865 – Nén tâm nhang muộn cho anh Lê Quốc và bạn đồng niên Phạm Tiến Khang!

853 – Tản mạn cuối năm về nghề phó nháy

828 – Con đường lên cao nguyên Lang Bi-an

tPo4lzTAk3gBfo94aK4OQANhững ngày cuối tháng 4 cách đây đúng 29 năm, nhân có chuyến công cán của bác sỹ Trâm, Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang vào TP Hồ Chí Minh họp, nhóm làm phim dịch hạch được kết hợp theo xe vào Sài Gòn.

Con đường chúng tôi đang đi, thời Ông Năm Yersin mới đặt chân tới Việt Nam, di chuyển đâu có thuận tiện như bây giờ.

Trước khi trở thành một nhà bác học danh tiếng và dành toàn bộ tâm lực cho nghiên cứu khoa học, Yersin đã để nhiều năm lao vào các cuộc thám hiểm.

Những trang nhật ký hiện còn lưu trữ ở Pasteur Nha Trang cho thấy, từ hạ tuần tháng 10 năm 1890, bác sĩ Yersin làm y sĩ phục vụ trên tuyến đường Sài Gòn-Manila. Đến tháng 4 năm 1891, ông chuyển sang làm y sĩ trên tàu “Saigon”, hoạt động trên tuyến đường biển Sài Gòn – Hải Phòng. Cuộc sống trên tàu đối với một y sĩ trẻ, có lẽ buồn tẻ. Để giết thì giờ, Yersin tập làm quen với khoa hàng hải. Ông đặt mua từ Pháp một máy kinh vĩ (théodolite) và trong lúc rảnh rỗi, ông tập sử dụng máy trên bến Nhà Rồng ở Sài Gòn.

Nha Trang là một trong những trạm dừng của tàu “Saigon”. Ngay từ lúc đầu, cảnh đẹp của Nha Trang đã hấp dẫn Yersin. Rặng núi cao ở chân trời phía Tây quyến rũ, khiến chàng bác sỹ trẻ nảy sinh dự định dùng đường núi để đi từ Nha Trang đến Sài Gòn trong vòng mười ngày!

Ngày 29.7.1891, được phép của thuyền trưởng tàu Sài Gòn, Yersin và người hầu bắt đầu chuyến thám hiểm đầu tiên. Nghe lời khuyên của công sứ Pháp ở Nha Trang, Yersin dùng ngựa đi vào Phan Rang. Mục tiêu khám phá là rặng núi cao mây phủ phía tây. Nhưng ông đã phải loay hoay suốt dải đồng bằng hẹp miền trung như thế để dò la và tìm lối đi thuận tiện cho cuộc hành trình.

Chuyến thám hiểm bất thành năm 1891 không làm Yersin nản chí, ngược lại còn kích thích lòng say mê mạo hiểm nơi ông. Cuối năm 1891, ông rời hãng tàu Messageries Maritimes để thực hiện chuyến đi của mình. Ông tiếp tục chuyến thám hiểm như thế kéo dài tới bốn nǎm ở miền trung. Ông đã tìm ra thượng nguồn sông Đồng Nai và khám phá cao nguyên Lâm Viên, nơi ông đề nghị xây dựng một đô thị, đó chính là Đà Lạt ngày nay.

Vào tới Thành Phố Hồ Chí Minh, nhóm chúng tôi được giới thiệu làm việc với bác sỹ Phạm Xuân Long, người trực tiếp theo dõi các phác đồ điều trị và hiện trạng của bệnh dịch hạch của Viện Pasteur Sài Gòn ở các tỉnh phía nam. Thành Phố HCM hồi đó còn khó khăn lắm. Dân chúng vẫn phải ăn bo bo độn cơm. Nghèo đói, dịch bệnh, trong đó có dịch hạch vẫn lẩn quất quanh đây. Tránh gây hoang mang cho dân chúng và du khách dịch bệnh không bao giờ được công bố. Vì thế việc làm phim của chúng tôi không bị cản trở mà cũng chẳng được hoan nghênh.

Trước bế tắc đó, bác sỹ Phạm Xuân Long rỉ tai tôi: “muốn cải thiện được tình hình, các ông nên nên vận động thuyết phục được hai trưởng lão hàng đầu về dịch tễ là Hoàng Thuỷ Nguyên và Đặng Đức Trạch, các ông ấy sẽ bay từ Hà Nội vào dự Hội nghị Tổng kết công tác vệ sinh phòng dịch toàn quốc ở Sài Gòn lần này đấy! Nếu có ý kiến ủng hộ của hai bậc cây đa cây đề đầu ngành, thì đảm bảo các ông sẽ thuận lợi hơn…”.

Tôi liền gặp bác sỹ Trịnh Quân Huấn và bác sỹ Lê Diên Hồng (*) vừa bay từ Hà Nội vào chuẩn bị cho hội nghị để nhờ vả. Đốc tờ Hồng là Cố vấn Khoa học cho phim, nên ông nhận lời ngay. Sau hội nghị, buổi tối hôm đó, bác sỹ Phạm Xuân Long hẹn tôi, Sinh, Khang và Nhung tới chơi ở nhà riêng ở đường Điện Biên Phủ. Vừa trông thấy tôi, Phạm Xuân Long đã lắc đầu buồn rầu nói, trước lúc khai mạc hội nghị, trong cuộc gặp gỡ xã giao giữa các tai to mặt lớn trong ngành thì Lê Diên Hồng có đưa ra bàn việc giúp đỡ cho đoàn làm phim dịch hạch của các ông. Nhưng không hiểu sao cụ Trạch lại vờ như không nghe thấy và đưa chuyện bóng đá ra bình luận sôi nổi. Khiến ông Hồng cụt hứng mà không bàn được câu nào nữa. Sau này tôi mới biết vị GSTS danh tiếng về vi trùng (Đặng Đức Trạch) này lại là bạn rất thân với khắc tinh Lương Đức của tôi. Không biết có phải vì như vậy mà công việc của chúng tôi bị ghẻ lạnh hay không? có lẽ chỉ có các vị ấy mới trả lời được câu hỏi này. Trước tình hình đó, tôi đành phải áp dụng kiểu “chiến tranh du kích” mà “trường kỳ kháng chiến“ vậy.

Càng giáp ngày 30 tháng tư, Sài Gòn bận lo kỷ niệm 10 năm ngày giải phóng, nên chẳng cơ quan nào nhận lời giúp chúng tôi quay phim, ngay cả khách sạn bình dân Bến Nghé, nơi quen thân với hãng phim như người nhà cũng từ chối, vì chật kín khách thập phương. Chúng tôi lang thang các nhà trọ với cơm bụi bà Cả Đọi (32 Ngô Đức Kế) mà chẳng làm được việc gì, đành tính nước “mã hồi“.

Sau khi tiễn chị Nhung, là thu thanh của phim ra Hà Nội nhận công việc mới, chúng tôi theo xe (vừa tan hội nghị) của Viện Pasteur Đà Lạt lên cao nguyên Lang Bi-an. Cảnh quay ở Pasteur Đà Lạt không nhiều. Nhưng tránh Sài Gòn lúc này là giải pháp hợp lý nhất cho tình huống bất lợi đang diễn ra.

Từ Sài Gòn theo quốc lộ 20 chừng 300 cây số là đến Đà Lạt. Con đường hai bên ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Vượt qua mấy cung đường dốc đứng tai ù, xe đã đưa chúng tôi tiến dần vào thành phố. Vào hạ, nắng vàng ươm trên con đường quanh co. Hương thông thơm hăng hắc, những tán thông xanh đu đưa trên nền trời và như nô đùa cùng nắng chiều trên mặt đường lấp loáng xe bon. Xế chiều, Đà Lạt bất chợt hiện ra. Xa xa bảng lảng sương trong ánh hoàng hôn và gió ngàn vi vu. Phố núi thoắt ẩn hiện sau những khúc quanh. Đà Lạt nom như một bức tranh thủy mạc. Mẹ thiên nhiên đã ban tặng cho Đà Lạt qúa nhiều ưu ái hay sao mà nơi đây không khí mát mẻ quanh năm với rừng thông bạt ngàn, những vạt hoa cúc qùy như bất tận hai bên đường đi. Xen kẽ vô vàn biệt thự lô nhô trên các sườn đồi cao thấp theo phong cách kiến trúc của Âu Châu tọa lạc sau các tán thông già.

Hotel  Sofitel Dalat Palace

Hotel Sofitel Dalat Palace

Lên Đà lạt lần này là lần thứ 3, cách đây gần 5 năm, đi chung với đoàn thám hiển Intercosmos tôi đã được ngự trong những Hotel sang trọng nhất – Sofitel Dalat Palace, nằm trên qủa đồi nhìn xuống Hồ Xuân Hương thơ mộng. Lên Đà Lạt lần này, chúng tôi được bố trí ở nhà khách của Viện Pasteur. Để tránh làm phiền, tôi bàn với Sinh và Khang chỉ ngủ trọ tại nhà khách. Còn ăn thì kéo nhau ra chợ Đà Lạt ăn cơm bụi. Vừa rẻ lại vừa hợp khẩu vị. Cũng món rau xanh, mà sao ở đây ăn cảm thấy tươi ngon lạ. Do thiên nhiên cao nguyên trong lành quá, hay món rau ở Đà Lạt hơn hẳn mọi nơi khác. Có lẽ do cái không khi dịu mát và còn cả leo dốc cuốc bộ nhiều, mau đói, nên chúng tôi cảm thấy ngon miệng hơn chăng?

Tranh thủ thời gian lưu lại ở cao nguyên Lang Bi-an chờ cho qua cái dịp lễ lớn 30 tháng tư, tôi lại say mê với các đống tư liệu (có lẽ ít người để ý) mô tả về những chuyến thám hiểm cao nguyên Lâm Viên của ông Năm-Yersin hồi đầu thập niên 90 của thế kỷ 19, được lưu giữ khá đầy đủ ở ngay trong Chủng viện Pasteur Đà Lạt này.

Đây rồi, trong một ghi chép tôi đọc được: Ngày chủ nhật 3.8.1891, Yersin cùng với người hầu và bốn phu khuân vác đi vào vùng núi. Lương thực mang theo chỉ có vài hộp thịt bò muối và vài hộp bánh quy khô, cộng thêm một số lương thực do các quan chức người Việt ở Phan Rí cung cấp thêm. Lúc đó đang vào mùa có gió mùa Tây Nam, mỗi ngày đều có mưa rào lớn. Yersin đi theo đường mòn từ làng Kalon ở chân núi qua Ta Ly đến Ta La (vùng phụ cận Djiring). Nơi đây, ông thấy không thể tiếp tục đi được nữa, vì cuộc hành trình đòi hỏi ít nhất từ 9 đến 10 ngày đi bộ trong khi đã cận ngày ông phải lên tàu đi Bắc Kỳ. Mặt khác, ông đang lâm vào tình trạng khá tồi tệ: giày vớ rách bươm, dáng vẻ mệt mỏi. Do đó, ông quyết định đi đến địa điểm gần nhất là Phan Thiết: từ đó ông trở về Nha Trang bằng ghe và kịp lên tàu đi Quy Nhơn.

Trên thực tế, có một người Việt tên là Nguyễn Thông (1827-1884) và hai người Pháp là Néil và Albert Saptens đã từng đặt chân tới cao nguyên Lang Bi-an, tuy nhiên sự hiện diện của họ không để lại một dấu ấn gì. Chuyến đi lịch sử của nhà thám hiểm trẻ tuổi Yersin vào cuối năm 1891 từ làng Kalon sát chân dãy Trường Sơn Nam (nay thuộc Phan Sơn, Bắc Bình, Bình Thuận) đã băng qua vùng rừng núi đầy hiểm trở Tánh Linh, Phan Rí, Phan Rang… kéo dài nhiều tháng để rồi dừng chân ở mảnh đất đầy thơ mộng Đà Lạt.

Năm 1897, ông đề xuất với Toàn quyền Đông Dương, Paul Dumer, chọn Đà Lạt làm điểm xây dựng trạm điều dưỡng. Sau đó là chuyến đi cao nguyên cùng với vị Toàn quyền Đông Dương, để thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Ngày xưa bác sĩ Yersin đi bằng ngựa cùng hai người địa phương dẫn đường. Trong hồi ký Bảy tháng nơi xứ Thượng, bác sĩ Yersin có kể lại việc gặp gỡ hai nhóm người Việt trên đất Lâm Đồng. Đó là nhóm của Tong Vit Ca, một người Việt nhận khoán việc thu thuế ở vùng cao nguyên; và nhóm chính trị phạm do Thouk cầm đầu. Tài liệu của Yersin cho thấy người Việt vào thời đó (nhất là những người thu thuế, buôn bán, trộm cướp, chính trị phạm…) vẫn thường xuyên lui tới vùng cao nguyên bên dưới, xung quanh Đà Lạt (với độ cao trung bình từ 900 đến 1000m).Yersin vốn có thói quen viết thư cho mẹ mỗi ngày. Ông kể cho mẹ nghe tất cả những chuyện đang xảy ra, cũng nhờ những bức thư này mà cuộc đời của ông đã được biết đến một cách sống động và chi tiết. Chuyến thám hiểm đầu tiên năm 1891 tìm ra cao nguyên Di Linh cũng đã được lưu giữ từ những lá thư này…. khối núi cao nhất Di Linh, Braian 1.196m và qua thung lũng suối Da Riam nữa là đến bến đò qua lòng hồ Da Riam về thị trấn Di Linh.

Từ 28.3.1892 đến 9.6.1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Daklak để đến Stung Treng- nằm bên bờ sông Mékong (thuộc địa phận nước Cam-pu-chia). Cuộc thám hiểm này được thực hiện theo yêu cầu của đại úy Cupet, một thành viên của phái bộ Pavie.

Tháng 10 năm 1892, Yersin đi Paris để đưa các kết quả khảo sát cho đại úy Cupet, đồng thời tìm cách vận động để được tiếp tục thám hiểm. Nhờ sự giúp đỡ của một số người quen (nhất là nhà bác học L.Pasteur và người bạn thân của ông là giáo sư Emile Duclaux), Yersin được Bộ giáo dục Pháp cấp kinh phí để thực hiện một nhiệm vụ khảo sát khoa học.

Từ nước Pháp trở lại Sài Gòn vào tháng 1 năm 1893, Yersin đến gặp toàn quyền De Lanessan. Ông này chính thức giao cho Yersin nhiệm vụ khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Ngoài ra, Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi v.v… Địa bàn thám hiểm được chỉ định là “một vùng ở Nam Trung Kỳ, nằm giữa bờ biển và sông Mékong, là vùng đầu nguồn của các con sông Đồng Nai và Sé-Bang-Kane”.

Cùng đi với Yersin có ông Wetzel, một trong những người gác rừng giỏi nhất ở Nam Kỳ, cũng là một thợ săn voi và tê giác rất gan dạ. Về phía nhân sự người Việt, có bốn người dân Sài Gòn: Bảy (người đã từng đi thám hiểm cùng Yersin năm 1892) và ba người phụ bếp do chính ông này chọn. Nhưng do chuyến đi quá dài nên sau đó ông Wetzel không thể tham gia, chỉ còn mình ông Năm và các người dẫn đường tiếp tục cuộc hành trình.

Vật dụng được đựng trong nhiều chiếc rương nhỏ, chủ yếu bao gồm những hàng nhu yếu phẩm dùng để trao đổi với ngưới Thượng. Về dụng cụ thám hiểm, Yersin mang theo một máy kinh vĩ (théodolite) và ba thời kế (chronomètre) nhằm để xác định vị trí trong khi đi thám hiểm. Yersin cũng mang theo một số thuốc chủng bệnh đậu mùa (sởi) để chủng ngừa cho dân các vùng ông đi qua.

Ngày 14.4 đoàn rời Lao Gouan tiến về phía Bắc, vượt dòng Da Gnine (tức Da Nhim) – một trong hai nhánh chính của sông Đồng Nai, sau một ngày đi bộ, Yersin đến làng Rioung, nằm gần nhánh thứ hai của sông Đồng Nai: Da Dong (tức Da Dung). Rioung (có thể là làng Riong Bolieng ngày nay) là một làng Thượng chuyên sống về nghề rèn, một điểm giao lưu quan trọng vào thời đó. Cao nguyên xung quanh Rioung trơ trụi, những đàn nai đông đảo thường chạy qua đó. “Nếu từ Rioung, người ta tiếp tục đi về phía Bắc, điạ hình sẽ trở nên rất nhấp nhô và dâng cao dần cho đến núi Lang Bian. Núi này, cao hơn 2.000m, đã được các ông Néis và Humann thám sát. Đó là nơi phát nguyên của sông Đồng Nai”.

Yersin hoãn cuộc khảo sát núi Lang Bian vào giai đoạn sau và tiếp tục đi về phía Tây Nam, với sự hướng dẫn của Tong Vit Ca.

Để đi đến Ta La, đoàn thám hiểm phải đi qua một số làng lớn (Kla Kar, Con Tan và La Ra) – nằm giữa một vùng cao nguyên trơ trụi phủ toàn cỏ tranh.

Một ngọc thác trên thương nguồn sông La Ngà

Một ngọn thác trên thương nguồn sông La Ngà

Ngày 25.4 Yersin đến Ta La, diện mạo của cao nguyên thay đổi. Cao nguyên bao gồm nhiều đồi lúp xúp nhô lê giữa các thung lũng nhỏ. Bên dưới ruộng lúa hoặc thảm cỏ mịn, xanh tốt mặc dù đang là mùa khô hanh. Rừng thông phủ dày trên các ngọn đồi. Làng mạc thưa thớt nằm ngoạn mục ven các sườn đồi. Ông chánh tổng cư trú ở Ta La, nơi có ngôi nhà làng dành cho khách lạ. Cạnh đó là dòng Da Riame, một chi lưu của sông La Ngà. Dòng nước này tưới và làm phì nhiêu các ruộng lúa, chảy quanh co…

Ta La nằm ở vùng phụ cận Djiring (Di Linh) là nơi Yersin đã từng đến vào năm 1891. Người Thượng ở vùng này khá giàu, có những đàn trâu đông đến vài trăm con. Họ có tục lệ đâm trâu vào những dịp lễ lớn, cứ mỗi con trâu bị giết, lại dựng cạnh nhà một cây nêu bằng tre cao khoảng 20 mét, được neo chặt bằng những sợi dây chão làm bằng mây trang trí cờ đuôi nheo. Trong một vài làng, Yersin đếm được tới 30 cây nêu. “Nhìn từ xa, người ra tưởng chừng nhìn thấy cả một hạm đội trong một hải cảng”.

Yersin dừng chân ở Ta La vài ngày và dùng ngựa đi xem vùng phụ cận. Ở gần làng Ia Lane có một mỏ thiếc lộ thiên nằm trong dãy núi Bréan (tức Braian). Sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Đi qua làng Yane – làng quan trọng cuối cùng trên cao nguyên, ông xuống thung lũng sông La Ngà, đến làng Droum (có lẽ là làng Kondroum ngày nay). Đêm hôm trước cọp đã vồ hai người Thượng ngay giữa ban ngày. Từ Droum, ông vượt sông La Ngà để đến làng Tô La, nơi Humann đã đến vào năm 1884. Có một loạt làng mang tên Tô La nằm cách xa nhau. Men theo hữu ngạn sông La Ngà, cuối cùng ông vượt sông một lần nữa ở gần Barth Nui (Bác Nui) để trở về Tánh Linh.

Trước khi thực hiện chặng đường thứ ba, từ ngày 22.5 đến ngày 28.5 Yersin tiến hành khảo sát kỹ vùng hữu ngạn sông La Ngà từ Bác Nui đến Cao Cang để xem xét khả năng mở đường qua vùng này. Ông xác định con đường bộ trong tương lai không thể đi qua vùng này vì cánh đồng nơi đây ngập nước vào mùa mưa và cư dân quá thưa thớt.

Con Voi theo đoàn thám hiểm (Ảnh: A.Yersin )

Con Voi theo đoàn thám hiểm (Ảnh: A.Yersin )

Ngày 30.5.1893, Yersin lên đường thực hiện chặng đường thứ ba: từ Tánh Linh đi Phan Rang bằng một con đường núi khác với chặng trước. Ông đã gửi trả về Phan Thiết con voi, người quản tượng và một người Việt vì những người này bị sốt nặng, không thể tiếp tục hành trình. Khác với lộ trình trước, lần này ông đi theo tả ngạn sông La Ngà để trở lại Droum. Kể từ khi Yersin ghé qua làng Droum lần trước đến nay, tại đây cọp đã vồ ba người Thượng nữa. Từ Droum, đoàn thám hiểm vượt sông La Ngà để trở qua bờ bên phải. Sau khi đi qua một loạt các làng đều mang tên Tô La, đoàn thám hiểm đến Tia Lao, một địa điểm đã được ghi trên bản đồ của Humann. Từ Tia Lao, Yersin đi về phía Bắc, hướng đến núi Tadoum (tức Tadoung).

Ngày 11.6, ông đến Bross, nằm ở đáy một thung lũng sâu có sông Đồng Nai chảy qua, phía Bắc là ngọn núi Tadoung. “Ngọn núi này nhìn từ xa tựa như một chiếc mũ lớn nhọn đầu đặt trên cao nguyên, nằm cạnh một thứ mê lộ gồm các đỉnh cao và các thung lũng sâu, dưới đáy các thung lũng là những dòng nước lạnh ngắt. Người ta tưởng chừng đang ở vùng núi Alpes”. Yersin đã băng qua mây mù và mưa để leo lên đỉnh núi cao nhất. Rừng khá rậm, ông phải trèo lên cây để quan sát, nhưng những màn mưa dày đặc không cho phép ông định vị một cách chính xác.

tAHXlFhWuz_Oozdme8zcNATừ Rioung, Yersin đi đến bờ sông Da N’Tâme (tức Da Tam), một chi lưu của sông Da Nhim. Ngược dòng Da Tam, ông đi đến các làng Kréan (gần núi Mnil), Brenne (tức Prenn, gần thác Prenn); sau đó đi về phía Tây-Bắc, rồi bắt đầu leo núi. Sau gần một giờ leo núi, ông bước ra khỏi rừng thông và phát hiện ra cao nguyên Lang Bian. Lúc này là 15g 30 ngày 21.6.1893. Trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt “3h 30: grand plateau dénudé mamelonné (3g 30: cao nguyên lớn trơ trụi, nhấp nhô gò đồi).

Trong hồi ký, ông mô tả như sau:

“… Khoảng 15 đến 20 km trước khi đến chân núi chúng tôi ra khỏi rừng và thấy mình đang đứng trước một vùng đất hoàn toàn trơ trụi, phủ toàn cỏ. Mặt đất như những lượn sóng dài làm cho ta có cảm tưởng đang đi trên một đại dương bị xao động bởi những đợt sóng khổng lồ. Dãy Lang Bi-an sừng sững ở giữa như một hòn đảo và dường như càng lùi xa khi ta đến gần. Trong những cánh đồng bao la ấy, ta dễ tính sai cự ly. Dưới đáy thung lũng, đất màu đen và có than bùn. Những đàn nai lớn cho phép đến gần khoảng một trăm mét, rồi vụt bỏ chạy ra xa, ngoái đầu lại nhìn chúng tôi một cách tò mò”… .

Ở một đoạn khác, Yersin mô tả về cao nguyên Lang Bian như sau:

“Vùng đất này cư dân thưa thớt, một vài làng của người M’Lates (…) được tập trung ở chân núi; nơi đó họ làm những ruộng lúa nước rất đẹp (…). Người M’Lates nói tiếng Chăm cũng thạo như tiếng Mạ. Phụ nữ xoi vành tai thật rộng để nong vào đó những vành tròn hay treo vào đó những ống thiếc hình xoắn ốc rất nặng. Người ta tiếp tôi trong căn nhà làng. Mỗi già làng mang tới vò rượu cần của mình. Có đến sáu vò rượu xếp hàng dài trước mặt tôi; may thay người ta không yêu cầu tôi phải thưởng thức hết”…

Sau một đêm nghỉ lại ở Dankia, sáng hôm sau Yersin vượt dòng Da Dung để trở lại Deũng, sau đó đến làng Ankroêt. Bằng một lộ trình khác với lộ trình đến, ông rời Lang Bian trở lại Rioung. Cơn mưa lớn làm cho các con dốc trở thành trơn trượt, các dòng suối nhỏ trở thành sông lớn, rất nguy hiểm khi vượt qua. Trong khi ông vắng mặt, ở Rioung, cọp suýt vồ mất một con ngựa ngay giữa nơi cắm trại.

Yersin rời Rioung đi đến thung lũng Da Nhim để trở về Phan Rang…. Trong lần trở về này ông suýt mất mạng vì một toán cướp có vũ trang khiến ông bị thương, được những người Thượng hộ tống khiêng bằng võng về Phan Rang ngay trong đêm. Trên đường đi, ông bị tên cướp đầu sỏ hung tợn nấp trong rừng bắn hai phát súng lục nhưng không trúng. Vào khoảng 7 giờ sáng hôm sau, nhóm người khiêng ông lại lọt vào giữa một đàn voi rừng. Một con voi cái và một con voi con nhắm vào họ lao tới. Các phu khiêng võng hoảng sợ bỏ chạy. Bỏ Yersin nằm lại trong võng, Yersin suýt bị voi dẵm, nhưng may thay, vào phút chót, con voi mẹ lại đi chệch ra khỏi đường mòn.

Ngày 26.6 Yersin đến Phan Rang với thương tích đầy mình.

Sau khi bình phục, từ 19.7 đến 19.8, Yersin đến thăm M’Siao, một tù trưởng người Bih ở vùng Daklak mà ông đã quen trong chuyến thám hiểm năm 1892. Ngày 8.9 ông rời Nha Trang, theo đường cái quan trở lại Phan Rang. Từ nơi đây, ông lên vùng cao nguyên để kiểm tra lại kết quả khảo sát, sau đó trở lại Tánh Linh. Từ Tánh Linh, ông trở lại Biên Hoà, kết thúc chuyến thám hiểm dài bảy tháng. Con đường mà Yersin khảo sát đã được thi công xong vài kilômét đầu tiên.

Sáng kiến thành lập các trạm nghỉ mát vùng núi ở Đông Dương bắt nguồn từ toàn quyền Paul Doumer (cha đẻ của Cầu Long Biên) khi ông này đến nhậm chức vào năm 1897. Doumer đã học kinh nghiệm này từ những người thực dân Hà Lan ở Indonesia và nhất là từ người Anh ở Ấn Độ.

Hồi ký của Doumer cho biết nhiều cuộc tìm kiếm công phu và kéo dài ở nhiều địa điểm đã không thành công; nhưng có một địa điểm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặt ra, nhờ sự chỉ dẫn của Yersin: đó là cao nguyên Lang Bi-an.

Thành công của chuyến thám hiểm đã góp phần nâng cao uy tín của Yersin. Ngày 28.12.1893, Hội đồng Thuộc địa đã thuận cấp kinh phí cho ông thực hiện chuyến thám hiểm thư ba: từ Nha Trang qua vùng Tây Nguyên, Hạ Lào đến tận Đà Nẵng (từ 12.2. đến 7.5.1894).

Đến Đà Nẵng vào thượng tuần tháng 5.1894, Yersin được biết trong thời gian ông vắng mặt, chính phủ Pháp đã ra lệnh cho Toàn quyền Đông Dương cử ông đến Vân Nam để đối phó với bệnh dịch hạch. Yersin đã phát hiện ra vi trùng bệnh dịch hạch vào đêm 20.6.1894. Phát minh này đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Yersin. Những yêu cầu cấp bách của y học đã buộc ông phải từ bỏ lòng say mê phiêu lưu mạo hiểm. Thay vào đó là một sự say mê bền bỉ đối với công tác thực nghiệm khoa học mà ông đã nuôi dưỡng cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.

Từ một vùng rừng núi cư dân thưa thớt, còn đang ở trình độ thấp kém của thời kỳ công xã nguyên thủy, Đà Lạt đã phát triển một cách nhảy vọt thành một đô thị hiện đại. Có thể nói nếu không có nhu cầu xây dựng trạm điều dưỡng của người Pháp để từ đó phát triển dần thành một thành phố du lịch và nghỉ dưỡng nổi tiếng thì Đà Lạt ngày nay có thể cũng chỉ là một vùng quê hẻo lánh hoặc một thị trấn thuộc loại trung bình như thường thấy ở các vùng rừng núi nước ta.

Bước phát triển nhảy vọt của cao nguyên Lang Bi-an bắt đầu từ ngày 21.6.1893. Đó cũng là điểm khởi đầu của quá trình hình thành đô thị Đà Lạt, trong đó nổi bật lên vai trò của ông Năm Yersin, người đặt nền móng quan trọng đầu tiên từ những nỗ lực lớn lao như thế. (**)

Hồ Xuân Hương - Nguồn: Wiki.

Hồ Xuân Hương – Nguồn: Wiki.

Sau mỗi đêm ngon giấc, chúng tôi đi dạo một vòng quanh Hồ Xuân Hương, đôi khi qúa chân còn sang cả Hồ Than Thở ngút ngàn sương khói. Đà Lạt đã hết mùa hanh khô, nên ban đêm thường có mưa. Sau mưa, không khí như mát dịu hơn, những làn hơi nước sương bảng lảng trên những con đường, tán thông, bên những hàng rào quanh các biệt thự lớn nhỏ. Mà cũng lạ, ở thành phố này trăm căn biệt thự là trăm hình thái khác nhau, mà tổng thể vẫn hài hoà. Những cổng cửa đa dạng. Những lối vào lên xuống. Cả những hàng rào cũng vậy, dù gỗ ván ghép, là cây xén tỉa, vài khóm hoa, dù rào sắt, cọc xây, cọc cắm hay xếp đá. Không có cái nào giống cái nào. Nhờ được tô điểm bởi những hàng rào với không gian và thiên nhiên uyển chuyển kỳ diệu ấy mà đường nét, hình khối kiến trúc không bị khô cứng. Làm sang và làm nổi bật các toà nhà toạ lạc bên trong. Nhìn mãi mà không chán mắt. Chỉ tiếc thời gian như vô tình, con người cũng vô tình, đã làm phôi pha phần nào chút hào quang rực rỡ vang bóng một thời ấy của nhiều công trình.

Nhớ lại chuyện “Tái Ông mất ngựa“ của người tàu, sau mỗi khám phá mới về ông Năm Yersin, trong tôi thấy thèn thẹn với bậc vĩ nhân. Thấy những khó khăn của chúng tôi hôm nay, thấm tháp gì so với những khó khăn nguy hiểm mà bậc ân nhân của nước mình đã kinh qua. Ông đã tạc vào lịch sử những dấu ấn không bao giờ phai, ở cái tuổi cũng chỉ bằng tuổi đời của chúng tôi lúc bấy giờ.

nPLIjNUcOY7_yNHhKAiPLACon đường lên Lang Bi-an của ông Năm cách nay đã 123 năm. Ông người gốc Pháp, gia đình Yersin phải lánh nạn sang Thụy Sĩ và cậu bé Alexandre chào đời tại đây, một vùng quê miền núi hẻo lánh xứ người. A. Yersin theo học ngành y tại Lausanne (Thụy Sĩ) và Marburg (Đức). Sau đó nhận bằng tốt nghiệp y khoa tại Đại học Paris. Trước khi dừng chân ở mảnh đất hình chữ S xa xôi, trong ước muốn thám hiểm những vùng đất mới, ông từng có những năm miệt mài nghiên cứu tại viện Pasteur Paris, đã có những thành công ban đầu khá ngoạn mục và được trao huân chương danh giá nhất của Pháp (Bắc Đẩu Bội Tinh), được trở lại quốc tịch Pháp năm ông 27 tuổi. Song định mệnh đã đưa ông tới Xứ An Nam nghèo khó và giữ chân ông ở lại cho tới lúc mãn chiều xế bóng. Cuối đời mặc dù yếu phổi, ông vẫn tận lực làm việc cho tới hơi thở cuối cùng. Ông ra đi thanh thản và để lại cho đời nhiều nhớ thương tiếc nuối. Thông điệp để lại trong di chúc của ông: Được chôn tại Suối Dầu Nha Trang thì không có gì thắc mắc. Nhưng không cho phép đọc điếu văn và đặt thi hài nằm sấp hẳn còn nhiều uẩn khúc chăng?

Chỉ còn ngót hai tháng nữa là nhân loại sẽ kỷ niệm tròn 120 năm, ngày Alexandre Yersin tìm ra con vi trùng nguy hiểm đã gây nên những trận đại dịch hạch cướp đi sinh mạng của hàng trăm triệu người: “Yersinia pestis“!

Tên con vi trùng dịch hạch đã được đặt theo tên của người tìm thấy nó đầu tiên.

Con người của ông còn mang nhiều bí hiểm. Ông rất yêu quê hương, yêu nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời, nhưng lại tình nguyện sống và chết tha hương. Ông rất có hiếu với các bậc sinh thành (thân mẫu) nhưng lại chọn cuộc sống độc thân không con cái suốt đời. Ông rất ghét thói xa hoa và ghét ách đô hộ của Thực dân Pháp ở Đông Dương. Nhưng lại lợi dụng tiến trình khai thác thuộc địa của Pháp để cứu giúp người nghèo khó và canh tân những vùng đất lạc hậu tối tăm. Bản tính ông giản dị mà lại luôn tiên phong trong những phát minh mới của công nghệ. Ưa thám hiểm mà từ bỏ hết cả tương lai ở Paris hoa lệ. Niềm đam mê thám hiểm chưa thỏa, định mệnh lại cuốn ông trở lại “thiên chức thầy thuốc“ cao qúi của mình. Ông đòi an giấc ngàn thu theo tư thế nằm sấp như lời trăng chối của Trạng Quỳnh xưa, nhằm chống lại cái ác, cầu mong cho nhân loại sớm thoát khỏi ách hà khắc của đám bạo chúa hôn quân?

Xin các bậc cao minh chỉ dạy cho đầu óc còn u tối được thông tỏ!

Gocomay

___

* Cả hai vị này sau leo tới chức Thứ trưởng Bộ Y Tế trước khi nhận sổ hưu. Hồi đó, TS Lê Diên Hồng là Vụ Trưởng Vụ Vệ Sinh Phòng dịch; còn BS Trịnh Quân Huấn là thư ký cho ông Hồng

* * Bài này có tham khảo và trích dẫn nguồn tài liệu của Hội Ái Mộ Bác sỹ Yersin…

__________________

824 – Tây Nguyên trước mùa mưa lũ

Thác Đray H'linh (nay đã bị nhà máy thuỷ điện làm đổi dòng)

Thác Đray H’linh (nay đã bị nhà máy thuỷ điện làm đổi dòng)

Lời đầu:

–       Những ngày này cách đây đúng 30 năm, tôi dẫn đầu một nhóm làm phim 4 người lên Tây Nguyên khởi quay bộ phim “Thủy điện nhỏ“. Thời đó “trai 30 tuổi đang xoan“, chúng tôi đều hăng hái lắm. Đây là đề tài do tôi đề xuất với Hãng phim TL&KH và được chấp thuận. Trước đó một năm, khi đi quay bộ phim “Năng lượng gió“ cho Đạo diễn Nguyễn Thiệu, tôi được Bộ Điện lực (nay là Bộ Công Thương) giới thiệu đề tài này. Trộm nghĩ, mình không làm, cũng có người khác. Thử liều một phen xem sao. Đó chính là bộ phim đầu tay của tôi trên cương vị đạo diễn.

–       Mặc dù vậy, tự trong thâm tâm, tôi thấy mình cũng có một phần trách nhiệm (dù nhỏ thôi) trong việc tuyên truyền cổ vũ cho việc phát triển thủy điện nhỏ và vừa ở Việt Nam cách đây 30 năm. Nay mới thấy, khi mà các nhóm lợi ích đã câu kết với nhau làm thủy điện theo kiểu chụp giựt bất chấp những hiểm hoạ to lớn về môi trường. Đã không tính đúng tính đủ các giữ kiện tối quan trọng như các thông số thủy văn đầu vào khi thiết kế để tiết kiệm các chi phí cốt sao mau chóng sinh lợi, chóng hoàn vốn đầu tư cho doanh nghiệp và cá nhân góp vốn. Từ đó dẫn đến việc xả lũ sai qui trình khiến người dân ở hạ lưu lĩnh đủ. Việc phá rừng vô tội vạ để làm làm thủy điện mà không có phương án trồng bù rừng. Là nguyên nhân gây ra các trận lũ quét, sạt lở đất gây hậu quả nghiêm trọng. Khiến cả xã hội phải giật mình về an toàn thủy điện. Tình trạng tiêu cực trong phê duyệt bừa bãi cùng với việc thi công ẩu, chất lượng công trình không đảm bảo đã khiến thủy điện đang trở thành nỗi kinh hoàng của người dân Miền Trung và Tây Nguyên trước mỗi mùa mưa lũ…

–       Trong một entry cách đây hơn 4 năm, như một người trong cuộc, tôi đã nêu câu hỏi: Thuỷ điện ở ta có biết ăn thịt người? (*)

Nay xin post lại một trích đoạn trong “Những chặng đường gió bụi“ (dạng nhật ký cá nhân) của tôi thay cho nhời tạ lỗi muộn mằn này!

*

*           *

Đường lên Tây Nguyên

Đường lên Tây Nguyên

Chiếc xe U-át của Công ty Đìện lực Miền Trung chở 4 thằng tuổi Ngọ chúng tôi đang chầm chậm leo trên quốc lộ 19, nhằm hướng Pleiku băng tới.

Đèo An Khê đây! Anh lái xe giới thiệu với mọi người.

Cảnh núi non trùng điệp vây quanh từ bốn phía. Những đoạn đèo ngoằn ngoèo cứ nối tiếp nhau mà tôi chỉ nhớ được con đèo An Khê nổi tiếng này trên sách vở – một địa danh đã ghi vào lịch sử.

Lên đến đỉnh đèo nhìn xuống, cả một khung cảnh hùng vĩ và mang đầy sự huyền bí của núi rừng. Con đường đã qua giờ nhìn lại trông giống một con rắn đang uốn mình. Bên dưới, vài chiếc xe Reo chuyên dụng cũ của Mỹ, trông dữ tợn như loài bọ cạp khổng lồ đang “trườn” về xuôi, mà từ đây nhìn nó như những chú kiến càng nhỏ xíu.

Tây Sơn Thượng đạo thuộc vùng rừng núi An Khê, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Quần thể Tây Sơn Thượng đạo gồm 6 di tích liên quan đến cuộc khởi nghĩa của người Anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ. Cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại do anh em họ Nguyễn lãnh đạo bùng nổ năm 1771. Vùng núi rừng An Khê của Gia Lai trở thành căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Chính từ căn cứ Tây Sơn Thượng đạo ở An Khê, đại quân của cuộc khởi nghĩa đã tràn xuống đồng bằng. Anh em nhà Tây Sơn đã lập được mối quan hệ gắn bó giữa người Kinh và người Thượng, tập hợp được các dân tộc Bắc Tây Nguyên ở vùng Tây Sơn Thượng đạo như người Ba Na, Gia Rai tham gia cuộc khởi nghiã.

Để có được chuyến đi lịch sử này, tôi đã phải cố gắng rất nhiều. Năm ngoái, tôi phải quay cho xếp Lê Quốc một phim, quay cho xếp phó Lương Đức một phim, cho người đẹp Lệ Mỹ (của xếp phó) một phim và cho cựu xếp Nguyễn Thiệu 2 phim (đó là những tiếng nói sinh sát trong chi bộ). Tất cả nếu không có sự gật đầu của các nhân vật quan trọng ấy thì khó mà có được chuyến làm phim đầu tay (với chức danh đạo diễn) thế này.

Đang mải mê với những dòng suy nghĩ mung lung chen lẫn, đan xen nhau như vậy thì xe đã tiến sâu vào địa phận Gia Lai. Địa bàn dạo đó an ninh, có nhiều vấn đề còn đang nổi cộm. Anh lái xe nói, hay là ông đạo diễn nên thay cái áo khác thì tốt hơn. Nhìn ông to con thế này, lại áo bay Liên xô, đi xe U át, Fullro, nó nhầm ông với cánh chuyên gia Nga lên Tây Nguyên tìm quặng mà để ý thì cũng chẳng hay ho gì!

Lại văn Sinh ngồi băng ghế sau cũng tán thưởng, phải đấy ông đạo diễn ạ! Năm ngoái, đi quay săn voi cùng Phạm Bình qua đoạn này, tôi còn được nghe tụi Fullro còn cướp cả một chiếc xe chở khách loại nhỏ kia. Trên xe, có cả ông mặc áo bộ đội, cũng là mục tiêu tấn công của chúng đó, cẩn thận vẫn hơn! Lần đầu lên Tây Nguyên, nên cảm giác về một vùng đất đầy huyền thoại, khiến tôi háo hức vô cùng. Nghe lời mọi người khuyên, tôi cởi bỏ chiếc áo bay và thay vào bằng chiếc áo kẻ sọc đen, mắt vẫn không rời đoạn đèo quanh co dốc dựng ngược đầy bí hiểm.

Qua suối - (tháng 4.1984: Sơn - Kỹ sư điện lực và Gocomay)

Qua suối – (tháng 4.1984: Sơn – Kỹ sư điện lực và Gocomay)

Càng lên cao, cảm giác về núi rừng trùng điệp tự nhiên như bị mất dần. Xa xa, những vạt luá xanh trải rộng, nom chả kém gì những cánh đồng thẳng cánh cò bay ở miền xuôi. Đã làm tôi thực sự bất ngờ. Ở độ cao như thế này, Tây Nguyên lại như một bình nguyên bao la bát ngát. Ruộng nương đâu có nhỏ vụn như ở vùng núi rừng Tây Bắc mà tôi đã nhiều lần tới đó. Đúng cái tên Cao nguyên có lẽ là như vậy! Những mái nhà rông của người Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ-Triêng cao vút như lưỡi rìu chém ngược lên bầu trời xanh; những ngôi nhà mồ của dân tộc Gia Rai ở rải rắc khắp các buôn làng. Không khí trên cao nguyên dịu mát thay dần cái nóng cháy người ở miền biển. Bầu trời bước sang tháng tư, đầu mùa mưa nên xa xa đã bắt đầu xuất hiện những đám mây sam sám. Nhưng mùa khô vẫn lưu dấu ấn trên những vạt hoa cúc qùi vàng rực. Dọc bên con suối nhỏ ven đường có nhiều rẫy bắp, cà phê của đồng bào dân tộc. Thấp thoáng trước mặt, dãy Trường Sơn hùng vĩ dần hiện ra. Chúng tôi đã đến Tây Nguyên.

Khác với cảm giác vào Đà Lạt, thị xã Pleiku hiện lên từ rất xa. Nếu không có loáng thoáng những chú voi kéo gỗ ẩn hiện trên những con đường đất đỏ gần đó. Thì ta như có cảm tưởng như lạc vào một thành phố nào đó ở vùng trung Âu, chứ khó mà nhận ra đó lại là trung tâm của một tỉnh trên Cao Nguyên của xứ mình.

Theo truyền thuyết, thuở xa xưa ở vùng đất này không có tên gọi. Nhân ngày hội ở một bộ tộc Djarai, đồng bào tụ họp nhau lại ở nhà rông để ông Phaphai Tobal làm lễ. Trong lúc mọi người đang nhảy múa, ca hát theo tiếng cồng chiêng hay trống Paranưng, say sưa bên các ché rượu thơm ngon thì một cuộc xô xát giữa hai người con trai của vị tộc trưởng diễn ra ác liệt. Họ tranh giành quyền lực để kế vị người cha già yếu. Để phân giải, hai người con trai phải dùng sức mạnh bứt đứt đuôi trâu. Kết quả, người con trưởng thắng. Từ đó, người ta đặt tên cho địa danh này là Pleiku!

pleikuphonuiĐêm ở nhà khách chi nhánh điện lực, chúng tôi được đãi món cá quả rán giòn thơm phức. Lại một bất ngờ lớn nữa đến với tôi. Chỉ những khoanh cá to cạng vàng xuộm trên điã, anh phụ trách nhà nghỉ nói:

– Cá quả ở biển hồ đó! Nếu các đồng chí có nhiều thì giờ, tôi sẽ bố trí mời mọi người đi thăm. Lên Pleiku đây mà không ra hóng mát ở biển hồ thì cũng uổng.

Buổi tối tôi ghé thăm bố mẹ cô Lài, giáo viên, người hàng xóm với gia đình tôi cùng trong khu tập thể ở Hà Nội. Bố chị là đại tá, giám đốc công an tỉnh. Tôi mang quà của chị và cũng là để dò la xem tình hình an ninh ở cao nguyên dạo này ra sao? Không gặp được vị đại tá. Nhưng qua lời bà vợ thì tôi cũng tạm yên tâm. Vì sang năm nay an ninh trong toàn vùng đã khá lên rất nhiều. Muối, vải vóc và nhu yếu phẩm được nhà nước cung cấp đầy đủ hơn, người theo Fullro bỏ rừng về buôn làng cũ làm ăn. Nhìn chuồng lợn sau nhà, muời mấy chú ỉn mũm mĩm, bà giám đốc công an nói với tôi, nhờ bắp ở đây rẻ nên chăn nuôi ở trong này là rất phát tài. Một năm cô xuất hai lứa heo thịt cho công ty thực phẩm thị xã, tiền lãi còn bằng mấy lương của chú ấy chứ. Được cái khí hậu trong này dù ban ngày có nắng nóng tới đâu, ban đêm vẫn cứ phải đắp chăn, chăn bông quanh năm. Cháu ra bảo Lài, dịp hè cứ vào đây mà nghỉ. Đà lạt, Sa pa chắc gì đã hơn ở đây.

Ngày hôm sau chúng tôi được đưa tới những ngọn thác dự kiến sẽ triển khai những dự án thuỷ điện nhỏ, nội dung chính mà kịch bản phim của chúng tôi đề cập. Lang thang trên các nẻo đường đất đỏ trên cao nguyên Măng Đen, băng qua những rừng thông bạt ngàn, và những dòng sông đã đi vào huyền thoại như Dah, Bla, Pô Kô… Giữa núi rừng hoang sơ và hùng vĩ là những buôn làng của đồng bào các dân tộc: Ba Na, Brâm, Gia Rai, Xê Đăng, Rơ Măm… Nơi đây vẫn còn giữ nguyên vẹn những phong tục của ngàn xưa, như lễ đâm trâu, lễ ăn cơm mới, lễ tế thần linh, lễ bỏ mả. Họ là những cư dân nông nghiệp trồng lúa rẫy, mỗi năm làm một vụ, phụ thuộc vào nguồn nước trời. Nhà rông là nơi sinh hoạt chung và cũng là nơi diễn ra lễ hội của làng. Làng nào càng đông dân cư, nhiều thanh niên và giàu có thì nhà rông càng to, càng cao. Đi sâu vào bản làng, trẻ con bồng bế nhau kéo ra tròn xoe mắt nhìn những người đồng bằng, như lần đầu tiên chúng được nhìn thấy. Đứa nào nước da cũng sạm nắng, nhưng gương mặt thể hiện nét hồn nhiên của trẻ thơ vùng núi. Chúng tôi gặp rất nhiều già làng với sắc da tím mốc như màu các vỉa quặng bôxít nằm rải rác khắp vùng cao nguyên. Tò mò có đôi lần tôi còn rờ tay vào làn da bụng của vài cụ. Trao ôi, dầy chả kém gì da voi. Tôi xuýt xoa nói với Sinh, có lẽ vòi muỗi có cứng tới đâu cũng khó mà xuyên thủng được lớp “da voi“ này. Chả thế mà đêm ngủ các cụ có cần mùng màn gì đâu. Mỗi chiếc khố đơn sơ vĩnh cửu thế thôi. Nhưng nhiều cụ sống thọ tới hơn trăm tuổi. Chỉ lúc nán lại nghỉ chân trên đường, mới có dịp la cà như thế chứ thời gian nào có phép chúng tôi đi sâu vào các đề xa hơn công việc chính của mình.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên.

Không chỉ ở Gia Lai, đến đâu ở Tây Nguyên, chúng tôi cũng bắt gặp những cầu thang đôi bắc lên nhà sàn với những đục đẽo độc đáo. Đặc biệt ở khu các nhà mồ có rất nhiều bức tượng gỗ phản ánh công việc hàng ngày và sinh hoạt của người dân. Người đánh trống, người giã gạo, người trồng lúa, người đi săn, người khóc… nhưng nhiều nhất là nói sự sinh thành, sự ra đời và tái sinh mãi mãi của con người: Tượng những thanh nữ ngực trần phồn thực, người đàn bà chửa, mẹ bồng con, cả những tráng niên lực lưỡng với những khẩu “đại pháo” chỉa ra đầy uy lực. Những tác phẩm ngẫu hứng của những cư dân bản địa chỉ với những nhát rìu thô sơ, phóng khoáng xuất thần… sáng tạo bóc ra từ những thân gỗ đơn sơ mà đầy biểu cảm.

Từ tỉnh lỵ Pleiku theo quốc lộ 14 đi về thị xã Kon Tum, khi đến km 7 thì rẽ về tay phải, theo con đường mòn dẫn đến hồ.

Biển Hồ là tên do người Kinh đặt, còn tên thật của nó là Tơ Nueng, là một miệng núi lửa khổng lồ nằm ở phía bắc thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai quanh năm ăm ắp nước và luôn ngăn ngắt xanh. Như một chiếc gương trên chót vót cao dâng, cho mây trời soi bóng. Xung quanh Tơ Nueng ẩn chứa nhiều huyền thoại khiến Biển Hồ lại càng kỳ ảo trong ký ức của cả dân bản địa và khách vãng lai.

Một cái “ao” khổng lồ giữa lưng trời, đứng ở dưới đồng bằng cách chân núi không xa nhìn lên chỉ thấy mây phủ kín mà hiện hữu một cái “biển” nước như thế thì cũng quá ấn tượng rồi. Đó thực chất chính là miệng một núi lửa nhưng khác là âm sâu xuống lòng đất. Đối diện với Biển Hồ theo trục Bắc Nam khoảng ngót chục cây số là đỉnh Hàm Rồng, cũng là một miệng núi lửa khổng lồ khác. Hàm Rồng là dương, dương từ khí núi, hiên ngang như tấm bình phong chắn gió. (Xung quanh thành phố Pleiku là hàng trăm miệng núi lửa lớn nhỏ, nhưng lớn nhất vẫn là Biển Hồ và Hàm Rồng). Rất đối xứng, một bên nhô lên, bên thụt xuống, khiến có người liên tưởng so sánh nó như Yoni và Linga. Diện tích của Hàm Rồng và Biển Hồ cũng tương ứng nhau, hình dáng cũng trùng khớp nhau. Hồi cuối 1980, khi mang máy quay phim theo đoàn không ảnh quốc tế trên máy bay AN-30, suốt 6 tiếng liền tôi đã thấy như thế. Hình dung, nếu bê Hàm Rồng thả xuống Biển Hồ thì sẽ khít khịt, vừa in. Tạo hoá công mới vĩ đại làm sao?

Biển hồ Tơ Nưng

Biển hồ Tơ Nưng

Nước hồ quanh năm đầy ắp, xanh trong có thể nhìn rõ từng đàn cá bơi lội dưới nước. Hồ có độ sâu từ 20 đến 40m. Ðây là vựa cá, hàng năm cung cấp cho Pleiku hàng trăm tấn cá. Đây còn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước cho cây trồng và vật nuôi cho một vùng rộng lớn. Phong cảnh xung quanh hồ thật ngoạn mục, từ những cây cối và các loài hoa khoe sắc ven hồ. Xa hơn là những cánh rừng bạt ngàn, những ngọn đồi uốn lượn trập trùng. Những chiếc thuyền độc mộc lướt trên mặt nước. Nghe anh phụ trách nhà nghỉ nói, trữ lượng nước của Biển Hồ vào khoảng 25 đến 30 triệu m³, xê dịch giữa mùa khô và mùa mưa chứ nó không “nguyên si, không đổi” như lời đồn. Nhưng nguyên việc có một cái hồ nước vĩ đại đến ba chục triệu mét khối lơ lửng trên tầng trời như thế đã là kỳ diệu lắm rồi…

Ở phía bắc Tây Nguyên còn có dãy núi đá hoa cương với đỉnh Ngọc Linh cao hơn 2.500 m, được coi là “mái nhà của Tây Nguyên”; đỉnh Ngọc Phan hơn 2.000 m, nơi bắt nguồn của những dòng sông chảy về miền Trung, như sông Tranh, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Ba. Những khu rừng nguyên sinh và đặc dụng, như Chưmon Ray, Đác Uy, Sa Thầy. Nhưng tiếc thay đại công trình đường Hồ Chí Minh đang triển khai, còn quá bề bộn, nên chúng tôi không thể bay qua mà tới đó được.

Những dòng sông ở bắc Tây Nguyên đều khởi nguồn từ những đỉnh núi cao đầy truyền thuyết: Ngọc Linh, Kon Ka King, Chưmonay… Chảy qua mỗi địa bàn dòng Ðăc Pla, Sê San hay Kroong Pôkô lại mang một tên gọi khác nhau: đơn giản vì nó xuyên qua nhiều vùng văn hoá, lúc là buôn làng của những người Bana, lúc là buôn làng của nhóm sắc dân Rơ Ngao, Gia Rai, Xơ Ðăng, Rơlăng, Rơmăm, Brâu…

Bến nước của người Rơ Ngao khác với bến nước của người Brâu, điệu chiêng người Gia Rai khác điệu chiêng người Xơ Ðăng, thẩm mỹ hoa văn trên gùi nơi vai các sơn nữ Rơlăng cũng không giống với hoa văn nơi gùi các thiếu nữ Ba Na, hương vị ché rượu cần người Rơmăm cũng khác hương rượu cần của người Xơ Ðăng. Muốn thấu tỏ các lớp lang tầng văn hóa ấy, có khi cả đời cũng chắc gì hiểu nổi, huống chi cưỡi ngựa xem hoa như chúng tôi. Dọc đường xe chạy, bắt gặp dòng Ðăc Pla với Kroong Pôkô thoắt ẩn hiện với những cù lao bãi đá ấn tượng. Thi thoảng hai bên bờ có những cảnh đánh cá theo kiểu cổ xưa trên những con thuyền độc mộc hiện ra ven những dải rừng cà chít đương nẩy lộc đâm chồi.

Trước khi xuôi xuống nam Tây Nguyên, chúng tôi tới quay phim thác Yaly. Cách thành phố Pleiku khoảng 40km về hướng tây bắc, thẳng quốc lộ 14 hướng Kontum, đi khoảng 15 km đến ngã ba Yaly, quẹo trái, đi thêm 23 km là tới thác Yaly nằm trên sông Sê San thuộc địa bàn xã Ialy, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai. Đúng ra Yaly toạ ngay đường ranh giới Gia Lai – Kon Tum. Nơi đây đang rục rịch khâu chuẩn bị cho dự án lớn xây nhà máy thủy điện có sản lượng lớn thứ hai và là công trình thủy điện ngầm lớn nhất Việt Nam với công suất lắp đặt 720 Mw và sản lượng điện trung bình 3,7 tỷ kwh/năm. Song trước mặt chúng tôi lúc đó vẫn là một Yaly vô cùng hoang vu. Đoạn lòng sông Sê San sông lởm chởm đá này có độ chênh khá lớn, tạo thành ngọn thác Yaly hùng vĩ. Dòng sông phía thượng lưu hẹp, dồn nước chụm đổ xuống hạ lưu, tạo nên cột nước cao tới 40 thước, nom như chiếc vòi voi khổng lồ. Bọt tung trắng xóa như thảm mưa mù bao phủ cả một vùng hạ lưu. Âm thanh réo ầm ầm, man dại như tiếng rú rít của hung thần nghe sởn gai ốc. Ai yếu tim, đảm bảo không thể đứng trên đỉnh thác mà nhìn xuống dòng Sê San ngầu bọt dữ rằn ấy.

Thác Yaly (nay đã không còn hiện hữu)

Thác Yaly (nay đã không còn hiện hữu)

Chiếc Camera Konvát đen đang lia dọc bỗng khựng lại. Nút bấm máy bằng thép mạ sáng loáng nhỏ như chiếc cúc áo bị rời ra, nảy tưng tưng xuống tảng đá tai mèo dưới chân rồi rơi xuống vách đá sát chân thác. Tiếc chiếc cò máy, như một phản xạ tự nhiên, tôi dúi nhanh chiếc máy cho Sinh và Khang phía sau, lao xuống định lượm lại mà không hề nghĩ đến nguy hiểm là gì. Sinh, Khang và Sơn hoảng quá cản không kịp liền hét toáng lên. Tôi có nghe thấy gì đâu mà hét. Tiếng nước dội ầm ầm thế này. Sau cú sốc như giỡn mặt với tử thần qua đi, tôi mới thấy sợ. Tôi có thể sẽ rơi xuống tảng đá lởm chởm bên dưới, có thể tan xác bởi cột nước khổng lồ điên cuồng. Nhưng ở thời khắc đó tôi nào có nhận ra điều gì. Nẩy vài cái như trêu ngươi, chiếc cò thép đã rơi kẹt vào khe tảng đá mấy chục mét bên dưới. Từng đợt sóng nước lớn oàm oạp đập mạnh xung quanh. Mọi người kéo tôi lên, Khang liền lấy dao zíp gọt tạm cho tôi chiếc cò mới bằng một mẩu cành cây bẻ bên bờ suối. Nhờ thế, tôi cũng thực hiện nốt được phần công việc còn dang dở. Nhìn từ bờ này sang bờ kia ước lượng khoảng ba trăm thước. Hai bên bờ toàn là những tảng đá đủ cỡ nằm chen chúc lên nhau. Mặt nước cũng lố nhố vô số đá nom như bầy cá sấu khồng lồ. Người dẫn đường cho biết, họ đã từng gặp những con cá sấu lớn từ vùng biển hồ Mê Kông bên Campuchia, ngược dòng lên đây trú ngụ và đã sinh sống lâu năm ở khúc sông dưới chân thác này. Trong đời, hễ ai mà một lần nhìn thấy cột nước lớn như thế, hẳn không bao giờ quên. Với tôi, thác Yaly quả là ngọn thác lớn vào bậc nhất của Tây Nguyên và cả bán đảo Đông Dương. Tiếc thay, hôm nay nó đã bị nhà máy thuỷ điện xoá sổ hoàn toàn.

Rời Yaly hùng vĩ, chúng tôi trở lại quốc lộ 14 và xuôi về Đắclák. Những cánh rừng Khộp dọc hai bên đường đang mơn mởn lá non. Đan xen là những vạt ruộng cà phê đang phơi hoa trắng muốt. Tạo cho cao nguyên trước mùa mưa những hương sắc ngất ngây, quyến rũ. Mùi hương cà phê thơm nồng, làm bướm ong khắp nơi đổ về vờn phấn, hút mật. Chúng kéo thành bầy đàn theo hương hoa xuân bay lượn khắp trời Tây nguyên.

Sau một ngày làm việc cật lực. Ổn định chỗ nghỉ xong, khi màn đêm buông, chúng tôi tản bộ vào trung tâm thành phố Buôn Mê Thuột. Quả là thủ phủ của Tây Nguyên! Khác với Kon Tum, PleiKu, hơn 9 giờ tối, khách thập phương vẫn còn tấp nập. Rất đông cư dân thành phố tập trung tại các công viên sinh hoạt hoặc đi bộ trên lề đường như một hình thức tập thể dục buổi tối.

Theo dòng người hành lễ, chúng tôi bước vào toà giáo đường Thiên chúa giáo khang trang ở khu trung tâm. Con gái Buôn Mê Thuột da trắng bóc, giọng nửa Nam nửa Bắc, nói chuyện nhỏ nhẹ, dễ nghe đang kéo vào bên trong thánh đường. Hôm nay là tối chủ nhật, rất đông tín đồ tham gia. Theo gót anh chuyên viên đứng tuổi của bộ Điện lực, chúng tôi kéo nhau vào xem thánh lễ. Cho tới lúc mọi người cùng qùi xuống nền nhà, 4 thằng tuổi ngọ chúng tôi đứng trơ ra. Bất đắc dĩ phải qùy theo các tín đồ, được bữa ê đầu gối. Cứ nhớ mãi cái đận qùi ấy…

Hôm sau chúng tôi lại tiếp tục tới các ngọn thác nổi tiếng quanh Buôn Mê Thuột. Tây Nguyên không chỉ có cà phê, có “cái nắng”, “cái gió” mà còn ôm trong mình những con thác to lớn, nguyên sơ đầy kỳ bí.

Từ Buôn Mê Thuột ngược đường quốc lộ 14, nhằm hướng Pleiku, chừng mươi cây số thôi, chúng tôi đến Đray H’linh. Tiếng Êđê gọi Đray là thác, còn H’linh là tên một người con gái. Thác tuy không cao như Yaly, nhưng thơ mộng, bề thế, khó có thác nào ở Việt Nam mà sánh kịp. Nếu phải bình chọn một ngọn thác như một cuộc thi hoa hậu thì cô gái H’linh chắc chắn sẽ giành vương miện một cách đương nhiên. Những thước phim tôi quay trong bộ phim đầu tay của tôi này có lẽ sẽ là những hình ảnh tư liệu cuối cùng của đời người con gái hồng nhan. Vì chỉ vài năm nữa thôi con thác này sẽ bị hiến tế, chặn dòng để xây nhà máy thuỷ điện Đray H’linh-I.

Sau Yaly, tôi đã giành nhiều cơ số phim nhất để quay với đủ mọi góc độ về Đray H’linh như sự ngưỡng mộ, nuối tiếc vô bờ của một kẻ si tình trước mỹ nữ quốc sắc thiên hương vì việc nước sắp phải “qúa quan” ra đi mãi mãi.

Thác Đray Sáp

Thác Đray Sáp

Xa hơn chút nữa, cách Buôn Mê Thuật chừng 30 km là Đray Sáp. Ai chưa biết Đray H’linh mà gặp Đray Sáp thì cũng tạm hài lòng vì vắng trăng mà còn sao, chắc cũng được an ủi phần nào. Tiếng Êđê, Đray Sáp là thác Khói. Nước buông từ độ cao khoảng 30 m và rộng chừng trăm mét, tạo thành làn “khói” sương diệu huyền. Những ngọn thác đẹp và gần Buôn Mê Thuột như thế mà biết cách khai thác theo hướng du lịch nghỉ dưỡng, thật tuyệt. Nhưng cái khó bó cái khôn, những nhà làm qui hoạch Bộ Điện lực (Nay là Bộ Công thương) đã đưa vào tầm ngắm nhằm phát triển thủy điện, bất chấp những hệ lụy về môi sinh như thế nào.

Được hợp lưu bởi hai dòng K’rông Na và K’rông Ana bắt nguồn từ vùng lũng núi của nam Trường Sơn, sông Sêrêpôk có chiều dài hơn ba trăm cây số. Gần một nửa chiều dài là chảy trên lãnh thổ Việt Nam. Sêrêpôk không đổ thẳng ra biển Đông như nhiều dòng sông khác mà chảy ngược sang Campuchia, trước khi hợp vào dòng Mekong.

Theo các chuyên gia về địa chất đánh giá, chính dãy núi Trường Sơn Nam là đường phân thủy (chia nước) của những hệ thống sông chảy về đồng bằng duyên hải phía đông rồi đổ về biển Đông. Hệ thống sông đổ về phía tây trở thành phụ lưu của sông Mekong. Sêrêpôk là một trong số ít dòng sông không tuân theo qui luật chảy về biển Đông mà ngược lên phía tây. Đây là dòng sông khá đặc biệt vì cả hai nhánh đều rất hiền hòa, nhưng khi hợp thành Sêrêpôk thì trở nên “hung dữ” với hàng loạt thác ghềnh liên tiếp như Đray H’linh, Gia Long, Đray Sáp, Đray Nur, Trinh Nữ… với dòng nước chảy xiết.

Thác Đray Nur

Thác Đray Nur

Mỗi con thác lớn nhỏ trên dòng Sêrêpôk đều lưu giữ một huyền thoại khác nhau. Nhiều hiện tượng kỳ lạ của thiên nhiên mà tới nay cũng không ai lý giải nổi. Như một con sông mà có hai dòng chảy song song với nhau. Một dòng thì quanh năm đục ngầu, còn dòng kia trong veo. Cư dân sống ở thượng nguồn các dòng sông Tây Nguyên cắt nghĩa sự kỳ bí tự nhiên bằng những huyền tích lãng mạn và bi hùng. Nhằm gửi vào đó khát vọng về tình yêu trai gái, sự gắn kết cộng đồng, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với đấng tạo hóa. Tiếc thay, những thông điệp nhân văn ấy không được lớp hậu sinh chúng ta nhìn nhận một cách tỉnh táo. Đó chính là nguyên nhân phá vỡ môi trường sinh thái ở Tây Nguyên nói riêng và trên dải đất hình chữ S, một thời ta đã tự hào “rừng vàng biển bạc“ nói chung!

Người Tây Nguyên cổ xưa cho rằng, thiên nhiên có nguồn gốc như con người, cũng được sinh ra bởi một đấng sinh thành. Với dòng Sêrêpôk, nó cũng có đấng sinh thành. Đó là hai dòng sông: K’rông Na và K’rông Ana. K’rông Na được coi là cha và K’rông Ana là mẹ.

Thuyền độc mộc trên Sêrêpôk

Thuyền độc mộc trên Sêrêpôk

Dòng sông mang dáng vẻ hùng vĩ, được thừa hưởng nét đẹp vẹn nguyên và hoang sơ từ các đấng sinh thành, Sêrêpôk đã trở thành ngọn nguồn của trái tim Tây Nguyên. Trong suốt quá trình về với hạ nguồn, dòng sông đã hoá thân kỳ diệu thành trăm ngọn thác lớn nhỏ trên khắp cao nguyên. Trải qua bao đời nay, người dân Tây Nguyên luôn gắn bó với Sêrêpôk, luôn coi K’rông Na và K’rông Ana là cha mẹ, là linh hồn của đại ngàn.

Những dòng sông khởi nguồn từ cao nguyên nói chung như sinh lộ của đất nuôi sống con người cùng vạn vật trên thế gian này. Triệt nguồn sinh lộ ấy, thảm họa sẽ ập tới nhãn tiền!

Gocomay

__

* PS:

Thủy điện ở ta có biết ăn thịt người?

file:///J:/D_Copy/Blog_Gocomay/001_GCM_yahoo_blog/Yahoo_Dokumenta/articles/2009-11-11-473391.html

__________________

819 – Cầu Long Biên sống mãi với Hà Nội thân yêu!

20140219102822-20140215-trinh3phuongan1

Mấy hôm nay dư luận trong nước bàn tán nhiều xung quanh các phương án tu bổ sửa chữa, làm mới cầu Long Biên ở Hà Nội. Không chỉ giới kiến trúc sư, các chuyên gia cầu đường, nhà khoa học. Mà báo giới cũng nhảy lên “chém gió” ào ào. Nào là Cầu Long Biên: Bảo tồn sống hay chết? Cầu Long Biên có “đáng” để bảo tồn? Bởi muốn bảo tồn sẽ tiêu tốn tới 9.000 tỷ và 3 phương án ‘cứu’ cầu Long Biên. Mà chắc gì đã ổn. Vì cả “3 phương án của Bộ GTVT đều làm mất giá trị cầu Long biên”.

Nhiều ý kiến phân tích khá thuyết phục, cho rằng: ‘Cứu’ cầu Long Biên: Giữ không được, dịch không xong. Như cách làm ăn cẩu thả vô trách nhiệm, gây thất thoát như hiện tại thì chỉ tổ làm cho 36 phố phường ‘băng bó’ đến biến dạng thôi. Muốn ‘nâng cấp’ cầu Long Biên, phải tôn trọng lịch sử!

8-dia-diem-chup-anh-dep-o-Ha-Noi_18Khốn thay, dù Tuyệt đẹp cây cầu bắc qua 3 thế kỷ, dù Long Biên – cây cầu của tình yêu và trăn trở, văn hóa thời cận hiện đại của thủ đô ngàn năm văn hiến sẽ đi về đâu? Nếu Hà Nội không còn cầu Long Biên…. Khi một sáng nào đó, người Hà Nội thức dậy không thấy cầu Long Biên?… như người Paris không thấy tháp Eiffel in bóng trên bầu trời hay người Bắc Kinh không còn thấy Thiên An Môn trên quảng trường. Nhà Kiến trúc sư giàu tâm huyết với Hà Nội – Trần Huy Ánh đã bày tỏ như thế.

Theo ông, nếu chỉ là một công trình giao thông bình thường thì việc xây dựng lại cũng cần xem xét trong tổng thể phát triển đường sắt, đường thủy không chỉ nội đô mà phải xét cả yêu cầu liên kết với các tỉnh. Còn cầu Long Biên, khi đã là một là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ thì cả 3 phương án Bộ GTVT đưa ra mới đây xem chừng đều chưa thỏa đáng.

Bởi không thể bứng cây cầu ra khỏi địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học để “làm đồ giả cổ”, như phương án 1. Hay “làm cầu mới theo mẫu cũ”, như phương án 2. Hoặc đem “cấy phép cầu mới vào cầu cũ, đặt  tại vị trí cũ” theo phương án 3! Nó sẽ làm thay đổi cả về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí… so với nguyên bản.

14-e73e8Theo ông Ánh, muốn ký ức không gian không bị xóa trắng, hiện tại và qúa khứ không bị đứt toang… Cầu Long Biên mới phải có kết cấu hiện đại, là một hiện vật khổng lồ trong bộ sưu tập lịch sử mà vẫn đáp ứng các kịch bản phát triển giao thông đường sắt, đường bộ và đường thủy.trở thành cây cầu kết nối quá khứ và tương lai.

Là con dân của Hà Nội, tôi cũng có chút kỷ niệm đẹp về cây cầu. Dù không phải kiến trúc sư, không phải nhà nghiên cứu lịch sử hay kỹ sư cầu đường…

Nay xin chép lại đây một bài viết cũ của tôi. Song tinh thần vẫn mới!  Kể về nghề mọn của tôi và vài hồi ức đáng nhớ bên cây cầu lịch sử. Chẳng có ý gì ngoài sự chia xẻ với con dân đất Việt yêu thủ đô ngàn năm văn hiến. Mong sao giữ cho được Cầu Long Biên sống mãi với Hà Nội thân yêu!

Gocomay

__ 

Dòng sông không chảy

Posted on 06/05/2009 05:24 pm by gocomay

Thân tng anh ch em nhóm làm phim tài liu:

“Hà Ni có cu Long Biên

Cùng các bn tr yêu đin nh c nước !

*   *   *

Sông không chảy là ao tù nước đọng. Nghệ thuật không sáng tạo và xa rời cuộc sống thì cũng nước đọng ao tù !

“ Tôi khóc những chân trời không có người bay

  Lại khóc những người bay không có chân trời

  Trần Dần.

w88MM19sVOuXdb5Wvh_pZg

Câu chuyện đã 15 năm trôi qua, nhưng tinh thần của nó vẫn còn mới, như dòng sông Hồng, mùa lũ về, còn đỏ nặng phù sa, vun bồi cho những “rặng tre, bãi mía mát xanh bờ đê ”…

Đó là cái năm chúng tôi lặn lội cả tháng trời trên bến sông Hồng quanh cây cầu bắc qua dòng sông Cái cũ kỹ ấy để làm nên bộ phim “Hà Nội có cầu Long Biên”.

Nhóm chúng tôi có sáu thành viên, được cơ quan chỉ định để tham gia một khoá tu nghiệp ngắn hạn do các nhà điện ảnh Pháp hướng dẫn từ giữa tháng 5 tới cuối tháng 6 năm 1992. Sau một tuần trau dồi lý thuyết, phần thực hành chúng tôi được giao nhiệm vụ phải đi thực tế và trình đề cương cho các thầy (chuyên gia Pháp) trong vòng một tuần. Tôi với anh Vũ Trụ bàn nhau, mỗi người độc lập xây dựng một đề cương, nếu khi xét duyệt đề cương của ai được chọn thì người đó sẽ là tác giả (đạo diễn) chính của phim. Sau đó, mặc dù dự thảo đề cương phim “Chiếc cầu Biên giới” (cầu Cốc Lếu – Lao Cai) của anh Trụ được thầy phụ trách Robert Kramer rất tâm đắc và ủng hộ (kể cả phải chi phí thêm tiền túi cá nhân như thầy từng nói), nhưng vì không khả thi nên đề cương số hai của tôi mới được triển khai. Không được các thầy mặn mà ngay từ lúc khởi đầu, bản thân tôi cũng kém vui. Nhưng nếu không hoàn thiện được đề cương để đưa vào sản xuất thì nhóm chúng tôi bị cúp tiêu chuẩn phim và máy quay. Và đương nhiên nhóm sẽ bị giải tán, sung công đi theo điếu đóm cho các nhóm khác. Nên vì màu cờ sắc áo của cả một hãng phim danh tiếng mà chúng tôi đã gắn bó với nhau để hoàn thành cho kỳ đuợc một tác phẩm riêng của nhóm mình.

Để thuyết phục đuợc ông thầy phụ trách người Pháp gốc Mỹ rất nhạy cảm và đầy bản lĩnh này, quả thật không dễ. Vì là phim do mình chủ trì, tôi đã phải phục quanh cầu hàng tuần để chọn cảnh, chụp ảnh những pha tắc cầu, lân la tới những xóm chài, những cánh đồng bãi nổi, những phiên chợ chớp nhoáng đầu cầu và cả cơ man những mảnh đời lao động cực nhọc gắn bó một cách tự nhiên với cây cầu qua nhiều thăng trầm của thời gian. Quả thật công sức của tôi đã không uổng. Nhóm chuyên gia Pháp đã chấp nhận thông qua đề cương của tôi, sau khi nhìn thấy những bức ảnh vô cùng sinh động trong bao còn nóng ấm mà tôi vừa mang từ tiệm ảnh về. Mỗi nguời một việc, chúng tôi bắt tay ngay vào giai đoạn quay. Tôi với anh Trụ thay phiên nhau phỏng vấn các nhân vật. Chị Liên thu âm, khớp tiếng. Anh Thước và anh Khanh quay phim.

Với chiếc máy quay đồng bộ nặng như vậy mà nhiều khi anh Khanh lại phải đảm trách vai trò của một chủ nhiệm phim, thường phải đi giao dịch và chuẩn bị, nên cô Mai dựng phim còn phải kiêm thêm nhiệm vụ phụ quay nữa. Nhìn nhà quay phim Nguyễn Thước vóc dáng mảnh dẻ ôm ghì chiếc máy quay phim nhựa 35 mm nặng trong những pha di chuyển trên cầu cao bạt gió, trên tàu hoả hay trên những chiếc thuyền nan ngay bên dòng nước xiết, nhiều lúc tôi cũng cảm thấy thót tim.

Cho đến khi mọi việc trôi chảy với những mẻ phim nháp ban đầu ra lò với chất luợng hình ảnh khá tốt, cả nhóm mới thở phào nhẹ nhõm.

Kinh phí để làm một bộ phim nhựa hai cuốn đó là do Bộ Ngoại Giao Pháp tài trợ nhưng chủ yếu là việc chi trả thù lao cho bốn thành viên của hãng phim “Les d`ICI filmes” của Pháp cùng các chi phí về phim nhựa, máy quay, máy thu thanh đồng bộ … Còn lại chỉ một khoản rất khiêm tốn cho việc di chuyển cũng như làm hậu kỳ.

Để tiết kiệm kinh phí, chúng tôi không dám sử dụng ô tô mà hàng ngày thuê hai chiếc xích lô, dùng chuyên chở máy móc phương tiện di chuyển tại hiện trường. Được cái các nhà làm phim danh tiếng của Pháp nhưng cũng rất “Tây ba lô” nên cứ “cơm đuờng cháo chợ ” cùng chúng tôi như người trong một nhà.

Cái qúi nhất mà chúng tôi học tập được ở các ông thầy Pháp chính là sự chỉnh chu, nghiêm túc trong công việc nhưng trong sinh hoạt đời thường lại rất dung dị, khoan hoà. Chính nhờ những đức tính qúi báu ấy mà mỗi tác phẩm của họ đều có sức thuyết phục bởi tính chuyên nghiệp và tính nhân văn rất cao.

Khác xa với lối làm phim mang nặng tính giáo huấn, mô phỏng sáo rỗng với chuỗi hình ảnh khô cứng để minh hoạ cho một chủ đề định sẵn với lời thuyết minh ra rả nhằm ép nguời xem phim phải chấp nhận mọi chủ ý của tác giả. Chúng tôi đã đuợc tiếp cận một cách làm mới. Người làm phim không tư duy hộ, không áp đặt chủ quan. Mà để người xem phim mọi tầng lớp đều động não, đều có thể và có quyền được tham gia vào quá trình nhận thức cuộc sống tuỳ theo kinh nghiệm và khả năng của mỗi cá nhân. Phần sáng tạo của nguời nghệ sỹ chính là việc phát hiện được vấn đề mới lạ. Rồi sử dụng thành thạo ngôn ngữ điện ảnh để tái tạo hiện thực trên phim ra sao nhằm hấp dẫn được công chúng.

Trở lại với bộ phim của chúng tôi “Hà Nội có cầu Long Biên” ! Chả có lời bình, chả có nhạc. Nhân vật là nhóm làm phim chúng tôi cứ lân la trò chuyện thân mật cởi mở với những con người hàng ngày sinh sống hay hiện diện bên cầu. Như ông già đánh cá có độ tuổi ngang ngửa với cây cầu, 92 tuổi, mà mắt còn tinh, tai còn thính, tay chân còn khá hoạt bát để tự nuôi thân mà không cần sống nhờ vả trợ cấp xã hội hay của bất cứ ai. Vợ chồng ông thật như nhân chứng sống chứng kiến biết bao thăng trầm biến loạn của cây cầu. Như hai cụ về hưu đã mấy chục năm sáng sớm vẫn leo lên cầu tập thể dục dưỡng sinh. Cả anh lái tàu hoả, đã 20 năm, ngày nào chả qua lại làm bạn với cây cầu già. Tới các tổ bảo dưỡng thuộc Liên Hiệp Đường Sắt số 1, đã thường xuyên chăm nom tu bổ và sửa chữa trên cầu. Những toán nam nữ học sinh cấp 3 luôn lấy bãi cát giữa sông ngay sát chân cầu làm nơi tụ hội vui chơi sau những tiết học căng thẳng hay sau những mùa thi cử lu bù. Ngoài ra còn rất nhiều bà con nông dân xã Ngọc Thụy, Gia Lâm, cả cuộc đời “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” trên những cánh đồng màu thênh thang ngoài bãi giữa sông. Những người dân nông nhàn đào phù sa bồi lắng lòng sông kiếm sắt vụn bán phế liệu làm kế sinh nhai. Lại còn những cháu gái bán nước trà đầu cầu …

Dù đậm nét như ông già đánh cá, như hai chị em sinh đôi bán quán nước. Hay thoáng qua như đám trẻ nhỏ sinh ra từ xóm chài, lênh đênh nay đây mai đó trên thuyền chài. Những bà bán gia cầm, bán rau quả phiên chợ sớm đầu cầu. Những bà buôn thúng bán mẹt “liều mình như chẳng có” vẫn quen chạy ngược đuờng ray lo bám, nhảy cho kịp chuyến tàu chợ. Những người đóng than, thồ than tổ ong sang Hà Nội bán rong. Như các em chưa đến tuổi vị thành niên, chầu chực bên dốc cầu để phụ đủn những xe thồ nặng leo lên chặng dốc, kiếm vài ngàn tiền thù lao giúp thêm bố mẹ nghèo lo bữa ăn hàng ngày. Tất cả chẳng cần ai sắp đặt, đã tự nhiên sống gắn bó thân quen hoà thuận với cây cầu và luôn mong cầu Long Biên sớm được tu sửa cho đẹp và trường tồn mãi với thời gian…

Hà Nội có cầu Long Biên

Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng

Tàu xe đi lại thong dong

Bộ hành tấp nập gánh gồng ngược xuôi

… … …

C_xSi6v18JP5hcS_ctOfGA

Những câu thơ, ca hay đồng dao thân thương ấy đã bay vào những trang sách tuổi thơ của thế hệ chúng tôi không biết tự bao giờ. Khi lớn lên, ra Thủ Đô sinh sống, chúng tôi mới có dịp được nhìn tận mắt. Được sờ tận tay. Được đạp bàn chân quê mùa lên những tấm sàn ván phẳng phiu hay nham nhở lát trên mặt cầu … mới thấy cái cây cầu Long Biên trong mộng, trong sách vở của tuổi thơ tôi là không hoàn toàn như ý.

* * *

Năm ngoái, sau mười bốn năm xa quê, tôi có dịp được hít thở trở lại cái bầu không khí thân thương quen thuộc, khi có dịp đi lại qua cầu. Long Biên vẫn cũ kỹ, cho dù nay đã cấm hẳn ô tô nhưng thi thoảng vẫn ách tắc. Người em họ, cũng là đồng nghiệp cũ của tôi an ủi tôi rằng Pháp đã đề suất một dự án khả thi để xây mới một cầu Long Biên hiện đại ngay bên cạnh cây cầu cũ nhưng khâu qui hoạch tổng thể và giải toả mặt bằng xem ra còn nhiều vướng mắc nên không biết khi nào cây cầu mơ ước, đẹp tựa dải đăng ten sang trọng này của Thủ Đô ngàn năm văn hiến mới trở thành hiện thực?

Gặp lại vài anh chị em trong nhóm làm phim cũ cũng quá mừng. Nhắc lại những kỷ niệm hồi đó ai mà không nhớ. Trong lúc trà dư tửu hậu anh em hứa là sẽ sao lại cho tôi một đĩa DVD, mang sang bên đó mà làm kỷ niệm. Tưởng đó chỉ là lời của ruợu bia. Không ngờ trước thềm năm mới 2007 vừa rồi tôi nhận được món qùa mà bạn bè đã gửi tặng. Bật máy xem lại, thật xúc động vì không phải chỉ có cây cầu Long Biên mà cả một thời xa vắng đã trở lại. Như thấy mình có lỗi. Đã sớm hạ vũ khí. Đã đầu hàng … trong khi đất nước đang cần rất nhiều những “…. Cầu Long Biên” như thế để đi lên.

uic_jFLTh_X8u1UVZbKTCA

Đắn đo mãi, hôm nay, sau gần 15 năm bộ phim “Hà Nội có cầu Long Biên” chào đời tôi mới quyết định làm lại vài cái bảng chữ tên phim trên đĩa DVD mà bạn tôi đã gửi tặng. Nhớ lại, hồi đó, sao mấy cái bảng chữ tít của phim lại nhem nhuốc thế ? Chả là chúng tôi đã không còn một xu để thuê hoạ sỹ cũng như bộ phận quay kỹ sảo nữa. Nên đành tự viết lấy lên bìa Các-tôn những dòng chữ như thế. Rồi dùng máy quay bình thường đặt lên chân bình thường để cho người xem biết phim của mình cũng có một cái tên.

Tên của nó là: “Hà Nội có cầu Long Biên”!

Tất cả mọi người trong cuộc đều biết chuyện này nhưng vẫn “mần thinh”. Nay tôi mạnh dạn phi lộ như thế. Và với tấm lòng thành xin được “đơm lại cúc” cái áo mà chúng tôi đã kỳ công làm ra nó mà chưa sắm được vài cái nút cài như ý. Hơn thế, trước khi những bảng chữ cuối phim kết thúc, tôi đúp thêm một chút tiếng động của dòng sông người đang ì ạch trườn, bò… qua cầu và lặp lại cái câu hỏi hồn nhiên của cháu gái bán quán nước:

Chú ơi ! … bao giờ thì sửa cầu ?

Công việc vừa hoàn tất thì sực nhớ ra, đây chỉ là chiếc đĩa sao, rẻ tiền. Nên chả có một thay đổi tích cực nào nào tới nguyên bản hiện đang còn nằm ở kho lưu trữ phim của quốc gia! Thôi cũng đành coi đó như một kỷ niệm vậy.

Ngày 2 tháng 3 năm 2007

Gocomay

*  *  *

Xem Video phim “Hà Nội có cầu Long Biên” ở đây:

(Chất lượng sao từ phim 35mm sang Clíp chưa chuẩn, bà con xem tạm!)

Li bt:

Phim “Hà Nội có cầu Long Biên” sau khi hoàn thành (1992) đã được trình chiếu nhiều lần trong các hội nghị thượng đỉnh khối Pháp Ngữ (La Francophonie) nay đã lên tới 55 nước thành viên và 13 nước quan sát viên tham gia.

Đặc biệt vào cuối năm ngoái (28/12/2008), tôi có nhận được mẩu tin nhắn qua E-mail của nhà đạo diễn Nguyễn Thước (hồi đó – tháng 6/ 1992 – anh là quay phim chính của phim “Hà Nội có cầu Long Biên” mà tôi làm đạo diễn) với những dòng như sau:

… cách đây 20 ngày, sứ quán Đan Mạch cùng với Hãng phim Tài liệu có tổ chức một buổi chiếu phim về cầu Long Biên, có một phim của các nhà làm phim Đan Mạch, một phim của anh và một phim của anh Sỹ Chung: Gầm cầu mặt nước. Buổi chiếu thú vị lắm, có thể nói phim chúng ta chiếu cùng phim họ là ngang ngửa nhau, thậm chí dân ta còn thích phim ta hơn. Rất tiếc anh không ở nhà để gặp gỡ giao lưu, tôi nói với anh Chương là để anh Vũ Trụ lên,….. Tôi có giữ lại một cái poscar và một cái giấy mời của buổi chiếu đó, khi nào anh Thọ sang tôi sẽ gửi cho anh để anh giữ làm kỉ niệm .
Chúc anh và gia đình mọi điều tốt lành .

Thước ,

 RwZM_VGUkigTWdSqNxo5Pw

tWOkInoAxBPH0w7DfYgqKg

____________________

818 – Chuyện Liên hoan phim quốc tế, bây giờ mới kể!

64. Internationale Filmfestspiele Berlin - Berlinale 2014  – © Berlinale -

64. Internationale Filmfestspiele Berlin – Berlinale 2014 – © Berlinale

Thế là Liên hoan phim quốc tế – Berlinale 2014 lần thứ 64 diễn ra từ 6-16 tháng 2 đã khép lại rồi. Anh “bạn vàng” Hoa lục của chúng ta lần này thắng to, giành được giải chính – “Der Goldene Bär der 64” (Gấu Vàng – 64) với bộ phim hình sự “Bai Ri Yan Huo” (Than đen, băng mỏng). Ngoài giải chính, điện ảnh Trung Hoa còn ẵm thêm 3 giải danh giá nữa cho các diễn viên tài ba. Trước đây 7 mùa thi, ở Berlinale 2007 các nhà làm phim Trung Quốc cũng đã đoạt giải lớn với phim “Tuyas Hochzeit” (Hôn nhân của Tuya). Song ở đây tôi không muốn sa đà vào chuyện giải thưởng của Berlinale. Chỉ muốn liên hệ tới cách nhìn của các nhà làm phim và khán giả Việt Nam nói chung đối với liên hoan phim quốc tế hay sự phát triển của điện ảnh nước nhà.

Cũng xin thưa luôn, mặc dù sống không xa Thành phố Berlin bao nhiêu, mang tiếng là người từng làm điện ảnh nhưng tôi cũng chưa thể tham dự (dù với tư cách khán giả) Berlinale lần nào. Đơn giản còn phải mưu sinh. Chưa có thời gian để hưởng thụ những thứ “xa xỉ” mà nền “Nghệ thuật thứ 7” đã và đang diễn ra tại đất nước mà chúng tôi đang sống. Nay được anh bạn hàng xóm giới thiệu, tôi mới đọc được tâm sự của một Facebooker đang sống và làm việc ở Berlin những dòng ngắn ngủi này:

Berlinale Palast- 2014 – Khán giả yêu Phim xếp hàng mua vé đông hơn Việt nam xếp hàng mua gạo thời bao cấp. Điều đặc biệt là không thấy người Việt nào. Đang mải Đóng gạch, về già lại mang ra chữa bệnh ?” 

Cảm thấy máu ứ trong tim.

Nhớ lại cách đây đúng 27 năm, tôi cũng đã từng được Liên hoan phim ngắn quốc tế ở Kraków (BaLan) mời tham dự LHP lần thứ 24 của họ. Thời kỳ đó, một thằng đạo diễn phim tài liệu vô danh như tôi được một International Filmfetival có uy tín về phim ngắn như ở Kraków để mắt tới là vinh dự lắm chứ.

Chắc Ban tổ chức LHP cũng biết hoàn cảnh khó khăn của các nghệ sỹ xứ mình. Nên trong giấy mời của Cục Điện ảnh Balan gửi tới Cục ĐAVN (thông qua ĐSQ Balan ở Hà Nội, sau dòng chữ (bằng tiếng Việt) rất lịch sự: “Đại sứ quán CH Ba Lan tại Hà Nội xin trân trọng kính chào Cục ĐAVN và xin phép được chuyển lời mời của Cục ĐA và BTC Liên hoan phim quốc tế lần thứ 24 tại Kraków Balan tới nhà đạo diễn…, tác giả bộ phim “Làng Tranh Đông Hồ” sang Balan tham dự… từ ngày….”. Ở cuối của bức công văn đó còn ghi rõ: “Mọi chi phí về ăn ở và đi lại của nhà đạo diễn… chúng tôi xin đài thọ toàn bộ”.

Vậy mà chuyến đi của tôi vẫn cứ bị chậm trễ. Bởi nếu BTC Filmfestival mà mời thêm một quan chức lãnh đạo ngành (như thông lệ) nữa thì ngon lành. Đằng này họ mời đích danh một mình tôi, nên sém chút thì tõn. Tôi có may mắn được giám đốc Lưu Xuân Thư (thầy dạy quay phim cho tôi ở Trường ĐAVN) nhiệt tình thuyết phục bằng được lãnh đạo Cục ĐA (dạo đó Nguyễn Thụ là Cục trưởng; Bùi Đình Hạc là Cục phó), nên đã nhận được bộ quần áo comple và đôi giày mõm nhái (trông rất lịch sự nhưng có mùi ẩm mốc) do Cục Lễ tân Bộ Ngoại giao cho mượn để ra sân bay sang Balan vào ngày sát nút khai mạc LHP.

Tới nơi mới biết, các tác giả và khách mời, các nhà phát hành phim, các đài truyền hình cùng báo giới quan tâm đến sự kiện LHP ở các nước họ đã tề tựu đông đủ trước cả tuần để tham gia các hoạt động bên lề như hội thảo và xem các bộ phim (không dự thi) nhưng được chọn để chiếu giới thiệu lại LHP. Có những kỷ niệm khó quên của “chuyến đi lịch sử ấy”, muốn thả trôi theo dĩ vãng, nay lại muốn “ôn cố tri tân”. Trước khi ra sân bay, anh Đông ở Phòng Đối ngoại Cục ĐA) đã dặn: “yên tâm nhé, cậu xuống sân bay Warszawa sẽ có nhân viên lễ tân của ĐSQ đón để bàn giao cho Cục ĐA của bạn”. Vậy mà khi tới sân bay ở thủ đô Balan thì chờ mấy tiếng đồng hồ không có ma nào tới đón cả, tiếng Balan không biết, chỉ vài câu chào bằng tiếng Anh phọt phẹt, làm sao bây giờ đây? Giữa buổi chiều đang đứng lơ ngơ ở cổng vào sân bay, có một anh “mũi tẹt dà vàng” nhảy từ trên Taxi xuống hỏi: “anh có phải người Việt không, chờ ai mà đứng ở đây?”. Chết đuối vớ được cọc, tôi chìa ngay cái giấy mời đi dự LHP ra. Anh ta bảo chờ chút để anh ta vào phòng chờ gọi điện cho ĐSQ xem sao? Sau 15 phút anh ta trở ra nói: Ông Tham tán Công Sứ có nhờ tôi đưa anh về Sứ, may cho anh hôm nay tôi đi tiễn anh bạn đi Moskow, gặp anh… không cần cám ơn gì nhiều… ở cả Balan này, hiện chỉ có khoảng hơn trăm người Việt sang đây học đại học và nghiên cứu sinh, không biết thì thôi, chứ ai cũng sẽ giúp như tôi …”. Ông Nguyễn Công Khanh ra tận cửa đón tôi vào căn nhà bếp của ĐSQ, ông nói: “Chắc anh đói rồi, ăn tạm gói mì tôm này đi, tôi vừa gọi điện cho Cục ĐA của bạn rồi, họ nói sẽ cho xe tới đón đưa anh ra sân bay nội địa… chỉ 3 tiếng nữa là anh sẽ tới Kraków để kịp dự lễ khai mạc LHP tối nay….”

P1060559Đầu mùa hè ở Âu châu, 7, 8 giờ tối mà trời vẫn sáng. Từ sân bay về Hotel Holiday (nơi diễn ra lễ khai mạc LHP), tôi thấy BCT bố trí cho tôi 2 cậu phiên dịch (là sinh viên trường ĐH Mỏ ở Kraków). Hai người đồng hương chưa quen biết mà gặp tôi cứ xoắn lấy như người thân từ bao giờ. Vừa dẫn tôi đi nhận phòng, lấy phiếu ăn, thẻ… hai cậu phiên dịch vừa ríu rít khoe: “Anh ạ, cả tuần nay, khắp thành phố đều nô nức đón chờ sự kiện văn hóa lớn này. Lại thấy cả cờ Việt Nam được kéo chung với cờ của 28 nước (có phim lọt vào vòng chung khảo), hơn chục anh em sinh viên và NCS ở đây đều tự hào lắm…”.

Chả nói ai cũng biết, nếu tham dự đầy đủ các buổi chiếu phim dự thi và các chương trình đi kèm là rất vất. Hàng ngày từ 9 giờ sáng cho tới 11 giờ đêm tôi tranh thủ xem phim và tham gia thảo luận (sau khi chiếu phim) với các khán giả và các nhà báo. Ban Giám khảo LHP thì họ thảo luận và cho điểm (phiếu kín) riêng, các tác giả không được tham dự. Phim “Làng Tranh Đông Hồ” của tôi chỉ được bằng chứng nhận của BTC Filmfestival chứ không được giải chính thức nào cả. Tự thấy, trình độ làm phim (cả về kỹ thuật, nghệ thuật) cũng như các khâu tiếp thị (như dịch, làm phụ đề) quảng bá (Pano; Trailer quảng cáo hay đặt nhà báo viết bài giới thiệu cho phim) là không có gì… mà vào được vòng 1/28 như vậy là qúi lắm rồi.

Sẽ là vô cùng thiếu sót nếu không nhắc đến tình cảm của các em sinh viên cũng như các anh chị em nhiên cứu sinh (NCS) ở Đại học Mỏ-Kraków và Đại học ngoại ngữ ở Lotz. Cứ sau mỗi buổi tham dự các buổi chiếu phim và thảo luận xong, dù muộn tới đâu, anh em cũng bắt hai cậu phiên dịch đưa về khu ký túc xá của ĐH Mỏ Kraków liên hoan ăn mừng. Tiệc tùng xong, khuya qúa, tàu điện không chạy nữa, đành ngủ lại ký túc xá với anh em, sáng hôm sau mới về khách sạn. Thành ra tiêu chuẩn ăn nghỉ ở khách sạn mà BCT LHP đài thọ là gần như không đụng đến.

Câu nói của ông GS Jery Bossak – Chủ tịch BGK với tôi trong tiệc Cocktails chiêu đãi bế mạc LHP (tối 6/6/1987) khiến tôi không bao giờ quên.

P1130337-Ông nói:

“phim của các anh hiền lành qúa… chưa dám đề cập tới những vấn đề gai góc của đời sống văn hóa truyền thống đang bị lụi tàn ở các vùng nông thôn quê hương các anh. Cũng có thể các anh không được phép đi sâu vào các khía cạnh ấy. Nhưng ở góc độ người xem, chúng tôi (cả khán giả nữa) chỉ căn cứ trên các hình ảnh để đánh giá phim thôi, không chấp nhận những thứ khó khăn mà các tác giả điện ảnh không thể vượt qua. Cho nên, dù tôi rất có cảm tình với những hình ảnh mộc mạc, dung dị độc đáo trong phim mà anh giới thiệu ở đây. Nhưng để trao giải thì chưa được. Như anh biết đấy, những phim đoạt giải lần này phải có những đột phá mới về nghệ thuật và tư tưởng. Có những đề tài nhỏ thôi (như bộ phim quay những con chim cánh cụt ở Nam cực hay bộ phim câm mô tả về nghệ thuật sắp đặt trong hội hoạ là ví dụ), nó đã chiếm được cảm tình của cả BGK cũng như đông đảo công chúng… vì nó rất mới về phương pháp thể hiện đã đành. Nó còn khiến người xem đi hết ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác nữa. Điện ảnh thể hiện được cái góc khuất trong đời sống thường nhật đã đành. Nghệ thuật ĐA còn cung cấp cho khán giả những món ăn mới lạ mà các loại hình nghệ thuật khác không bao giờ có được. Rất mong anh và các đồng nghiệp say mê ĐA của anh tại VN hiểu được thông điệp mà tôi muốn nhắn gửi với anh hôm nay…”

Sau LHP ngắn Kraków, tôi còn được anh bạn Việt Béo (Kỹ sư Đoàn Quốc Việt – hiện là doanh nhân người Balan gốc Việt rất thành đạt, dạo đó mới sang Balan làm NCS, đang học tiếng ở TP Lotz) và các anh chị em sinh viên và NCS ở Warszawa mời ở lại chơi 1 tháng, được đón Đức Giáo Hoàng (10.06.1987) và tham gia một số sinh hoạt văn hóa khác. Khi về lại VN tôi đã viết một bản thu hoạch (báo cáo) khá tường tận về chuyến đi thú vị này. Song có lẽ, các quan lớn trong ngành vô cùng bận rộn (hay có mối quan tâm khác) chả ai thèm xem.

P1130336-Ngày 26 tháng 11 năm đó (1987), khi LHP Leipzig (DDR – Đông Đức cũ) lần thứ 30 khai mạc. Ban tổ chức LHP mời đích danh phim “Làng Tranh Đông Hồ” của tôi. Giấy mời được gửi trước đó tới gần 5 tháng, kết cục “phim đi người ở lại”. Cũng tại LHP ngắn danh tiếng này, hai năm sau, phim “Chuyện tử tế” của đạo diễn tài năng Trần Văn Thủy đã nhận được giải “Bồ câu bạc”! Chớ trêu thay, anh Thủy được duyệt ngược với tôi: “người đi phim ở lại”. Mặc dù vậy, không hiểu bằng cách nào mà anh Thủy đã “mang lậu” (chui) được cả thùng phim nhựa 5 cuốn vừa nặng vừa cồng kềnh ấy đi lọt qua hải quan sân bay để tới được Leipzig dự thi… đến nay vẫn là một ẩn số chưa có lời giải?!

Đầu tháng 11.1992, không hìểu nguyên cớ từ đâu, LHP quốc tế về môi sinh (Ökomedia’ 92) ở vùng hẻo lánh của Tây Đức – TP Freiburg gửi giấy mời đích danh tôi tới dự LHP (diễn ra từ 4-8.11.1992), chả nhẽ đi người không tới, tôi lên “Chòi ngắm song” bên Hồ Tây của nhà thơ Phùng Quán, mời ông tham gia dẫn chuyện cho bộ phim ngắn 20 phút của tôi. Nhà thơ vui vẻ nhận lời mà chả đòi hỏi đồng xu cắc bạc tiền công nào (vì có đòi tôi cũng không có, hu hu…). Phim làm bằng băng Betacam. Những người nhiệt tình tham gia như chú em Trịnh Lê Văn – quay phim (nay là trưởng Ban Văn nghệ VTV); anh Bùi Lưu Khanh – quay phim (kiêm chủ nhiệm) và chị Nguyễn Bích Liên – Thu thanh, đều cùng nhóm trong chương trình Hợp tác Văn hóa (làm phim) Pháp-Việt mùa hè 1992, nên ai cũng hết lòng tham gia theo điều kiện và khả năng của mình.

P1130051LHP Ökomedia là một tổ chức quốc tế nhỏ nên kinh phí rất eo hẹp. Các khách mời (kể cả tác giả phim dự thi) đều phải tự túc kinh phí ăn ở, đi lại. Gặp đúng lúc Hãng phim TLKH, nơi tôi làm việc đang trong cơn bĩ cực, chỉ giúp được cái công văn gửi lên Hội ĐAVN. Tôi phải tự túc cả tiền phí bưu kiện gửi phim (gửi trước) và tiền vé một chiều. Vì đoàn đi có một mình nên, sau 2 ngày khai mạc tôi mới lò dò tới dự LHP được. Cũng may, vừa đúng lúc phim “Mặt gương Hồ Tây” của mình chuẩn bị trình chiếu. Hôm đó thấy khán giả lèo tèo (chỉ khoảng già nửa rạp), xem xong thảo luận ngay tại chỗ chứ không thảo luận riêng như hồi ở Kraków-1987…

Dù chưa một lần bén mảng tới Berlinale. Nhưng những thông tin về LHP quốc tế lớn nhất nước Đức và vào hạng nhất nhì Âu Châu (chỉ sau Cannes-Pháp), chúng tôi đều có để mắt tới. Như năm nay, đã có khoảng 400 bộ phim đã được trình chiếu. Vé được bán rộng rãi trên mạng và trực tiếp tại các cửa rạp. Bên cạnh cuộc so tài của các nhà làm phim trên khắp hành tinh, các hoạt động khác cũng rầm rộ như quảng cáo tiếp thị các sản phẩm mới của ĐA; giới thiệu sự phát triển của ĐA Đức; các cuộc hội thảo – diễn đàn về các đề tài mà giới làm phim chuyên nghiệp và công chúng (đặc biệt giới trẻ: trẻ em và thanh thiếu niên yêu ĐA) quan tâm…

Cũng thấy buồn buồn, vì không (hay có mà không tìm thấy?) một tờ báo ở Đức đưa tin. Những người từng ở trong chăn (như tôi) thì không lạ. Cái cây non điện ảnh: “Vì sự sáng tạo nghệ thuật và hoàn thiện con người mới XHCN…” – như tiêu chí đề ra cho ngành từ hồi tôi làm bộ phim “Làng Tranh Đông Hồ” tới giờ, xem ra vẫn còi cọc không lớn lên được, vì có ai chăm bẵm tưới tắm gì đâu mà đòi khép tán “thành rừng” hay đòi góp mặt trên những con tàu để vươn ra biển lớn?

Trong một cuộc khai phá đất mới vô cùng gian khổ và anh dũng, tất cả các thế hệ Thủ lĩnh cầm quân và các công thần do lập đuợc nhiều thành tích với nhiều huân, huy chương, bằng khen các loại, nên hễ cứ sắp về nghỉ hưu đều được nhà nước phong anh hùng cả. Nhưng sự nghiệp mà họ trao gửi lại cho hậu thế thì tựa như một bãi đất bạc màu, không còn canh tác sinh lợi được nữa nên con cháu cuả họ bỏ đi hết. Họ than vãn với ai? Khi chính họ cũng không muốn con cái họ phải “sống chết” với cái mà họ đã từng “sống chết”?

Đó là những lời thổ lộ gan ruột của kẻ đang viết những dòng này, trong một bức thư với người bạn đồng môn, lúc đó anh ta đang chuẩn bị được cất nhắc lên vị trí lãnh đạo cao nhất ngành ĐA. (Xem ở đây).

Hôm nay, tình cờ đọc được trên “Phây” của Facebooker Nguyễn Đình Bốn thấy những dòng này:

“Tin đất nước láng giềng Campuchia sản xuất được xe hơi làm chấn động những người đọc báo Việt Nam. Ở mặt này, đã có nhiều người viết, phân tích vì sao chúng ta tụt hậu. Trong lĩnh vực quan tâm của mình, tôi chỉ nói sơ khởi về mặt văn học nghệ thuật, cụ thể là điện ảnh, cái mà chúng ta cũng đang tụt hậu với đất nước mà không ít người trong chúng ta nhìn họ với con mắt ngạo mạn của một nước “đàn anh”.

Minh chứng rõ ràng nhất là điện ảnh Campuchia vừa làm một cú ngoạn mục khi bộ phim The missing picture (Bức ảnh đánh mất) của đạo diễn Rithy Panh có tên một cách trang trọng trong danh sách đề cử Oscar 2014 cho mục Phim nước ngoài hay nhất.

… …

Vì sao ra cái nông nỗi này? Về mặt văn học nghệ thuật, nói riêng về điện ảnh, tôi không cho rằng so với người Campuchia người Việt trong nước quá bất tài, nhưng cái bất tài, nói thẳng ra là ngu dốt, bảo thủ nằm ở những kẻ nắm trong tay quyền sinh sát và những kẻ thừa hành, đó là những kẻ “gác đền”, dù cái đền ấy đã mục rã và bốc mùi. Không thể có một tác phẩm hay, chứ đừng nói xuất sắc để trình chiếu cho “người ngoài” nếu lưỡi kéo kiểm duyệt còn dứ ngay yết hầu của người có tâm huyết với nghệ thuật. Và vì vậy để an toàn và… thu hồi vốn, các hãng phim chỉ chọn, ngay từ khâu kịch bản, các bộ phim hài vô bổ cho chắc ăn!

Và cũng vì vậy, với những ai còn xem Campuchia, hay Lào là đất nước đàn em, hãy tỉnh mộng, hãy thôi ngạo mạn, và nếu cần hãy đọc lại lịch sử để so sánh xem chúng ta và họ, ai có tầm cao hơn về văn học, kiến trúc, hội họa và bây giờ là điện ảnh!” (Trích ở đây).

Trở lại dòng bức xúc của anh chàng người Việt yêu điện ảnh ở Berlin trên thượng dẫn:

Berlinale Palast- 2014 – Khán giả yêu Phim xếp hàng mua vé đông hơn Việt nam xếp hàng mua gạo thời bao cấp. Điều đặc biệt là không thấy người Việt nào. Đang mải Đóng gạch, về già lại mang ra chữa bệnh ?”

Nhưng anh ta đâu có biết, đã có bao người tâm huyết với nghề (như tôi thuở nào) phải nuốt nước mắt vào trong, chào thua trước “lưỡi kéo kiểm duyệt” sắc lẻm và vô cảm như FB. Nguyễn Đình Bốn mô tả. Viết đến đây, lại vừa nhận được phản hồi của một đồng nghiệp cũ cùng cơ quan với tôi, nay đã nghỉ hưu, ghi trên “Phây“ cá nhân của tôi, sau khi đọc bài thơ “35 NĂM! HÃY NHẢY MÚA ĂN MỪNG…“ của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, xin trích:

“Tôi còn nhớ hồi năm 2006, tôi có làm bộ phim “Từ đại hội đến Đại hội” nói về lịch sử Đảng CSVN từ năm 1030 (1930) tới lúc đó. Vào thời kỳ 1979-1980, tôi có đưa vào một vài phút lịch sử những chiến thắng của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc chiến tranh Biên giới 1979. Đoạn phim chỉ khoảng dăm, mười cảnh có hình bộ đội ta đào hào, chui rừng, phục kích đánh giặc tàu… Khi duyệt phim, những người lãnh đạo ĐA và VHTT đã bắt cắt tất cả, cắt k còn nửa giây, nửa chữ. Đấy là mình làm phim ca ngợi sự lãnh đạo thông minh sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước bất khuất của nhân dân ta… huống chi, bà con nhân dân giờ ra đó mà kỉ niệm, kỉ niếc… Ôi, còn lâu mới được…“ 

Vậy mà, cũng đọc được những thông tin NGƯỜI HÀ NỘI TƯỞNG NIỆM 6 VẠN NẠN NHÂN 17.02.1979, post lại trên “Phây“ của tôi, anh bạn trẻ (trưởng nam của một cố NSƯT ĐA ở Hà Nội), khuyên nhủ tôi rằng:

Tôi nghĩ anh ko nên viết (phản biện), anh mạnh về phim ảnh, hãy làm phim ảnh mang đi liên hoan mà chiếu cho thiên hạ xem, ấn tượng và sức mạnh ghê gớm hơn là viết mấy bài trê trách chỉ có dân ta xem được. Dân ta chỉ A dua A tòng, khin (không) có phong trào lớn các nước đứng lên làm hộ ta, may ra có người dám theo.

Thiết nghĩ, anh bạn trẻ này chưa hiểu tình hình thực tế của ĐAVN? Hay anh ta có được chút may mắn hơn con cái những nghệ sỹ đã cống hiến cả cuộc đời, mà vẫn mất mùa trắng tay trước sự nghiệt ngã của nghiệp chướng cuộc đời. Nên mới có cái nhìn méo mó và tiêu cực như thế?!

Gocomay

__

P/S: Xem lại bài:

 Đỉnh đèo Hải Vân tháng 3.1988 - trên đường vào dự LHP VN-VIII ở Đà Nẵng.  (Từ trái qua phải: Thanh An, Phan Sơn, Trần văn Thuỷ, Gocomay)


Đỉnh đèo Hải Vân tháng 3.1988 – trên đường vào dự LHP VN-VIII ở Đà Nẵng.
(Từ trái qua phải: Thanh An, Phan Sơn, Trần Văn Thuỷ, Gocomay)

Người anh tử tế Trần văn Thuỷ (*)

08/19/2009 11:05 pm

Đắn đo mãi mới dám viết cái entry này, vì không khéo có người lại kêu, “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Ừ , thì bắt quàng đấy! Đã sao nào? Miễn là cái tâm, cái động cơ của mình chẳng hề đục, dơ! Thế là có thể vui, mà bắt tay vào bàn phím… gõ được rồi.

*  *  *

Anh Thuỷ sinh trước tôi chừng hơn một giáp. Nhưng anh vào nghề thì chỉ sớm hơn tôi khoảng mươi năm, anh vào khoá 3, còn tôi khoá 6 trường Điện Ảnh Việt Nam ở 33 Hoàng Hoa Thám Hà Nội. Vừa học xong quay phim thì anh được cử vào chiến trường B2 ngay, xong lại đi học Đại học Điện Ảnh Vờ-Gík ở Liên Xô, nên mãi tới 1979, khi tôi ở phim Truyện chuyển sang phim Tài liệu Khoa học thì mới được gặp anh lần đầu.

Không sinh hoạt cùng phân xưởng, nhưng anh như người hùng, luôn là tâm điểm của nhiều đồng nghiệp, kể cả những em hoa khôi xinh đẹp ở xưởng phim. Họ có cảm tình với anh vì anh đẹp trai, lịch lãm, ăn nói có duyên, rất lôi cuốn người xung quanh, dù đó chỉ là một anh công nhân làm thợ mộc ở cơ quan.

Tháng 3.1979 anh lên Việt Bắc quay được cảnh những người lính Trung Quốc bị ta bắt, giải về tập trung ở sân vận động bóng đá Thái Nguyên, khi về anh đã phát triển và hoàn thành được bộ phim “Phản Bội” được đánh giá là khá thành công (1). Hồi đó vợ tôi làm máy chiếu ở ĐH Thuỷ Lợi, nên tôi mời anh Thuỷ mang phim tới và giới thiệu (ở sân bãi ngoài trời) với sinh viên. Hàng ngàn người tới tham dự chật ních sân, mà im phăng phắc xem một phim tài liệu từ đầu tới cuối, thật là một hiện tượng hiếm có khiến tôi cũng được hãnh diện là cùng cơ quan với anh.

Sau đó thấy anh, Đào Trọng Khánh, Lưu Hà dắt díu nhau đi làm phim “Hà Nội 5 cửa ô”. Nhưng khi xong phim lại hoá ra “Hà Nội Trong Mắt Ai” (HNTMA) gây tiếng vang rất lớn ở toàn xưởng. Đa số cán bộ CNVC từ người quét rác đến anh bảo vệ đều theo dõi và ủng hộ rất mạnh. Nhiều cán bộ phụ trách từ phân xưởng tới ban giám đốc, thấy khí thế dân tình vậy cũng “tát nước theo mưa”, có lúc bốc lên còn nói mạnh “còn cái quần đùi cũng bảo vệ HNTMA!”… (2)

Nhưng sự thể đã không đơn giản như vậy, khi thấy một số người ở bên trên, tiêu biểu là các ông Tố Hữu và Hoàng Tùng (3) không tán thành bộ phim vì cho rằng có một số cảnh và lời bình mang tính cạnh khoé, phạm huý kỵ, nên kiên quyết bắt sửa lại cắt bỏ thì mới cho phép phát hành. Những con kỳ nhông (cán bộ lãnh đạo cơ hội bên dưới) đã quay ra đì Trần văn Thuỷ, bắt sửa cho bằng được. Trần văn Thuỷ cũng ngang, mặc dù chấp hành sửa nhưng chỉ thêm vào vài cảnh có tính “cúng cụ” vô hại cho phim như các cảnh cảm tử quân, tiêu thổ kháng chiến 1946 và tiếp quản thủ đô tháng 10.1954 ở Hà Nội chứ nhất định không chịu thay hay cắt bỏ những phần hay nhất (mà cũng nhạy cảm nhất) trong phim. Kết quả phim vẫn cứ bị cấm, cho dù thủ tướng Phạm văn Đồng đương thời đã có lời nói ủng hộ. Tác giả chính như anh Thuỷ thì bị công an theo dõi từng bước. Nhưng phim thì được chiếu chui (với danh nghiã: “chiếu nghiên cứu cho cán bộ cơ quan nhà nước”). Và chưa bao giờ, chưa bộ phim nào của ĐAVN (thể loại Tài Liệu) lại được người ta xếp hàng đua nhau đi xem một bộ phim chưa được phát hành nhiều đến như thế.

Mùa hè năm 1983, tôi vào quay phim ở Đà Nẵng, khi biết tôi cùng xưởng phim với tác giả HNTMA, bà con Đà Nẵng xúm lại hỏi han rất nhiều, những lúc rảnh tôi còn đọc cho vài người mà tôi thân ở KS Đà Nẵng những đoạn lời bình của HNTMA, tôi lén ghi vào quyển sổ tay, mà đã thấy họ cảm phục anh Thuỷ tới mức nào rồi. Tôi cũng sướng củ tỷ vì thấy người dân ta vẫn còn mến phim Tài Liệu như thế, cho dù như trong ngành vẫn ví phim tài liệu chỉ là chiếu để dọn bãi cho phim truyện.

Năm sau, một hôm đang ngồi chơi quán nước trong xưởng, thấy anh Thuỷ tới và nói: “Anh vừa đi Campuchia về, anh có chút quà mọn cho em, nhưng hôm nay anh lại quên ở nhà, hôm nào rảnh ghé anh chơi…”. Thật sướng run người lên ấy chứ, được một người tài như thế, nổi tiếng thế mời tới nhà, thì còn gì hơn? Anh khen tôi có những khuôn hình quay phim rất tốt… như cái phim “Ngũ Hành Sơn” chẳng hạn … chỉ riêng hai cuốn phim đó mà anh đem theo, dạy cho lớp đạo diễn phim tài liệu ở Phnông-Pênh do nước bạn mời. Trong phần thực tập Montage (dựng phim), anh hướng dẫn sinh viên nước bạn đã cắt được tới 5 phim ngắn chi tiết khác rất ấn tượng. Anh tha thiết, rất muốn có dịp nào được mời tôi đi quay phim cho anh. Nhưng cho mãi tới khi tôi từ biệt xưởng phim (cuối 1992) cả tôi và anh cũng không thực hiện được cái ước muốn tưởng chừng đơn giản như thế.

Năm 1984, sau khi làm thành công bộ phim đầu tay có tên “Thuỷ điện nhỏ” tôi như được chính thức bước một chân vào nghề đạo diễn, dù chân kia vẫn là quay phim.

Năm 1985, tôi làm phim “Bệnh Dịch Hạch” anh cũng luôn để mắt tới tôi, anh sửa giúp tôi dù chỉ vài chữ trong phần lời bình thôi. Nhưng khiến tôi cảm kích mãi.

Năm 1986, sau khi được tôi mời tới dự buổi duyệt hình một phim mới của tôi, phim “Làng tranh Đông Hồ” (LTĐH), anh chủ động ngỏ ý muốn tiến cử cho tôi một người viết lời bình cho phim. Lúc xong phim tôi mới dám hỏi: “sao anh tốt với em thế?”. Anh cười, nói, “đơn giản thôi, vì anh rất thích những khuôn hình của em trong phim này…”. Anh còn nói, anh thấy cái “e” của Làng Tranh Đông Hồ mà có anh Nguyễn Quân viết lời bình thì tuyệt cú mèo…

Anh dẫn tôi tới nhà hoạ sỹ Nguyễn Quân ở khu tập thể quân đội ở phố Phan Đình Phùng (4) dạo đó anh Quân đang làm thư ký ở Hội Mỹ Thuật. Ban đầu tôi cũng ngại, vì hai người mà tôi mời làm cố vấn chuyên môn là hoạ sỹ Thẩm Đức Tụ và nhà nghiên cứu MT Nguyễn Đỗ Bảo thì luôn “mặt trăng mặt trời” với Nguyễn Quân, nhưng may thay, anh Quân đã nhận lời ngay khi biết tôi đang làm phim LTĐH. Một ngạc nhiên nữa, chỉ cần xem hình (nháp) bộ phim có đúng một lần mà Nguyễn Quân phăng ra được những dòng lời bình như thế! Cứ như là Nguyễn Quân và LTĐH có duyên nợ với nhau từ kiếp nào vậy? tất nhiên là đạo diễn tôi phải làm cái việc khớp, ráp, tu bổ cho nó gắn quyện với hình. Giữa lúc đó Thẩm Đức Tụ lại giới thiệu nhà văn Tô Hoài tình nguyện tới giúp tôi sửa lời bình (mà không cần thù lao) vì cũng rất mến LTĐH! Thế mới gay, nhưng tôi cũng đành phải nhận lời, vì sợ nhà văn của “Dế Mèn phiêu lưu ký” buồn (5).

Phải nói phục cụ Hoài thật, bận thế mà cũng rất nhiệt tình và sửa (bằng bút chì) cái lời bình (vốn anh Quân viết rất nguệch ngoạc mà tôi phải cho đánh máy lại) rất chi là cẩn thận. Là đạo diễn, tôi có toàn quyền quyết định từng câu chữ trước khi hoà âm phim, nên ban đầu tôi định dung hoà cả hai bản của anh Quân và cụ Hoài. Nhưng anh Thuỷ đã can ngăn tôi, anh nói, anh rất kính trọng nhà văn Tô Hoài nhưng ở đây anh phải nói thẳng, tất cả phần sửa (biên tập) của cụ không có gì mới cao hơn mà chỉ như “rắn vẽ thêm chân” mà thôi! Để kiên quyết hơn anh còn nói thẳng: “em mà dung hoà hai văn bản như vậy là em đã xúc phạm Nguyễn Quân đấy! Dù anh Quân với cụ Tô Hoài là không có vướng mắc gì…”

Nghe anh Thuỷ, tôi đã không thay đổi gì nữa. Và phim LTĐH đã lọt được vào mắt xanh tới hai LHP Quốc tế lớn là Kraków (Ba Lan) và Leipzig (CHDC Đức) vào tháng 6 và tháng 11 năm 1987.

Mùa xuân năm 1988 khi mang hai phim là Dịch hạch và LTĐH đi dự LHP Quốc gia 3/1988, tôi lại được cùng anh Thuỷ trong đoàn đại biểu của hãng vào Đà Nẵng suốt một tuần.(6)

Sau đận ấy tôi và anh cũng thưa gặp nhau hơn, cho tới khi tôi rời VN vào tháng 11.1992. Lý do chính, hãng phim đang sản xuất 100 phim/ năm. Xoá bao cấp phim chỉ còn mươi mười lăm. Có năm chỉ chừng 5 phim, nên nhiều anh em đạo diễn quay phim còn phải đi bán vé tự phát hành phim Video ở các địa phương. (7)

Để tránh phải làm các công việc oái oăm ấy tôi trốn vào lớp chuyên tu ở ĐHSKĐA ở Mai Dịch cho tới cuối 1991, và còn làm rốn được một phim “Người nông dân & ruộng đất” (với danh nghiã quay phim). Năm 1992 làm được thêm hai phim: “Hà Nội có cầu Long Biên” (phim nhựa) và “Mặt gương Hồ Tây” (Betacam-Video) với danh nghĩa kịch bản và đạo diễn, trong khi nhiều anh tài chỉ tới hãng để ngồi gốc ngâu. (8)

Mãi tới năm 2006, sau 14 năm tha hương, tôi được gặp lại anh Thuỷ ở ngôi nhà mới của anh ở gần Bưởi. Đó là căn biệt thự do anh tự tay vẽ mẫu khá đẹp, anh mua đất và cất nhà. Ở đất thuộc làng hoa Vĩnh Phúc trước kia. Anh thủng thẳng nói, đời sống của gia đình anh thì được cải thiện hơn xưa nhiều nhưng vẫn buồn…. vì đời sống tinh thần nói chung vẫn chưa được như ý … cả cái sự nghiệp phim ảnh mà anh theo đuổi cả đời kia nó vẫn như giấc mơ trưa thoắt ẩn, thoắt hiện mà chưa được trọn vẹn bao giờ…

Anh lôi cả rượu Minh Mạng thang ra đãi tôi, anh khoe vừa hoàn thành xong cuốn “Nếu đi hết biển” phát hành tại Mỹ. Anh mang về được hàng trăm cuốn mà vẫn trót lọt, không gặp rắc rối gì … có lẽ do trời thương người có tâm…. để anh tặng riêng em một cuốn….. Nhưng tàn cuộc rượu thì tôi đi người không về, vì quên. Nhưng anh lại nhớ, anh cẩn thận, ký lưu niệm nhờ chị Hằng vợ anh gửi Vũ (9) mang tới nhà trước hôm tôi trở về Đức. Thiết nghĩ cái tình của người đàn anh, với một thằng đàn em vô danh là tôi, như thế có lẽ cũng qúi hoá và nhớ tới suốt đời.

Hôm nghe tin anh có tên trong danh sách đầu tiên, cùng 135 trí thức lớn của đất nước ở cả trong và ngoài nước kiến nghị với lãnh đạo nhà nước, chính phủ và quốc hội về khai thác Bauxite ở Tây Nguyên hôm 14.04.2009 trên trang webseite trannhuong.com, thì tôi mới có được địa chỉ E-mail của anh để thăm anh. Không giống như bao người xứ mình thời nay, nhận được thư, anh hồi âm tức thì, anh chia xẻ, cũng chẳng thạo vi tính là bao, chỉ vào mạng đọc thư và báo chí là chính thôi. Anh còn báo tin vui, sắp có chuyến đi Mỹ lần thứ 5, do các trường ĐH Hoa Kỳ mời, thật mừng cho anh.

Nhưng đọc tới đoạn sau thì lại hơi đượm buồn! Anh viết:

“Từ khi về hưu đến giờ, công việc không bao giờ ngừng nghỉ. Già rồi, năm nay 70 xuân, Lê Mạnh Thích, Phùng Ty, Tô Việt Hải, Ba tơ Liêu … ra đi 3, 4 năm rồi, đang chờ mình ở dưới đó.

Chúc vạn sự an lành.

Thủy ” (10)

Cám ơn người anh vẫn còn thương còn nhớ thằng đàn em khốn khó.

Đặc biệt nhớ tới những đồng nghiệp lam lũ, buồn, vui, yêu, ghét, kỷ niệm, gắn bó một thời. Tôi biết, anh cũng chẳng khoẻ mạnh. Vì trong người còn bị nhiều chứng bệnh, di chứng từ cái thời gian khổ nơi chiến trường xưa. Nhưng anh đã sống một cuộc đời nhân hậu, nên trời thương! Mặc dù anh đã phải chua chát tự nhận “quái” tự nhận “nghề làm phim là nghề hèn và mọn”

hay “Đ những bộ phim của mình đến được với công chúng, tôi đã phải lấy lòng người này, rồi đối phó, thậm chí lường gạt người kia…” (11)

Anh Trần văn Thuỷ, người biết mình còn chưa toàn mỹ chính là người toàn mỹ vậy!

Anh chính là người đàn anh trong nghề tử tế nhất mà tôi đã từng gặp trong đời.

Gocomay

___

(*) Anh Trần văn Thuỷ ĐD phim Chuyện tử tế.

(Xem ở đây: http://www.youtube.com/watch?v=zzpJ4GOPVWU)

(1) Phim Phản Bội đã được trao giải Bông sen vàng tại LHP Việt Nam lần thứ VI ở TP HCM.

(2) Xem Hà Nội Trong Mắt Ai

(Xem ở đây: http://www.youtube.com/watch?v=GfT-U-4k1Vw)

(3) Thời điểm đó Tố Hữu là phó thủ tướng thường trực; Hoàng Tùng là Bí thư TW phụ trách Ban Tuyên giáo. Còn bên dưới Bùi Đình Hạc là người theo lệnh trên đì bộ phim nhiều nhất.

(4) Số nhà thì tôi không còn nhớ, nhưng nhà anh Thuỷ ở số 10 Hàng Bún thì tôi vẫn ghé thường xuyên.

(5) Dạo đó Tô Hoài là chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội ở 19 Hàng Buồm.

(6) Kết thúc LHP VN lần VIII, anh Thuỷ được một Bông Sen Vàng cho phim HNTMA còn tôi cũng được một giải đặc biệt cho phim LTĐH và một giải Bông Sen Bạc cho phim Dịch hạch.

(7) Hồi đó hãng phải tự bỏ vốn làm và tự phát hành phim truyện Video dựa theo tiểu thuyết “Bỉ vỏ” của Vũ Trọng Phụng.

(8) Ở đối diện phòng hành chính và cổng bảo vệ hãng xưa có mọc một khóm ngâu khá to, mọi người nhàn cư thường hay ngồi đó tán róc với nhau…

(9) Nguyễn Như Vũ, nhà quay phim kiêm đạo diễn ở hãng phim TLKH-TW

(10) Trích thư hồi âm của anh Thuỷ gửi PC hồi cuối tháng 4/2009 qua E-mail

(11) Bài: Đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Trần Văn Thủy: “Làm phim tài liệu phải… quái một chút” Báo Pháp Luật TPHCM Online – 22-12-2007 23:18:09 GMT +7.

____________________

784 – Đừng “bốc xôi làng”, oản chuối cho người đã khuất!

Danh0 hài Văn Hiệp, người với nửa thế kỷ gắn bó với  sân khấu, điện ảnh và truyền hình.

Danh hài Văn Hiệp, người với nửa thế kỷ gắn bó với sân khấu, điện ảnh và truyền hình.

Dư luận đang tiếc thương sự ra đi đột ngột của “bác trưởng thôn” – Văn Hiệp chưa ngớt thì lại rộ lên chuyện tranh cãi có nên vận động rầm rộ xin chữ ký trong đám tang như vậy để xin Chủ tịch nước phong danh hiệu Nghệ sỹ ưu tú (NSƯT) cho bác Hiệp hay không? (Xem ở đây)

Trên một tờ báo mạng của quốc doanh đang có cuộc thăm dò ý kiến:  Theo bạn, các nghệ sĩ có cần thiết vận động phong tặng danh hiệu NSUT cho diễn viên Văn Hiệp?

Tới giờ phút này (22 giờ 30 phút, ngày 13/4/2013), số người hưởng ứng với câu hỏi: Có danh hiệu hay không thì bác (Văn Hiệp) vẫn là người nghệ sỹ sống trong lòng dân là được nhiều ý kiến hưởng ứng nhất (chiếm 61,23%). Trong khi đó 2 câu hỏi khác là: Người chết rồi còn phong tặng làm chi. Hãy để bác ấy yên nghỉ (đạt 19,66 %). Và câu: Cần thiết chứ. Muộn còn hơn không (chỉ đạt 18,10 %). Những người hăng hái nhất nêu ý tưởng đề nghị nhà nước truy tặng danh hiệu nghệ sỹ cho diễn viên Văn Hiệp là các Đạo diễn-NSND Doãn Hoàng Giang; Đạo diễn-NSND Khải Hưng và Diễn viên-NSƯT Minh Vượng (Minh Vượng đề nghị truy tăng danh hiệu NSND). Ngay trong đám tang, NSND Khải Hưng đã vận động hơn 150 nghệ sĩ ngoài Bắc cùng kí đơn đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú cho danh hài Văn Hiệp. Nhiều nghệ sĩ không có mặt tại đám tang cũng bày tỏ nguyện vọng được cùng tham gia ký đơn. (Xem ở đây)

Các nghệ sĩ đã đồng loạt kí tên trong đám tang của nghệ sĩ Văn Hiệp. Ảnh: BK

Các nghệ sĩ đã đồng loạt kí tên trong đám tang của nghệ sĩ Văn Hiệp. Ảnh: BK

Như vậy theo nhận định của tôi, nếu cơ chế xin cho (“bốc xôi làng”) vẫn tiếp diễn thì lời thỉnh cầu (đơn xin) của các nghệ sỹ cho “bác trưởng thôn”-Văn Hiệp danh hiệu NSƯT chắc như cua gạch vào đợt phong danh hiệu đợt tới (khoảng 2017) là miễn bàn.

Mặc dù vậy dư luận thì vẫn cứ băn khoăn. Như câu hỏi và câu cảm thán: Chuối oản để ai xơi?Đừng xin danh hiệu cho Văn Hiệp!Hãy để cho diễn viên Văn Hiệp yên! hay Đã đến lúc chúng ta để cho “bác trưởng thôn” yên nghỉ!

Nhưng sự đời thật trớ trêu. Bởi theo ngôn ngữ của hài kịch sẽ có người gắt nhặng lên và bảo: vớ vẩn nghỉ là nghỉ thế nào. Chuối oản hay danh hiệu bác Văn Hiệp không cần thì người sống cần. Nhà nước bỏ ra có mươi triệu mà lại được tiếng thơm là quan tâm là chăm lo từ người sống tới người chết như vậy thì cho dù bác ý không muốn cũng phải dựng bác dậy động viên bác sắm cho xong vai diễn còn dang dở. Để hoàn thành xứ mạng vẻ vang của người nghệ sỹ – văn công của xứ sở có “chỉ số hạnh phúc đứng thứ hai thế giới” chứ?!

Nghệ sỹ Văn Hiệp và cây điếu cày đồng hành trong nhiều vai diễn...

Nghệ sỹ Văn Hiệp và cây điếu cày trong nhiều vai diễn…

Mặc dù vậy, “bác trưởng thôn” đáng mến nhà ta không phải lúc nào cũng giành được cảm tình của tất cả mọi người. Như câu chuyện anh bạn hàng xóm của tôi (đang ở Đức) kể chẳng hạn. Anh nói, một dạo không cuối tuần nào là hai ông diễn viên (có nét mặt khắc khổ giống nhau) là Văn Hiệp và Trần Hạnh là không xuất hiện trên VTV4. Nhưng cứ mỗi khi động viên con cái xem chương trình VTV4 cuối tuần để cho các cháu gắn bó với quê hương và trau dồi thêm tiếng Việt… mà thấy hai ông Hiệp và Hạnh xuất hiện trên sóng là chúng lại rú lên và đòi tắt tivi ngay. Gặng hỏi, chúng bảo tại sao lại bắt chúng xem những ông già có những hàm răng khấp khểnh (do từ bé không kẹp) và đen đúa (do hút thuốc lào nhiều) xấu xí thế không biết. Anh ta đã đem chuyện này phản ảnh với một vị cán bộ cao cấp ở Ban Tuyên giáo của nhà nước mà anh ta gặp tình cờ và quen trong một tua du lịch ở Berlin. Sau đợt đó không lâu, cả hai bác Văn Hiệp và Trần Hạnh không còn thường xuyên lên sóng như trước nữa. Anh hàng xóm khoái chí và khoe với tôi “tiếng kêu (của anh ta) đã thấu tới trời”. Song tôi nghĩ, không hẳn là như vậy. Chương trình “Gặp nhau cuối tuần” do Đạo diễn tài ba Khải Hưng và cộng sự khởi xướng đã cạnh khoé (“chạm nọc”) tới nhiều chức sắc vai vế trong guồng máy. Nên bị dẹp. Cũng như các chương trình hài táo quân phát vào đêm giao thừa hàng năm thường được nhiều người đón xem. Nên thời gian qua thường bị xăm soi xét nét nhiều về các tình tiết và lời thoại phạm ”húy kỵ”. Chứ không phải ở vài cái ngoại hình “phản cảm” của các vai diễn. Đó cũng chính là lý do lý giải cho việc các diễn viên hài nổi tiếng như “bác trưởng thôn”, ở cái tuổi 72, sau cả nửa thế kỷ làm diễn viên ông vẫn chưa được nhận một danh hiệu nào chỉ vì ông không có đủ huân chương, giải thưởng để được xét duyệt (Tham khảo thêm ở đây). Cùng lứa diễn viên khóa 1 trường Sân khấu Mai dịch với ông, các bạn bè đồng môn như Doãn Hoàng Giang; Trọng Khôi; Đoàn Dũng; Trần Tiến; Thế Anh… tất cả đã nhận danh hiệu NSND từ tám hoánh rồi.

Tôi cũng không chăm xem các chương trình hài kịch lắm. Nhưng tối qua, nhân sự kiện đang nóng này, tôi tìm và xem bằng được cả hai tập Video hài xuân 2013: “Cụ tổ hiển linh” của (chú học trò cũ của tôi) nhà đạo diễn đang nổi Phạm Đông Hồng * (Xem dưới đây!)

Xem xong 2 tập Video trên tôi đã bị mất ngủ và thương cho người diễn viên Văn Hiệp tài hoa mà đa truân.

Ở tác phẩm cuối cùng này. Ông đã trút hết cái “tinh anh phát tiết ra ngoài” mà người con trai ông gọi là “chuyến gánh gồng sau chót”. Để sau đó “gục ngã” và… từ từ đi mãi vào cõi vĩnh hằng. Tôi đánh giá với vai diễn để đời này, khán giả của màn ảnh nhỏ đã gắn danh hiệu nghệ sỹ của nhân dân cao qúi nhất cho nghệ sỹ rồi. Không có thứ danh hiệu (theo cơ chế xin cho) nào sánh kịp được nữa.

Không biết có ai đặt câu hỏi, tại sao Văn Hiệp lại không làm đơn và chưa bao giờ có ý định cậy cục để giành cho được một danh hiệu mà với người khác có khi phải đơn từ xin xỏ tới hai ba lần. Như trường hợp hai diễn viên Tố Uyên và Đức Lưu là ví dụ. Cả hai đều thành danh với các vai diễn để đời trong Con chim vành khuyên và Làng Vũ Đại ngày ấy. Nhưng cả hai đã phải làm đơn đến 2, 3 lần mới đậu NSƯT!

Nghệ sỹ Tố Uyên đã thành danh trong "Con chim vành khuyên" từ đầu thập niên 1960.

Nghệ sỹ Tố Uyên đã thành danh trong “Con chim vành khuyên” từ đầu thập niên 1960.

Cũng không biết đằng nào. Trên cho thì được mà không cho thì cũng đành chịu chứ biết làm thế nào. Phận mình mỏng thì đành vậy thôi”. Đó là sự trải lòng của nghệ sỹ Tố Uyên trả lời báo giới lý do tại sao các lần làm hồ sơ trước bị bác đơn. (Xem ở đây!)

Cái lý do được anh Khải Hưng đưa ra rằng: “Thủ tục vẫn là thủ tục bởi nếu không có nó chúng ta sẽ rơi vào tranh luận, sa lầy không đúng nguyên tắc. Thực tế anh Văn Hiệp không ở đoàn thể nào nên rất thiệt thòi. Anh ấy từ Nhà hát Kịch đi ra, là diễn viên tự do, không  tham gia vở diễn gì mà dự hội diễn để có huy chương mà theo đúng luật, có huy chương thì mới được xét danh hiệu nghệ sĩ.”

“… Văn Hiệp rất oan dù anh ấy xứng đáng được trân trọng. Vì anh ấy không đóng vai chính kịch nên không có huy chương nhưng điều lớn nhất là những vai diễn của Văn Hiệp đi vào lòng người. Văn Hiệp rất xứng đáng là nghệ sĩ của nhân dân”

Theo tôi, lý do “anh Văn Hiệp không ở đoàn thể nào” là không có sức thuyết phục. Chả nhẽ nghệ sỹ Văn Hiệp không phải là hội viên của Hội Nghệ sỹ Sân khấu (hay Hội Điện ảnh nơi anh Khải Hưng đã từng là Phó chủ tịch hội)?

Chẳng qua “bác trưởng thôn” nhà ta thấy cảnh bon chen “Trên cho thì được mà không cho thì cũng đành” thành ra ái ngại mà chẳng hứng thú đơn từ xin xỏ. Cũng như trong cuộc sống gia đình, nghệ sỹ Văn Hiệp quên bản thân mình để cả đời dành dụm cho vợ cho con như lời đạo diễn Khải Hưng nhận xét chính là nét son chấp nhận hy sinh vì người khác của ông.

Bà Văn Dung khóc ngất trong đám tang chồng (9/4/2013).

Bà Văn Dung khóc ngất trong đám tang chồng (11/4/2013).

Song cực đoan như mô tả “Có lần đi nước ngoài với anh Văn Hiệp, anh ấy đã rút đến đồng xu cuối cùng để đưa cho vợ cho con, đến mức anh ấy không còn có đủ tiền để mà về nữa…”. Như lời Khải Hưng nói (ở đây) thì chưa hẳn đã đúng. Vì ở nước ngoài nào thì tôi không biết. Chứ ở nước Đức, xã hội Đức đã không bao giờ để cho một con người (dù là người tỵ nạn không có giấy tờ cư trú) bị đói, khát và lúc đau ốm không được chăm sóc y tế. Khiến bác Văn Hiệp phải cơ cực mà vét đến “đồng xu cuối cùng để đưa cho vợ con” như thế? Nhất là vợ bác Hiệp (bác Văn Dung năm nay đã 68 tuổi) đã hội nhập lâu ở nước Đức (từ thời Đông Đức) cho tới bây giờ. Thời gian sống ở Đức còn dài hơn sống ở Việt Nam.

Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh. Không nằm trong chăn mà đưa ra nhận xét võ đoán về gia cảnh nhà khác như câu: “Gặp phải những đứa con mà tôi cho là không mẫu mực, một người vợ cũng không mẫu mực nhưng mà ông (Văn Hiệp) vẫn hết lòng” là không nên chút nào. Đây có lẽ là bài học cho cả báo giới nữa. Đi sâu vào khai thác những bất cập của gia cảnh nhà người ta (mà nhà nào chả có) để tạo thứ sìcandan (giả) để câu khách là không lương thiện. Như lời thọc mạch của một tờ báo dẫn lời (?) của người con trai lớn của bác Văn Hiệp sau đây:

“Tôi chẳng nhớ nhiều những kí ức ngày ấu thơ, khi mẹ đi xuất khẩu lao động sang Đức, để lại bố cảnh gà trống nuôi con vò võ. Mẹ đi rồi không về nữa, chẳng phải vì có một bờ vai khác cho mẹ dựa vào, hay cũng chẳng rõ vì sao nữa, nhưng từ ấy, hai anh em cảm nhận rõ một sự nứt vỡ chẳng bao giờ có thể hàn gắn…” (Ở đây)

Bức thư bà Văn Dung viết trong cuốn album để lại cho ông Văn Hiệp.

Thư bà Văn Dung viết trong album để lại cho ông Văn Hiệp.

Ta sẽ nghĩ gì, khi nghe chính người trong cuộc (Bà Văn thị Kim Dung – vợ nghệ sỹ Văn Hiệp) lại phải đính chính trong nước mắt thế này:

“Bọn tôi đã yêu nhau như vậy suốt 10 năm qua những cánh thư. Thế mà không hiểu sao có những tờ báo lại viết rằng tôi bỏ chồng bỏ con, bỏ nhà ra đi. Rồi cả chuyện anh ấy hút thuốc lào nữa, mình và các con đều không thích bởi nó hôi và ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng có báo lại bảo tôi yêu qua chiếc điếu cày, chả hiểu nổi”. (Ở đây)

Bởi thế, đa số ý kiến đã rất có lý. Khi cho rằng, Có danh hiệu hay không thì bác cũng vẫn là người nghệ sĩ sống trong lòng nhân dân!

Tôn trọng ý nguyện của “bác trưởng thôn”-Văn Hiệp lúc còn sống (đã không màng danh lợi), hãy để cho bác nơi chín suối cũng như những người thân của bác còn sống trên dương gian này được yên. Là cách tốt nhất đem lại chút phân ưu tưởng nhớ, tiếc thương người qúa cố vậy. Đừng “bốc xôi làng”, oản chuối cho người đã khuất nữa.

Người đang viết những dòng này. Cũng một thời ngang dọc và say mê cống hiến hết mình cho nghệ thuật. Nay đã rửa tay gác kiếm rồi. Nên càng cảm thông với hoàn cảnh của nghệ sỹ Văn Hiệp. Những nỗ lực cống hiến cho đời thì đã xong. Phần ghi (hay phủ) nhận công lao là việc của những người đang sống!

Như câu thơ cổ:

Nhạn qúa trường không bóng trầm hàm thủy

Nhạn vô lưu tích chi ý

Thuỷ vô lưu ảnh chi tâm

Những lưu ảnh đẹp của “bác trường thôn”-Văn Hiệp vẫn sẽ còn mãi trong mai hậu!

Gocomay

___

* PS: Trong 2 năm 1986 – 1987, tôi có nhận 3 học trò khoa Quay phim ở Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội (Mai dịch) về làm luận án phim tốt nghiệp (thông qua 3 bộ phim tôi làm ở Hãng phim Tài liệu – Khoa học T.W.). Sau đó, cả 3 đều đã được nhận bằng tốt nghiệp. Nhưng người có công dẫn dắt các em (trong đó có Phạm Đông Hồng- Đạo diễn bộ phim cuối cùng có bác Văn Hiệp đóng vai chính) thì có lẽ chẳng ai còn nhớ tới nữa…

Phạm Đông Hồng ngồi kế bên Gocomay từ phải sang. (Kiên Giang 1987, khi hòn phụ vẫn còn)

Phạm Đông Hồng ngồi kế bên Gocomay từ phải sang. (Kiên Giang 1987, khi hòn phụ còn)

___________________

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ