mẹ cho con cái“ như lúc ban đầu. Thế mới thấy các quan huyện Hoài Đức thật lắm lưỡi. Khi họ cố tình bày ra các thủ tục vòng vo tam quốc để làm rối rắm các bộ hồ sơ. Sau đó lại sách nhiễu làm khó người dân từ chính các thủ tục “rắn vẽ thêm chân“ ấy để vòi tiền “bôi trơn“. Nghe nói mỗi quyển sổ đỏ ấy, muốn nhanh đều phải đưa tiền cho tụi “cò“ do chúng thiết lập từ 30 tới cả trăm triệu tùy theo giá trị hiện hữu của mảnh đất. Bằng không cứ phải “chờ“ không biết tới bao giờ. Đã đến nước này, tôi nói với người được ủy nhiệm: “Đằng nào cũng chậm rồi, ta đành thi gan với nhà quan theo kiểu “quan cần (tiền) nhưng dân không vội, quan có vội quan lội quan sang xem sao“…

356447_400Trở lại chuyện làm bậy ở BV Đa khoa Hoài Đức, nếu tay giám đốc BV không có thế lực chống lưng mạnh ở giới chóp bu cả về đảng lẫn chính quyền ở huyện Hoài Đức thì làm sao tay này dám làm càn như bà Hoàng Thị Nguyệt mô tả với phóng viên báo TPO và VNN“Ông Nguyễn Trí Liêm không phải là vị lãnh đạo tạo được môi trường làm việc trong sạch, đoàn kết… đã làm hỏng một thế hệ các cháu là nhân viên trẻ khi cho các cháu được toàn quyền làm việc sai trái. Lúc đầu mới đến thì các cháu biết lắng nghe người lớn. Nhưng khi được giám đốc trao quyền quá nhiều và lại làm láo như thế thì các cháu hư đi rất nhanh, bản thân các cháu không còn biết đâu là đúng sai phải trái. Bản thân tôi và một số đồng nghiệp đã không được ông Liêm cho trực sau khi ông Liêm biết tôi có ý không ủng hộ đường lối của ông (“nhân bản” xét nghiệm)”

Ngoài bà Nguyệt, cả phó giám đốc bệnh viện lẫn trưởng khoa X-Quang cũng từng bị ông Liêm mắng chửi, tát trước mặt bệnh nhân. Thậm chí, vị giám đốc này còn “xì hơi xe máy” của nhân viên bệnh viện vì có khúc mắc cá nhân…

Trong đơn tố cáo gửi cơ quan chức năng, bà Nguyệt viết rằng, Giám đốc BV đã chia cán bộ xét nghiệm thành hai bộ phận nội trú (gồm 3 cán bộ chính quy, phụ trách máy móc Nhà nước đầu tư) và bộ phận ngoại trú (gồm trưởng khoa và 4 nhân viên hợp đồng, 1 y tá chưa hết tập sự, phụ trách máy móc tư nhân).

Trong khi bộ phận nội trú không có nhiều việc để làm, bộ phận ngoại trú làm không hết việc và đại đa số bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế. Theo bà Nguyệt, bệnh nhân quá đông (200-300 bệnh nhân/ngày) nên mới dẫn đến chuyện trả kết quả xét nghiệm khống. Việc làm trên nhằm móc túi, bòn rút tiền bảo hiểm.

À thì ra số tiền còm cõi của qũy bảo hiểm y tế cũng là miếng mồi ngon cho bầy sâu thả sức đục khoét.

Trung tâm Thể dục thể thao (TDTT) huyện Hoài Đức có tổng diện tích 5,6 ha với nhiều hạng mục được thiết kế quy mô, hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tổng chi phí đầu tư công trình này là 200 tỷ đồng (10 triệu $ USD)

Trung tâm Thể dục thể thao (TDTT) huyện Hoài Đức có tổng diện tích 5,6 ha với nhiều hạng mục được thiết kế quy mô, hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tổng chi phí đầu tư công trình này là 200 tỷ đồng (10 triệu $ USD).

Cũng như chuyện báo giới thời gian qua phanh phui việc huyện Hoài Đức vừa mạnh tay chi ra cả chục triệu USD từ ngân sách nhà nước để xây Trung tâm TDTT hiện đại mà ít hiệu qủa. Không biết cái ‘lỗi hệ thống‘ đó là để thỏa mãn thói “chơi trội“ kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy“ hay đây chính là bùa phép để các quan tham ở Hoài Đức và TP Hà Nội chấm mút? Trong khi đời sống nhân dân trong điạ bàn huyện còn vô vàn khó khăn.

Để kết cho entry này, xin dẫn lại lời của một người trong cuộc (ông Nguyễn Đình Lân, Phó GĐ Sở VHTT&DL) rằng: Tôi đang quản lý sân vận động Hàng Đẫy có 1,9 vạn chỗ ngồi mà suốt từ Tiger Cup 1998 đến nay chưa bao giờ đầy mặc dù có nhiều trận đấu rất hay. Vậy mà cấp huyện lại xin xây sân vận động tới 2 vạn chỗ thì chỉ để nuôi dê thôi chứ để làm gì?“

Nuôi dê không biết có phải thế mạnh của Hoài Đức không. Nhưng qua chuyện đau lòng vừa được phanh phui ở BV Đa Khoa Hoài Đức thì rõ ràng cái đám “đầy tớ nhân dân“ ở cái huyện cửa ngõ xứ Đoài mây trắng này đang biến thần dân của mình thành đàn lừa đông đảo rồi còn gì?!

Gocomay

___

PS:

604-Họa phúc của tôi nơi xứ người

_________________________

380 – Sống… trong đời sống cần có một tấm lòng (*)

Nơm úp cá trên đường Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Nội – Nguồn: VNN

Hôm nay xem báo chính thống trên mạng thấy có câu này, nghe hay: “lạy trời, đừng nâng đường trước cửa nhà tôi” (**)!

Đó là lời cầu xin của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trước cảnh nhà cửa của họ bị triều cường ngập ngụa. Bởi nhiều con hẻm ở TP HCM trước khô ráo, nay bỗng trở thành ao. Nguyên do, ngoài kia đường nâng bao nhiêu, nhà dân ngập trong này bấy nhiêu.

nang_nen_tht_TNLINH%20-%20Copy.jpg

Đường Nguyễn Thị Thập (quận 7) đang được nâng cao gần cả mét  Ảnh: TNLinh 

Nhưng đó cũng là nỗi lo của người dân đô thị trên khắp cả nước mình. Vì vấn nạn qui hoạch đô thị manh mún, vô tổ chức, thiếu minh bạch…  như thế không chỉ phổ biến ở duy nhất một địa phương cụ thể nào. Như các khu trung cư và đô thị mới ở Hà Nội chẳng hạn. Ai cũng thấy, cứ sau mỗi trận mưa hơi to một tí là đường phố Thủ đô hóa thành sông. Nhiều nhà dân có khi chìm hàng thuớc như cảnh vỡ đê thời xa xưa vậy.

Ai sẽ trả lời câu hỏi này? Nếu không phải tôi, anh, chúng ta và đặc biệt những người quản trị đất nước trên vị trí thượng tầng.

Liên hệ từ làng quê nhỏ bé của tôi thôi. Làng vốn được lập trên một gò đất rộng hình dáng con cá giếc (cá chép) nổi lên giữa một vùng nước trũng mênh mông. Cư dân đầu tiên tới lập làng là dân tứ chiếng, tàn binh cuộc khởi nghiã của Hai Bà Trưng thất bại ở Mê Linh dạt về… (thấy trong cuốn sách do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia của Hoàng Kim Đáng ghi thế). Từ khi người Pháp xây dựng con đường quốc lộ (dân quê tôi gọi là đường cái mới) xuyên qua sát phía Bắc của làng ( QL 11A – nay là đường QL 32 nối Hà Nội với Sơn Tây thì cánh đồng làng tôi bị ngăn ra làm đôi. Khiến khu đồng trũng phía Đông Bắc của làng (Đồng Sai; Trũng khoai) luôn là một cái túi chứa nước. Hàng năm cứ tới mùa mưa, nước mưa dồn từ đồng Đăm, đồng Gối về, dù có trổ những cống tiêu úng qua đường (cống Lều; cống Đình Diệc và cống sau Chùa Do) mà cũng không thoát nước kịp, nên nhiều phen dân làng phải đi mò lúa ướt (chưa kịp thu hoạch) ở khu Đồng Sai là vậy. Thời còn ở làng, nhà ở sát đình, tôi được chầu rìa hóng chuyện không biết bao nhiêu cuộc họp của cán bộ địa phương, hợp tác xã bàn các biện pháp chống úng ngập cho 120 mẫu lúa chiêm chưa gặt hay lúa mùa đang thì con gái ở khu cánh đồng trũng này.

Trong làng dù mưa to đến đâu cũng chả bao giờ ngập được cả. Nhờ xung quanh rìa làng là một hệ thống hồ ao san sát. Các ao hồ này lại được nối với con kênh thoát nước hình cánh cung bao quang rìa làng tiêu nước ra hệ thống mương máng ngoài đồng, nên dù mưa to bao nhiêu, mọi nhà đều chả bao giờ lo ngập. Trên cánh đồng làng cũng thế, trừ cái năm vỡ đê Hoàng Mạc (năm Ất Mão-1915), chả bao giờ làng quê tôi phải bì bõm “sống ngâm da chết ngâm xương” như các vùng chiêm trũng Hà-Nam-Ninh.

Những ngày này, thấy trên mạng quảng cáo, làng quê tôi đã được lọt vào mắt xanh “qui hoạch”của nhà nước để nâng cấp từ làng lên phố… thuộc quận Thăng Long 9! Về cơ bản ai cũng mừng. Không mừng sao được, xưa kia tuy cách Hồ Gươm không xa (chỉ 15 Km) nhưng mỗi dịp mùng 2/9 ra cổng làng (cổng ngoài) để xem bắn pháo hoa, thấy sự cách biệt giữa làng và phố là một trời một vực. Dân làng tôi vẫn bảo nhau “địa chủ nhà quê không bằng ngồi lê ở tỉnh” (người buôn bán hàng rong ở Hà Thành vẫn khấm khá hơn người giàu có ở làng quê). Hôm nọ thấy ông em họ gọi điện thoại từ Đông Đức sang, bông đùa “anh bây giờ về làng phải cẩn thận!… tỷ phú nhan nhản trên đường làng, anh mà chào hỏi không lễ phép là mang tội đấy” (ý nói nhờ được qui hoạch đô thị, đất cát có giá… nhờ bán đất mà nhiều cư dân giàu, phất lên nhanh chóng). Thấy thế cũng mừng. Nhưng hỏi thăm cô em họ ở làng, thì được biết các khu đồng trũng quanh làng bây giờ người ta đang đổ cát tôn cao hàng thước để mời gọi đầu tư… xây đô thị nên làng hễ cứ mưa to là ngập ngụa, chứ không còn khô ráo như trước nữa… thì lại đượm buồn.

Mấy năm trước sang Bắc Ninh thắp hương cho ông chú (chồng bà dì họ) mới mất, thấy cái đình làng Lã (Từ Sơn-Bắc Ninh) bây giờ lọt thỏm xung quanh những ngôi nhà cao tầng, thì thương vô cùng. Sân đình xưa cao là thế mà nay cũng thấp hơn cốt nền nhà dân và đường làng. Thánh thần thời nay cũng chịu thua cái thói qui hoạch mạnh ai người ấy làm như thế.

Nhớ khi xưa, cha ông ta ít học, tư tưởng phong kiến lạc hậu cổ hủ nhưng đã xây dựng được những công trình đình chùa tuyệt mỹ. Bây giờ chắc gì con cháu học rộng hiểu nhiều đã ăn đứt được các cụ. Cách nghĩ của người xưa đơn giản nhưng rành mạch. Đã là nền nhà, sân nhà thì bao giờ cũng phải cao hơn hay ngang bằng với cao độ của đường làng. “Nước chảy chỗ trũng”; “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”… là những qui luật tự nhiên và nét đẹp trong văn hoá ứng xử của con người. Vậy nên, hễ xây nhà ở chỗ đất thấp, dù xây trước xây sau cũng không bao giờ cản trở đường nước chảy tự nhiên của đất trời làm ảnh hưởng đến những nhà xung quanh. Ngôi đình làng, thường được ngự trên khu đất cao và nằm ở trung tâm của làng. Đình là ngôi nhà chung của dân làng nên bao giờ cũng to lớn, mái đình, nóc nhà của làng với những đầu đao bề thế cong vút vươn ra bốn phía như biểu dương sức mạnh của cộng đồng. Cho nên nhà dân (đặc biệt quanh khu đình) không bao giờ được xây cao hơn mái đình. Quan điểm nhà không được cao hơn đình chùa, ngày nay không còn phù hợp nữa. Nhưng qua đó cho thấy cha ông ta dù không hiểu cốt (cao trình) của một khu dân cư là gì nhưng họ luôn coi sân đình như cốt chuẩn của làng để cả làng luôn được sống an vui theo cả nghiã bóng lẫn nghiã đen. Thiết nghĩ đó chính là Lệ làng” (luật thành văn và bất thành văn) giúp mọi cư dân có thể sống với nhau một cách chan hòa trên cơ sở tôn trọng nghiêm những quyền lợi chung.

75_big.jpg

Đình Chu Quyến (Đình Tràng) ở xứ Đoài Hà Nội – Nguồn: wikimapia.org

Bàn về chuyện này, tôi xin kể một câu chuyện nhỏ ở xứ người. Cũng như cư dân theo Nho-Phật-Lão xứ mình, cư dân các nước Âu châu đa phần theo đạo Cơ đốc hay Tin lành. Một xóm nhỏ bao giờ cũng có một tháp chuông nhà thờ vươn cao ở vị trí tâm điểm của khu dân cư. Còn ở các đô thị (nhất là đô thị mới) thì không hẳn thế. Chưa chắc gác chuông nhà thờ đã cao hơn được các khu nhà ở xung quanh. Ở nhiều nơi còn xẩy ra cả sự kiện cáo giữa cư dân sống quanh nhà thờ với các hồi chuông gây huyên náo của nhà thờ vào 10 giờ sáng ngày Chủ nhật hàng tuần. Người dân đưa ra lý do đêm thứ bảy mọi người thường sinh hoạt (vui chơi, tiệc tùng khuya), có người còn phải đi làm ca đêm tới 6 giờ sáng mới về… nên chuông nhà thờ mỗi sáng Chủ nhật đã làm hỏng giấc ngủ đang ngon, khiến họ bất bình. Các vụ kiện đều được các tòa án các cấp xử lý một cách triệt để, minh bạch và công bằng. Cùng một tính chất, nhưng nhiều vụ tòa xử cư dân thua, trái lại cũng có vụ phía nhà thờ thua, phải chấm dứt kéo chuông hay chỉ được kéo chuông một năm hai lần vào dịp Giáng sinh (tháng 12) và Phục sinh (tháng 4) mà thôi. Các vụ kiện tụng như thế tòa thường căn cứ vào việc nhà thờ xây trước hay khu cư dân (có đơn kiện) xây trước? Nếu nhà thờ xuất hiện trước thì dân thua, ngược lại thì dân thắng. Chính vì sự phức tạp này mà hiện nay, hầu hết những nhà thờ xây mới (hay kể cả các chùa của người Á châu) chỉ được cấp phép xây dựng khi có sự đồng thuận của cư dân sống quanh nơi các công trình tôn giáo sẽ tọa lạc. Các bãi đậu xe ô tô; các khu công nghiệp; các khu siêu thị lớn; khu vui chơi giải trí; các đường xá mới mở hay chỉnh sửa, nắn… nếu gần các khu dân cư… đều cần có sự đồng thuận của dân bằng phiếu trưng cầu gửi tới tận tay từng hộ gia đình hoặc niêm yết công khai ở nơi công cộng và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các khu đô thị mới mở, toàn bộ đường xá, nhà cửa xây cất mới (dù to hay nhỏ) đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định chung để không phá vỡ cấu trúc tự nhiên và qui hoạch tổng thể của từng vùng. Đặc biệt công trình xây sau không được ảnh hưởng tới các công trình xây trước, cốt không nâng cao hơn gây úng ngập cho các công trình xung quanh. Tất cả phải theo đúng qui hoạch rất nghiêm ngặt do nhà nước thống nhất quản lý và giám sát.

Liên tưởng tới việc qui hoạch đô thị ở xứ ta, đi sau, đúng lẽ ra phải học hỏi rút kinh nghiệm của các nước đi trước để làm tốt hơn họ hay chí ít bằng họ. Nhưng thực tế ra sao thì xin mọi người cứ khách quan mà suy xét. Kẻ viết những dòng này chả có mong muốn gì hơn, là góp một tiếng nói nhỏ nhoi, yếu ớt để cảnh tỉnh mọi người, nhất là các đấng cao xanh (bên trên) hãy biết thương lấy chính mình, thương lấy quê hương xứ sở của mình khi mọi việc chưa qúa muộn. Để muôn đời con cháu chúng ta được sống trong thái bình an lạc.

Lan man tới đây, bỗng lại nghe văng vẳng đâu đó phát ngôn, hình như nhời của một đại quan thì phải! Quan phán rằng: “qui hoạch là ý chí của quyền lực”. (Bởi chỉ có quền lực thì cái bùa “qui hoạch” mới úm ba la biến hóa thần thông biết bao thửa “bờ xôi ruộng mật” do mồ hôi nước mắt và cả máu xương của biết bao thế hệ tiền nhân hàng ngàn năm mới tạo dựng được… thành “đất công”. Sau đó lại hóa phép đất đai “sở hữu toàn dân” – “đất công” ấy trở thành sở hữu của tập đoàn lợi ích thông qua cái gọi là “Dự án” quốc kế dân sinh mỹ miều này nọ… thực chất là biến cái tài sản “toàn dân” – vô chủ kia thành tài sản riêng của những người lắm chức nhiều quyền).

1269575392Ditrach20%20thu%20nho.jpg

Qui hoạch Khu Đô Thị Thăng Long 9 trên giấy – Nguồn: //thanglongditrach.com/

Rồi lại nghe văng vẳng thấy lời răn đe của “quyền lực” thông qua miệng của chính người thân từ quê hương nhắn sang: “đừng viết lách gì đưa lên mạng nữa… ai người ta thèm xem… được cái gì?… ăn thua gì?… mà mang họa vào thân…  lại thấy đượm buồn. Thì ra, dân vẫn gian. Mà quan vẫn cứ tham. Tham vô độ! Không tham được thì ai còn muốn làm quan nữa? Còn thảo dân đa số chỉ biết an phận. Chỉ khoái phù thịnh mà chả bao giờ muốn phù suy?

Vậy nên, dù biết tài hèn sức mọn chẳng thể “đội đá vá trời” được, với lại cũng chả ai mướn, ai cầu mong mình làm cái việc vô công dồi nghề như thế này. Nhưng mỗi khi bất lực, chán nản hay tuyệt vọng. Lại thấy hồn thiêng sông núi, linh khí của tiên tổ âm ỉ vọng về. An ủi, khích lệ và động viên những kẻ có tâm, còn chút tha thiết với giống nòi… 

Nay xin có dăm câu ba điều phải quấy hay giãi bày như vậy! Ai nghe được thì nghe. Ai không nghe thì thôi. Dù có bị người đời ghét bỏ, kẻ hèn mọn này cũng chẳng dám thù ghét hay oán thoán bất cứ ai, bất cứ điều gì. Bởi bụng vẫn luôn bảo dạ rằng: Sống… trong đời sống cần có một tấm lòng/ Để làm gì …?/ Để gió cuốn đi…. để gió cuốn đi … để gió cuốn đi… !!!

Gocomay

——-

(*) Lời bài hát “Để gió cuốn đi” của Trịnh Công Sơn

(**) Đường tôn cao đến đâu, nhà dân lụt đến đó – http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/www.baodatviet.vn/Duong-ton-cao-den-dau-nha-dan-lut-den-do/5016337.epi

____________________________

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ