858 – NHỮNG ĐỨA CON CỦA NGƯỜI THỢ ẢNH

847 – “Ai về nước Nam cho tôi về với”

123-1415986615256

Tôn tượng Tuệ Tĩnh – Nguồn: suckhoedoisong.vn

“Ai về nước Nam cho tôi về với” – Đó là lời cuối thống thiết của vị   Đại  Danh Y  Thien sư xứ Việt: Tuệ Tĩnh. Trước khi gửi nắm xương tàn nơi người.

Tuệ Tĩnh tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, quê ở làng Xưa, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Bá Tĩnh mồ côi cả cha lẫn mẹ từ năm lên 6 tuổi, được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh.

Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người. Ông nổi tiếng với phương châm: Nam dược trị Nam nhân. Trong 30 năm hành nghề thuốc Nam ở quê ông đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc. Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Trong trước tác của mình, ông không rập khuôn theo các đời trước, Ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ trước tiên! Ông cũng phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc. Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông, v.v. Quan điểm chữa bệnh thông tuệ ấy đã đưa ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc Nam!

Vậy mà ông bị tuế cống cho triều nhà Minh bởi vị vua ngu muội Trần Dụ Tông. Năm đó (1385) ông đã 55 tuổi. Mặc dù ông được vua Minh phong Đại y Thiền sư, nhưng Tuệ tĩnh xót thương cho số phận của mình và luôn đau đáu hướng về quê hương. Ông chết ở Giang Nam, trên bia mộ của ông ngày nay vẫn còn dòng chữ “Ai về nước Nam cho tôi về với”.

Năm 1690 tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đi sứ sang Trung Hoa, tình cờ thấy mộ Tuệ Tĩnh, nhận ra là người cùng làng. Cảm động với lời nhắn gửi thiết tha của vị danh y, tiến sỹ Nho đã sao chép bia mộ và tạc khắc bia đá mang về quê Hải Dương bây giờ. Đền thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh được xây dựng vào thời Lê, sau đó được làm lại vào thời Nguyễn và được trùng tu nhiều lần. Các triều Đại phong kiến đều đã coi đây là Di tích quan trọng của Quốc gia. Nhưng dưới thời đại “rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc” đền thờ xưa, nay đã xuống cấp tới mức mục nát trơ dui tróc ngói.

mMgHbBZ

Di tích đền Xưa, Cẩm Giàng, Hải Dương – Nguồn: camgiang.haiduong.gov.vn

Trong lúc người ta sẵn sang bỏ ra hàng ngàn tỷ để xây dựng các chùa chiền và tượng đài hoành tráng ở khắp mọi nơi. Nhưng, một Thánh Y lớn của dân tộc là Tuệ Tĩnh bị ghẻ lạnh lãng quên. Khi dự án tu bổ khu di tích Tuệ Tĩnh (Đền Xưa và Đền Bia) ở Cẩm Giàng đã được UBND Tỉnh phê duyệt với mức kinh phí 3,2 tỷ đồng mà suốt 8 năm (từ 2007-2015) dự án vẫn đắp chiếu. (Xem ở đây).

Hôm qua, mỗ đọc được một bài trên báo Đất Việt: Người Việt bán dược liệu qúi nhập rác Trung Quốc về chữa bệnh. Thấy cay mắt. Bài báo kể: từ sáng sớm mờ sương, người từ các xã Đắk Pék, Đắk Man, Đắk Choong, Đắk Nhoong, Mường Hoong, Ngọc Linh và TT.Đắk Glei cùng rủ nhau đi vào rừng để tìm thảo dược. Trong các loại cây dược liệu ở rừng Ngọc Linh thì cây máu chó dễ tìm hơn cả. Khi hỏi công dụng của cây máu chó, hầu như những người đi rừng ở đây không ai biết, mà nói là nghe mấy thương lái bảo loại cây bổ máu, chữa khỏi các loại ung thư, làm sạch máu…

Điểm thu mua các loại dược liệu được đặt ở làng Đắk Boi (TT.Đắk Glei), tại đây, các loại dược liệu như cây lông cu ly, rễ na rừng, máu chó được chất thành kho rộng hàng trăm mét vuông. Toàn bộ số dược liệu thu gom được ở đây sẽ chở đến các đầu mối lớn ở cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) để xuất sang Trung Quốc.

nghich-ly-ban-Duoc-lieu-quy-NHAP-rac-ve-Chua-benh_17134214

Cơ sở thu mua thảo dược ở TT.Đắk Glei – Nguồn: baodatviet.vn

Tại Lạng Sơn, thương lái Trung Quốc thu mua các cây dược liệu như hoàng đằng là thực vật quý hiếm thuộc nhóm IIA, cần phải bảo vệ hay các loại nấm lim, nấm chẹo … đều có tác dụng chữa bệnh khiến người dân đổ xô đi tìm để bán. Tại Nghệ An khi người dân tại huyện Kỳ Sơn kéo nhau vào rừng thuộc Khu dữ trữ sinh quyển Tây Nghệ An tìm chặt thân cây kim mao cẩu tích (còn gọi là cây cu li, cây lông khỉ) để bán cho các thương lái xuất sang Trung Quốc. Cây này được xem là vị thuốc chuyên trị đau lưng, gân xương nhức mỏi… Còn tại các huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong (Nghệ An), thương lái Trung Quốc thu gom dược liệu chủ yếu lá chua ke – một loại cây chứad ược liệu lại có khả năng che chắn, chống xói mòn, sạt lở đất. Các loại cây dược liệu như cu li, cây ba gạc, cây huyết đằng, củ ba mươi dân đổ xô đi săn lùng trong rừng mang về bán cho các thương lái ở địa phương để xuất sang Trung Quốc với giá 1.500 – 30.000 đồng/kg dược liệu khô. Tại Quảng Ngãi, người dân cũng đổ xô vào rừng phòng hộ ở các huyện Sơn Hà, Tây Trà và Sơn Tây cưa chặt cả cây cổ thụ, thu hoạch quả ươi non bán cho thương lái Trung Quốc. Theo đó, có ít nhất 13 cây ươi cổ thụ hơn 40 năm tuổi ở các khu rừng đầu nguồn của Quảng Ngãi bị triệt hạ.

Mỗi khi đau bệnh, như ông Trương Văn Hiền, Tổng giám đốc Tổng công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An cho biết, 90% nguồn dược liệu ở Việt Nam phải nhập từ Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch nhưng lâu nay các thương lái Trung Quốc lại đổ xô đến nhiều vùng rừng núi nước ta để thu gom thảo dược đem về nước. “Người Trung Quốc mua dược liệu thô với giá rẻ nhưng sau khi chế biến, họ lại nhập lại Việt Nam với giá cắt cổ.

Trong khi đó, chất lượng dược liệu mua từ Trung Quốc lại không được cam kết, đảm bảo một cách chắc chắn an toàn cho sức khoẻ người sử dụng vì chúng ta không trực tiếp kiểm tra, giám sát quá trình khai thác, sơ, chế biến”.

Còn bác sĩ Lê Hùng- Phó Chủ tịch Hội Đông y TPHCM  bức xúc trước tình trạng chất lượng của dược liệu: “Rất nhiều dược liệu bị thả nổi chất lượng, giới lương y đang đau đầu không biết đâu là dược liệu sạch và đâu là rác. Nhiều trường hợp suy thận do uống thuốc đông y có độc chất”. (Xem: ở đây).

nghich-ly-ban-Duoc-lieu-quy-NHAP-rac-ve-Chua-benh_17135971

Thương lái tại H.Quỳ Hợp (Nghệ An) phơi cây dược liệu trước khi xuất sang Trung Quốc – Nguồn: baodatviet.vn

Thay cho lời kết: Một vị đại danh y như Tuệ Tĩnh, tác giả của bộ sách giá trị Nam dược thần hiệu gồm 10 khoa và bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển), trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Nôm Đường luật, và bài “Phú thuốc Nam” 630 vị cũng bằng chữ Nôm – Những tác phẩm của Tuệ Tĩnh không chỉ giá trị trong y học mà còn có giá trị văn học sử bởi vì đây là các tác phẩm ở thời kì đầu của văn học chữ Nôm. Nhưng cũng như Trần Dụ Tông (khước từ “Thất trảm sớ“ của Chu Văn An và tuế cống cho Tàu những bậc hiền nhân kiệt xuất như Tuệ Tĩnh). Ngày nay người ta cư xử với bậc đại danh y ở nơi di tích của ngài thì thấy việc để người dân phải chết trên đống thuốc mà vẫn ra công cào cấu đem bán dược liệu qúi cho thương lái Trung Quốc để rước những rác độc hại “thuốc Bắc“ về chữa bệnh đã khiến tất cả chúng ta phải tự trách mình.

“Ai về nước Nam cho tôi về với“ – Người đồng hương cùng làng của ông đã đưa được lời nhắn gửi của ông về quê Việt rồi. Nhưng tiếc thay lớp hậu sinh ngày nay đã không biết kế thừa và phát huy được tâm nguyện và thông điệp ông đưa ra. Chắc nằm lại xứ người ông vẫn còn khắc khoải lắm. Cho tới nay, cũng không một ai biết chính xác ông chết năm nào…

Gocomay

____________

828 – Con đường lên cao nguyên Lang Bi-an

tPo4lzTAk3gBfo94aK4OQANhững ngày cuối tháng 4 cách đây đúng 29 năm, nhân có chuyến công cán của bác sỹ Trâm, Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang vào TP Hồ Chí Minh họp, nhóm làm phim dịch hạch được kết hợp theo xe vào Sài Gòn.

Con đường chúng tôi đang đi, thời Ông Năm Yersin mới đặt chân tới Việt Nam, di chuyển đâu có thuận tiện như bây giờ.

Trước khi trở thành một nhà bác học danh tiếng và dành toàn bộ tâm lực cho nghiên cứu khoa học, Yersin đã để nhiều năm lao vào các cuộc thám hiểm.

Những trang nhật ký hiện còn lưu trữ ở Pasteur Nha Trang cho thấy, từ hạ tuần tháng 10 năm 1890, bác sĩ Yersin làm y sĩ phục vụ trên tuyến đường Sài Gòn-Manila. Đến tháng 4 năm 1891, ông chuyển sang làm y sĩ trên tàu “Saigon”, hoạt động trên tuyến đường biển Sài Gòn – Hải Phòng. Cuộc sống trên tàu đối với một y sĩ trẻ, có lẽ buồn tẻ. Để giết thì giờ, Yersin tập làm quen với khoa hàng hải. Ông đặt mua từ Pháp một máy kinh vĩ (théodolite) và trong lúc rảnh rỗi, ông tập sử dụng máy trên bến Nhà Rồng ở Sài Gòn.

Nha Trang là một trong những trạm dừng của tàu “Saigon”. Ngay từ lúc đầu, cảnh đẹp của Nha Trang đã hấp dẫn Yersin. Rặng núi cao ở chân trời phía Tây quyến rũ, khiến chàng bác sỹ trẻ nảy sinh dự định dùng đường núi để đi từ Nha Trang đến Sài Gòn trong vòng mười ngày!

Ngày 29.7.1891, được phép của thuyền trưởng tàu Sài Gòn, Yersin và người hầu bắt đầu chuyến thám hiểm đầu tiên. Nghe lời khuyên của công sứ Pháp ở Nha Trang, Yersin dùng ngựa đi vào Phan Rang. Mục tiêu khám phá là rặng núi cao mây phủ phía tây. Nhưng ông đã phải loay hoay suốt dải đồng bằng hẹp miền trung như thế để dò la và tìm lối đi thuận tiện cho cuộc hành trình.

Chuyến thám hiểm bất thành năm 1891 không làm Yersin nản chí, ngược lại còn kích thích lòng say mê mạo hiểm nơi ông. Cuối năm 1891, ông rời hãng tàu Messageries Maritimes để thực hiện chuyến đi của mình. Ông tiếp tục chuyến thám hiểm như thế kéo dài tới bốn nǎm ở miền trung. Ông đã tìm ra thượng nguồn sông Đồng Nai và khám phá cao nguyên Lâm Viên, nơi ông đề nghị xây dựng một đô thị, đó chính là Đà Lạt ngày nay.

Vào tới Thành Phố Hồ Chí Minh, nhóm chúng tôi được giới thiệu làm việc với bác sỹ Phạm Xuân Long, người trực tiếp theo dõi các phác đồ điều trị và hiện trạng của bệnh dịch hạch của Viện Pasteur Sài Gòn ở các tỉnh phía nam. Thành Phố HCM hồi đó còn khó khăn lắm. Dân chúng vẫn phải ăn bo bo độn cơm. Nghèo đói, dịch bệnh, trong đó có dịch hạch vẫn lẩn quất quanh đây. Tránh gây hoang mang cho dân chúng và du khách dịch bệnh không bao giờ được công bố. Vì thế việc làm phim của chúng tôi không bị cản trở mà cũng chẳng được hoan nghênh.

Trước bế tắc đó, bác sỹ Phạm Xuân Long rỉ tai tôi: “muốn cải thiện được tình hình, các ông nên nên vận động thuyết phục được hai trưởng lão hàng đầu về dịch tễ là Hoàng Thuỷ Nguyên và Đặng Đức Trạch, các ông ấy sẽ bay từ Hà Nội vào dự Hội nghị Tổng kết công tác vệ sinh phòng dịch toàn quốc ở Sài Gòn lần này đấy! Nếu có ý kiến ủng hộ của hai bậc cây đa cây đề đầu ngành, thì đảm bảo các ông sẽ thuận lợi hơn…”.

Tôi liền gặp bác sỹ Trịnh Quân Huấn và bác sỹ Lê Diên Hồng (*) vừa bay từ Hà Nội vào chuẩn bị cho hội nghị để nhờ vả. Đốc tờ Hồng là Cố vấn Khoa học cho phim, nên ông nhận lời ngay. Sau hội nghị, buổi tối hôm đó, bác sỹ Phạm Xuân Long hẹn tôi, Sinh, Khang và Nhung tới chơi ở nhà riêng ở đường Điện Biên Phủ. Vừa trông thấy tôi, Phạm Xuân Long đã lắc đầu buồn rầu nói, trước lúc khai mạc hội nghị, trong cuộc gặp gỡ xã giao giữa các tai to mặt lớn trong ngành thì Lê Diên Hồng có đưa ra bàn việc giúp đỡ cho đoàn làm phim dịch hạch của các ông. Nhưng không hiểu sao cụ Trạch lại vờ như không nghe thấy và đưa chuyện bóng đá ra bình luận sôi nổi. Khiến ông Hồng cụt hứng mà không bàn được câu nào nữa. Sau này tôi mới biết vị GSTS danh tiếng về vi trùng (Đặng Đức Trạch) này lại là bạn rất thân với khắc tinh Lương Đức của tôi. Không biết có phải vì như vậy mà công việc của chúng tôi bị ghẻ lạnh hay không? có lẽ chỉ có các vị ấy mới trả lời được câu hỏi này. Trước tình hình đó, tôi đành phải áp dụng kiểu “chiến tranh du kích” mà “trường kỳ kháng chiến“ vậy.

Càng giáp ngày 30 tháng tư, Sài Gòn bận lo kỷ niệm 10 năm ngày giải phóng, nên chẳng cơ quan nào nhận lời giúp chúng tôi quay phim, ngay cả khách sạn bình dân Bến Nghé, nơi quen thân với hãng phim như người nhà cũng từ chối, vì chật kín khách thập phương. Chúng tôi lang thang các nhà trọ với cơm bụi bà Cả Đọi (32 Ngô Đức Kế) mà chẳng làm được việc gì, đành tính nước “mã hồi“.

Sau khi tiễn chị Nhung, là thu thanh của phim ra Hà Nội nhận công việc mới, chúng tôi theo xe (vừa tan hội nghị) của Viện Pasteur Đà Lạt lên cao nguyên Lang Bi-an. Cảnh quay ở Pasteur Đà Lạt không nhiều. Nhưng tránh Sài Gòn lúc này là giải pháp hợp lý nhất cho tình huống bất lợi đang diễn ra.

Từ Sài Gòn theo quốc lộ 20 chừng 300 cây số là đến Đà Lạt. Con đường hai bên ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Vượt qua mấy cung đường dốc đứng tai ù, xe đã đưa chúng tôi tiến dần vào thành phố. Vào hạ, nắng vàng ươm trên con đường quanh co. Hương thông thơm hăng hắc, những tán thông xanh đu đưa trên nền trời và như nô đùa cùng nắng chiều trên mặt đường lấp loáng xe bon. Xế chiều, Đà Lạt bất chợt hiện ra. Xa xa bảng lảng sương trong ánh hoàng hôn và gió ngàn vi vu. Phố núi thoắt ẩn hiện sau những khúc quanh. Đà Lạt nom như một bức tranh thủy mạc. Mẹ thiên nhiên đã ban tặng cho Đà Lạt qúa nhiều ưu ái hay sao mà nơi đây không khí mát mẻ quanh năm với rừng thông bạt ngàn, những vạt hoa cúc qùy như bất tận hai bên đường đi. Xen kẽ vô vàn biệt thự lô nhô trên các sườn đồi cao thấp theo phong cách kiến trúc của Âu Châu tọa lạc sau các tán thông già.

Hotel  Sofitel Dalat Palace

Hotel Sofitel Dalat Palace

Lên Đà lạt lần này là lần thứ 3, cách đây gần 5 năm, đi chung với đoàn thám hiển Intercosmos tôi đã được ngự trong những Hotel sang trọng nhất – Sofitel Dalat Palace, nằm trên qủa đồi nhìn xuống Hồ Xuân Hương thơ mộng. Lên Đà Lạt lần này, chúng tôi được bố trí ở nhà khách của Viện Pasteur. Để tránh làm phiền, tôi bàn với Sinh và Khang chỉ ngủ trọ tại nhà khách. Còn ăn thì kéo nhau ra chợ Đà Lạt ăn cơm bụi. Vừa rẻ lại vừa hợp khẩu vị. Cũng món rau xanh, mà sao ở đây ăn cảm thấy tươi ngon lạ. Do thiên nhiên cao nguyên trong lành quá, hay món rau ở Đà Lạt hơn hẳn mọi nơi khác. Có lẽ do cái không khi dịu mát và còn cả leo dốc cuốc bộ nhiều, mau đói, nên chúng tôi cảm thấy ngon miệng hơn chăng?

Tranh thủ thời gian lưu lại ở cao nguyên Lang Bi-an chờ cho qua cái dịp lễ lớn 30 tháng tư, tôi lại say mê với các đống tư liệu (có lẽ ít người để ý) mô tả về những chuyến thám hiểm cao nguyên Lâm Viên của ông Năm-Yersin hồi đầu thập niên 90 của thế kỷ 19, được lưu giữ khá đầy đủ ở ngay trong Chủng viện Pasteur Đà Lạt này.

Đây rồi, trong một ghi chép tôi đọc được: Ngày chủ nhật 3.8.1891, Yersin cùng với người hầu và bốn phu khuân vác đi vào vùng núi. Lương thực mang theo chỉ có vài hộp thịt bò muối và vài hộp bánh quy khô, cộng thêm một số lương thực do các quan chức người Việt ở Phan Rí cung cấp thêm. Lúc đó đang vào mùa có gió mùa Tây Nam, mỗi ngày đều có mưa rào lớn. Yersin đi theo đường mòn từ làng Kalon ở chân núi qua Ta Ly đến Ta La (vùng phụ cận Djiring). Nơi đây, ông thấy không thể tiếp tục đi được nữa, vì cuộc hành trình đòi hỏi ít nhất từ 9 đến 10 ngày đi bộ trong khi đã cận ngày ông phải lên tàu đi Bắc Kỳ. Mặt khác, ông đang lâm vào tình trạng khá tồi tệ: giày vớ rách bươm, dáng vẻ mệt mỏi. Do đó, ông quyết định đi đến địa điểm gần nhất là Phan Thiết: từ đó ông trở về Nha Trang bằng ghe và kịp lên tàu đi Quy Nhơn.

Trên thực tế, có một người Việt tên là Nguyễn Thông (1827-1884) và hai người Pháp là Néil và Albert Saptens đã từng đặt chân tới cao nguyên Lang Bi-an, tuy nhiên sự hiện diện của họ không để lại một dấu ấn gì. Chuyến đi lịch sử của nhà thám hiểm trẻ tuổi Yersin vào cuối năm 1891 từ làng Kalon sát chân dãy Trường Sơn Nam (nay thuộc Phan Sơn, Bắc Bình, Bình Thuận) đã băng qua vùng rừng núi đầy hiểm trở Tánh Linh, Phan Rí, Phan Rang… kéo dài nhiều tháng để rồi dừng chân ở mảnh đất đầy thơ mộng Đà Lạt.

Năm 1897, ông đề xuất với Toàn quyền Đông Dương, Paul Dumer, chọn Đà Lạt làm điểm xây dựng trạm điều dưỡng. Sau đó là chuyến đi cao nguyên cùng với vị Toàn quyền Đông Dương, để thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Ngày xưa bác sĩ Yersin đi bằng ngựa cùng hai người địa phương dẫn đường. Trong hồi ký Bảy tháng nơi xứ Thượng, bác sĩ Yersin có kể lại việc gặp gỡ hai nhóm người Việt trên đất Lâm Đồng. Đó là nhóm của Tong Vit Ca, một người Việt nhận khoán việc thu thuế ở vùng cao nguyên; và nhóm chính trị phạm do Thouk cầm đầu. Tài liệu của Yersin cho thấy người Việt vào thời đó (nhất là những người thu thuế, buôn bán, trộm cướp, chính trị phạm…) vẫn thường xuyên lui tới vùng cao nguyên bên dưới, xung quanh Đà Lạt (với độ cao trung bình từ 900 đến 1000m).Yersin vốn có thói quen viết thư cho mẹ mỗi ngày. Ông kể cho mẹ nghe tất cả những chuyện đang xảy ra, cũng nhờ những bức thư này mà cuộc đời của ông đã được biết đến một cách sống động và chi tiết. Chuyến thám hiểm đầu tiên năm 1891 tìm ra cao nguyên Di Linh cũng đã được lưu giữ từ những lá thư này…. khối núi cao nhất Di Linh, Braian 1.196m và qua thung lũng suối Da Riam nữa là đến bến đò qua lòng hồ Da Riam về thị trấn Di Linh.

Từ 28.3.1892 đến 9.6.1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Daklak để đến Stung Treng- nằm bên bờ sông Mékong (thuộc địa phận nước Cam-pu-chia). Cuộc thám hiểm này được thực hiện theo yêu cầu của đại úy Cupet, một thành viên của phái bộ Pavie.

Tháng 10 năm 1892, Yersin đi Paris để đưa các kết quả khảo sát cho đại úy Cupet, đồng thời tìm cách vận động để được tiếp tục thám hiểm. Nhờ sự giúp đỡ của một số người quen (nhất là nhà bác học L.Pasteur và người bạn thân của ông là giáo sư Emile Duclaux), Yersin được Bộ giáo dục Pháp cấp kinh phí để thực hiện một nhiệm vụ khảo sát khoa học.

Từ nước Pháp trở lại Sài Gòn vào tháng 1 năm 1893, Yersin đến gặp toàn quyền De Lanessan. Ông này chính thức giao cho Yersin nhiệm vụ khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Ngoài ra, Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi v.v… Địa bàn thám hiểm được chỉ định là “một vùng ở Nam Trung Kỳ, nằm giữa bờ biển và sông Mékong, là vùng đầu nguồn của các con sông Đồng Nai và Sé-Bang-Kane”.

Cùng đi với Yersin có ông Wetzel, một trong những người gác rừng giỏi nhất ở Nam Kỳ, cũng là một thợ săn voi và tê giác rất gan dạ. Về phía nhân sự người Việt, có bốn người dân Sài Gòn: Bảy (người đã từng đi thám hiểm cùng Yersin năm 1892) và ba người phụ bếp do chính ông này chọn. Nhưng do chuyến đi quá dài nên sau đó ông Wetzel không thể tham gia, chỉ còn mình ông Năm và các người dẫn đường tiếp tục cuộc hành trình.

Vật dụng được đựng trong nhiều chiếc rương nhỏ, chủ yếu bao gồm những hàng nhu yếu phẩm dùng để trao đổi với ngưới Thượng. Về dụng cụ thám hiểm, Yersin mang theo một máy kinh vĩ (théodolite) và ba thời kế (chronomètre) nhằm để xác định vị trí trong khi đi thám hiểm. Yersin cũng mang theo một số thuốc chủng bệnh đậu mùa (sởi) để chủng ngừa cho dân các vùng ông đi qua.

Ngày 14.4 đoàn rời Lao Gouan tiến về phía Bắc, vượt dòng Da Gnine (tức Da Nhim) – một trong hai nhánh chính của sông Đồng Nai, sau một ngày đi bộ, Yersin đến làng Rioung, nằm gần nhánh thứ hai của sông Đồng Nai: Da Dong (tức Da Dung). Rioung (có thể là làng Riong Bolieng ngày nay) là một làng Thượng chuyên sống về nghề rèn, một điểm giao lưu quan trọng vào thời đó. Cao nguyên xung quanh Rioung trơ trụi, những đàn nai đông đảo thường chạy qua đó. “Nếu từ Rioung, người ta tiếp tục đi về phía Bắc, điạ hình sẽ trở nên rất nhấp nhô và dâng cao dần cho đến núi Lang Bian. Núi này, cao hơn 2.000m, đã được các ông Néis và Humann thám sát. Đó là nơi phát nguyên của sông Đồng Nai”.

Yersin hoãn cuộc khảo sát núi Lang Bian vào giai đoạn sau và tiếp tục đi về phía Tây Nam, với sự hướng dẫn của Tong Vit Ca.

Để đi đến Ta La, đoàn thám hiểm phải đi qua một số làng lớn (Kla Kar, Con Tan và La Ra) – nằm giữa một vùng cao nguyên trơ trụi phủ toàn cỏ tranh.

Một ngọc thác trên thương nguồn sông La Ngà

Một ngọn thác trên thương nguồn sông La Ngà

Ngày 25.4 Yersin đến Ta La, diện mạo của cao nguyên thay đổi. Cao nguyên bao gồm nhiều đồi lúp xúp nhô lê giữa các thung lũng nhỏ. Bên dưới ruộng lúa hoặc thảm cỏ mịn, xanh tốt mặc dù đang là mùa khô hanh. Rừng thông phủ dày trên các ngọn đồi. Làng mạc thưa thớt nằm ngoạn mục ven các sườn đồi. Ông chánh tổng cư trú ở Ta La, nơi có ngôi nhà làng dành cho khách lạ. Cạnh đó là dòng Da Riame, một chi lưu của sông La Ngà. Dòng nước này tưới và làm phì nhiêu các ruộng lúa, chảy quanh co…

Ta La nằm ở vùng phụ cận Djiring (Di Linh) là nơi Yersin đã từng đến vào năm 1891. Người Thượng ở vùng này khá giàu, có những đàn trâu đông đến vài trăm con. Họ có tục lệ đâm trâu vào những dịp lễ lớn, cứ mỗi con trâu bị giết, lại dựng cạnh nhà một cây nêu bằng tre cao khoảng 20 mét, được neo chặt bằng những sợi dây chão làm bằng mây trang trí cờ đuôi nheo. Trong một vài làng, Yersin đếm được tới 30 cây nêu. “Nhìn từ xa, người ra tưởng chừng nhìn thấy cả một hạm đội trong một hải cảng”.

Yersin dừng chân ở Ta La vài ngày và dùng ngựa đi xem vùng phụ cận. Ở gần làng Ia Lane có một mỏ thiếc lộ thiên nằm trong dãy núi Bréan (tức Braian). Sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Đi qua làng Yane – làng quan trọng cuối cùng trên cao nguyên, ông xuống thung lũng sông La Ngà, đến làng Droum (có lẽ là làng Kondroum ngày nay). Đêm hôm trước cọp đã vồ hai người Thượng ngay giữa ban ngày. Từ Droum, ông vượt sông La Ngà để đến làng Tô La, nơi Humann đã đến vào năm 1884. Có một loạt làng mang tên Tô La nằm cách xa nhau. Men theo hữu ngạn sông La Ngà, cuối cùng ông vượt sông một lần nữa ở gần Barth Nui (Bác Nui) để trở về Tánh Linh.

Trước khi thực hiện chặng đường thứ ba, từ ngày 22.5 đến ngày 28.5 Yersin tiến hành khảo sát kỹ vùng hữu ngạn sông La Ngà từ Bác Nui đến Cao Cang để xem xét khả năng mở đường qua vùng này. Ông xác định con đường bộ trong tương lai không thể đi qua vùng này vì cánh đồng nơi đây ngập nước vào mùa mưa và cư dân quá thưa thớt.

Con Voi theo đoàn thám hiểm (Ảnh: A.Yersin )

Con Voi theo đoàn thám hiểm (Ảnh: A.Yersin )

Ngày 30.5.1893, Yersin lên đường thực hiện chặng đường thứ ba: từ Tánh Linh đi Phan Rang bằng một con đường núi khác với chặng trước. Ông đã gửi trả về Phan Thiết con voi, người quản tượng và một người Việt vì những người này bị sốt nặng, không thể tiếp tục hành trình. Khác với lộ trình trước, lần này ông đi theo tả ngạn sông La Ngà để trở lại Droum. Kể từ khi Yersin ghé qua làng Droum lần trước đến nay, tại đây cọp đã vồ ba người Thượng nữa. Từ Droum, đoàn thám hiểm vượt sông La Ngà để trở qua bờ bên phải. Sau khi đi qua một loạt các làng đều mang tên Tô La, đoàn thám hiểm đến Tia Lao, một địa điểm đã được ghi trên bản đồ của Humann. Từ Tia Lao, Yersin đi về phía Bắc, hướng đến núi Tadoum (tức Tadoung).

Ngày 11.6, ông đến Bross, nằm ở đáy một thung lũng sâu có sông Đồng Nai chảy qua, phía Bắc là ngọn núi Tadoung. “Ngọn núi này nhìn từ xa tựa như một chiếc mũ lớn nhọn đầu đặt trên cao nguyên, nằm cạnh một thứ mê lộ gồm các đỉnh cao và các thung lũng sâu, dưới đáy các thung lũng là những dòng nước lạnh ngắt. Người ta tưởng chừng đang ở vùng núi Alpes”. Yersin đã băng qua mây mù và mưa để leo lên đỉnh núi cao nhất. Rừng khá rậm, ông phải trèo lên cây để quan sát, nhưng những màn mưa dày đặc không cho phép ông định vị một cách chính xác.

tAHXlFhWuz_Oozdme8zcNATừ Rioung, Yersin đi đến bờ sông Da N’Tâme (tức Da Tam), một chi lưu của sông Da Nhim. Ngược dòng Da Tam, ông đi đến các làng Kréan (gần núi Mnil), Brenne (tức Prenn, gần thác Prenn); sau đó đi về phía Tây-Bắc, rồi bắt đầu leo núi. Sau gần một giờ leo núi, ông bước ra khỏi rừng thông và phát hiện ra cao nguyên Lang Bian. Lúc này là 15g 30 ngày 21.6.1893. Trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt “3h 30: grand plateau dénudé mamelonné (3g 30: cao nguyên lớn trơ trụi, nhấp nhô gò đồi).

Trong hồi ký, ông mô tả như sau:

“… Khoảng 15 đến 20 km trước khi đến chân núi chúng tôi ra khỏi rừng và thấy mình đang đứng trước một vùng đất hoàn toàn trơ trụi, phủ toàn cỏ. Mặt đất như những lượn sóng dài làm cho ta có cảm tưởng đang đi trên một đại dương bị xao động bởi những đợt sóng khổng lồ. Dãy Lang Bi-an sừng sững ở giữa như một hòn đảo và dường như càng lùi xa khi ta đến gần. Trong những cánh đồng bao la ấy, ta dễ tính sai cự ly. Dưới đáy thung lũng, đất màu đen và có than bùn. Những đàn nai lớn cho phép đến gần khoảng một trăm mét, rồi vụt bỏ chạy ra xa, ngoái đầu lại nhìn chúng tôi một cách tò mò”… .

Ở một đoạn khác, Yersin mô tả về cao nguyên Lang Bian như sau:

“Vùng đất này cư dân thưa thớt, một vài làng của người M’Lates (…) được tập trung ở chân núi; nơi đó họ làm những ruộng lúa nước rất đẹp (…). Người M’Lates nói tiếng Chăm cũng thạo như tiếng Mạ. Phụ nữ xoi vành tai thật rộng để nong vào đó những vành tròn hay treo vào đó những ống thiếc hình xoắn ốc rất nặng. Người ta tiếp tôi trong căn nhà làng. Mỗi già làng mang tới vò rượu cần của mình. Có đến sáu vò rượu xếp hàng dài trước mặt tôi; may thay người ta không yêu cầu tôi phải thưởng thức hết”…

Sau một đêm nghỉ lại ở Dankia, sáng hôm sau Yersin vượt dòng Da Dung để trở lại Deũng, sau đó đến làng Ankroêt. Bằng một lộ trình khác với lộ trình đến, ông rời Lang Bian trở lại Rioung. Cơn mưa lớn làm cho các con dốc trở thành trơn trượt, các dòng suối nhỏ trở thành sông lớn, rất nguy hiểm khi vượt qua. Trong khi ông vắng mặt, ở Rioung, cọp suýt vồ mất một con ngựa ngay giữa nơi cắm trại.

Yersin rời Rioung đi đến thung lũng Da Nhim để trở về Phan Rang…. Trong lần trở về này ông suýt mất mạng vì một toán cướp có vũ trang khiến ông bị thương, được những người Thượng hộ tống khiêng bằng võng về Phan Rang ngay trong đêm. Trên đường đi, ông bị tên cướp đầu sỏ hung tợn nấp trong rừng bắn hai phát súng lục nhưng không trúng. Vào khoảng 7 giờ sáng hôm sau, nhóm người khiêng ông lại lọt vào giữa một đàn voi rừng. Một con voi cái và một con voi con nhắm vào họ lao tới. Các phu khiêng võng hoảng sợ bỏ chạy. Bỏ Yersin nằm lại trong võng, Yersin suýt bị voi dẵm, nhưng may thay, vào phút chót, con voi mẹ lại đi chệch ra khỏi đường mòn.

Ngày 26.6 Yersin đến Phan Rang với thương tích đầy mình.

Sau khi bình phục, từ 19.7 đến 19.8, Yersin đến thăm M’Siao, một tù trưởng người Bih ở vùng Daklak mà ông đã quen trong chuyến thám hiểm năm 1892. Ngày 8.9 ông rời Nha Trang, theo đường cái quan trở lại Phan Rang. Từ nơi đây, ông lên vùng cao nguyên để kiểm tra lại kết quả khảo sát, sau đó trở lại Tánh Linh. Từ Tánh Linh, ông trở lại Biên Hoà, kết thúc chuyến thám hiểm dài bảy tháng. Con đường mà Yersin khảo sát đã được thi công xong vài kilômét đầu tiên.

Sáng kiến thành lập các trạm nghỉ mát vùng núi ở Đông Dương bắt nguồn từ toàn quyền Paul Doumer (cha đẻ của Cầu Long Biên) khi ông này đến nhậm chức vào năm 1897. Doumer đã học kinh nghiệm này từ những người thực dân Hà Lan ở Indonesia và nhất là từ người Anh ở Ấn Độ.

Hồi ký của Doumer cho biết nhiều cuộc tìm kiếm công phu và kéo dài ở nhiều địa điểm đã không thành công; nhưng có một địa điểm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặt ra, nhờ sự chỉ dẫn của Yersin: đó là cao nguyên Lang Bi-an.

Thành công của chuyến thám hiểm đã góp phần nâng cao uy tín của Yersin. Ngày 28.12.1893, Hội đồng Thuộc địa đã thuận cấp kinh phí cho ông thực hiện chuyến thám hiểm thư ba: từ Nha Trang qua vùng Tây Nguyên, Hạ Lào đến tận Đà Nẵng (từ 12.2. đến 7.5.1894).

Đến Đà Nẵng vào thượng tuần tháng 5.1894, Yersin được biết trong thời gian ông vắng mặt, chính phủ Pháp đã ra lệnh cho Toàn quyền Đông Dương cử ông đến Vân Nam để đối phó với bệnh dịch hạch. Yersin đã phát hiện ra vi trùng bệnh dịch hạch vào đêm 20.6.1894. Phát minh này đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Yersin. Những yêu cầu cấp bách của y học đã buộc ông phải từ bỏ lòng say mê phiêu lưu mạo hiểm. Thay vào đó là một sự say mê bền bỉ đối với công tác thực nghiệm khoa học mà ông đã nuôi dưỡng cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.

Từ một vùng rừng núi cư dân thưa thớt, còn đang ở trình độ thấp kém của thời kỳ công xã nguyên thủy, Đà Lạt đã phát triển một cách nhảy vọt thành một đô thị hiện đại. Có thể nói nếu không có nhu cầu xây dựng trạm điều dưỡng của người Pháp để từ đó phát triển dần thành một thành phố du lịch và nghỉ dưỡng nổi tiếng thì Đà Lạt ngày nay có thể cũng chỉ là một vùng quê hẻo lánh hoặc một thị trấn thuộc loại trung bình như thường thấy ở các vùng rừng núi nước ta.

Bước phát triển nhảy vọt của cao nguyên Lang Bi-an bắt đầu từ ngày 21.6.1893. Đó cũng là điểm khởi đầu của quá trình hình thành đô thị Đà Lạt, trong đó nổi bật lên vai trò của ông Năm Yersin, người đặt nền móng quan trọng đầu tiên từ những nỗ lực lớn lao như thế. (**)

Hồ Xuân Hương - Nguồn: Wiki.

Hồ Xuân Hương – Nguồn: Wiki.

Sau mỗi đêm ngon giấc, chúng tôi đi dạo một vòng quanh Hồ Xuân Hương, đôi khi qúa chân còn sang cả Hồ Than Thở ngút ngàn sương khói. Đà Lạt đã hết mùa hanh khô, nên ban đêm thường có mưa. Sau mưa, không khí như mát dịu hơn, những làn hơi nước sương bảng lảng trên những con đường, tán thông, bên những hàng rào quanh các biệt thự lớn nhỏ. Mà cũng lạ, ở thành phố này trăm căn biệt thự là trăm hình thái khác nhau, mà tổng thể vẫn hài hoà. Những cổng cửa đa dạng. Những lối vào lên xuống. Cả những hàng rào cũng vậy, dù gỗ ván ghép, là cây xén tỉa, vài khóm hoa, dù rào sắt, cọc xây, cọc cắm hay xếp đá. Không có cái nào giống cái nào. Nhờ được tô điểm bởi những hàng rào với không gian và thiên nhiên uyển chuyển kỳ diệu ấy mà đường nét, hình khối kiến trúc không bị khô cứng. Làm sang và làm nổi bật các toà nhà toạ lạc bên trong. Nhìn mãi mà không chán mắt. Chỉ tiếc thời gian như vô tình, con người cũng vô tình, đã làm phôi pha phần nào chút hào quang rực rỡ vang bóng một thời ấy của nhiều công trình.

Nhớ lại chuyện “Tái Ông mất ngựa“ của người tàu, sau mỗi khám phá mới về ông Năm Yersin, trong tôi thấy thèn thẹn với bậc vĩ nhân. Thấy những khó khăn của chúng tôi hôm nay, thấm tháp gì so với những khó khăn nguy hiểm mà bậc ân nhân của nước mình đã kinh qua. Ông đã tạc vào lịch sử những dấu ấn không bao giờ phai, ở cái tuổi cũng chỉ bằng tuổi đời của chúng tôi lúc bấy giờ.

nPLIjNUcOY7_yNHhKAiPLACon đường lên Lang Bi-an của ông Năm cách nay đã 123 năm. Ông người gốc Pháp, gia đình Yersin phải lánh nạn sang Thụy Sĩ và cậu bé Alexandre chào đời tại đây, một vùng quê miền núi hẻo lánh xứ người. A. Yersin theo học ngành y tại Lausanne (Thụy Sĩ) và Marburg (Đức). Sau đó nhận bằng tốt nghiệp y khoa tại Đại học Paris. Trước khi dừng chân ở mảnh đất hình chữ S xa xôi, trong ước muốn thám hiểm những vùng đất mới, ông từng có những năm miệt mài nghiên cứu tại viện Pasteur Paris, đã có những thành công ban đầu khá ngoạn mục và được trao huân chương danh giá nhất của Pháp (Bắc Đẩu Bội Tinh), được trở lại quốc tịch Pháp năm ông 27 tuổi. Song định mệnh đã đưa ông tới Xứ An Nam nghèo khó và giữ chân ông ở lại cho tới lúc mãn chiều xế bóng. Cuối đời mặc dù yếu phổi, ông vẫn tận lực làm việc cho tới hơi thở cuối cùng. Ông ra đi thanh thản và để lại cho đời nhiều nhớ thương tiếc nuối. Thông điệp để lại trong di chúc của ông: Được chôn tại Suối Dầu Nha Trang thì không có gì thắc mắc. Nhưng không cho phép đọc điếu văn và đặt thi hài nằm sấp hẳn còn nhiều uẩn khúc chăng?

Chỉ còn ngót hai tháng nữa là nhân loại sẽ kỷ niệm tròn 120 năm, ngày Alexandre Yersin tìm ra con vi trùng nguy hiểm đã gây nên những trận đại dịch hạch cướp đi sinh mạng của hàng trăm triệu người: “Yersinia pestis“!

Tên con vi trùng dịch hạch đã được đặt theo tên của người tìm thấy nó đầu tiên.

Con người của ông còn mang nhiều bí hiểm. Ông rất yêu quê hương, yêu nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời, nhưng lại tình nguyện sống và chết tha hương. Ông rất có hiếu với các bậc sinh thành (thân mẫu) nhưng lại chọn cuộc sống độc thân không con cái suốt đời. Ông rất ghét thói xa hoa và ghét ách đô hộ của Thực dân Pháp ở Đông Dương. Nhưng lại lợi dụng tiến trình khai thác thuộc địa của Pháp để cứu giúp người nghèo khó và canh tân những vùng đất lạc hậu tối tăm. Bản tính ông giản dị mà lại luôn tiên phong trong những phát minh mới của công nghệ. Ưa thám hiểm mà từ bỏ hết cả tương lai ở Paris hoa lệ. Niềm đam mê thám hiểm chưa thỏa, định mệnh lại cuốn ông trở lại “thiên chức thầy thuốc“ cao qúi của mình. Ông đòi an giấc ngàn thu theo tư thế nằm sấp như lời trăng chối của Trạng Quỳnh xưa, nhằm chống lại cái ác, cầu mong cho nhân loại sớm thoát khỏi ách hà khắc của đám bạo chúa hôn quân?

Xin các bậc cao minh chỉ dạy cho đầu óc còn u tối được thông tỏ!

Gocomay

___

* Cả hai vị này sau leo tới chức Thứ trưởng Bộ Y Tế trước khi nhận sổ hưu. Hồi đó, TS Lê Diên Hồng là Vụ Trưởng Vụ Vệ Sinh Phòng dịch; còn BS Trịnh Quân Huấn là thư ký cho ông Hồng

* * Bài này có tham khảo và trích dẫn nguồn tài liệu của Hội Ái Mộ Bác sỹ Yersin…

__________________

827 – Thiên chức lương y của Yersin gửi người đời!

Alexandre Yersin (1863-1943)

Alexandre Yersin (1863-1943)

Vào tháng 4 năm 1985, Sau một năm làm việc cật lực, phim “Thuỷ điện nhỏ” đầu tay của tôi không bị đổ như ai đó mong đợi. Được xếp loại khá. Có lẽ do sự hiện diện của rất nhiều ngọn thác lớn và đẹp bậc nhất Tây Nguyên đã làm cho người xem phải trầm trồ. Theo đúng luật, vượt qua ải “vũ môn”, tôi đương nhiên được công nhận chức danh đạo diễn của hãng. Biết không thể cản được quyết tâm vươn lên của tôi, Chef Lương Đức mời tôi lên quán nước ông Chiu, cổng hãng, gọi kẹo lạc nước trà, dùng tình cảm thuyết phục!

Kết thúc tuần trà đầu, “chàng” ân cần bảo tôi:

– Phim đầu tay của cậu không tồi. Nhưng tớ thấy cậu lãng phí thời gian vào nó quá. Nếu không làm đạo diễn, cậu có thể làm quay phim cho 4, 5 phim như những năm trước… chắc chắn cả công và tư vẫn có lợi hơn không?

Từng cộng tác và học hỏi ở “Chef Lùn” trong nhiều phim mấy năm qua, thoáng nghe, lời “chàng” không phải không có lý. Ngay cả thời các Chef tiền nhiệm như: Quốc Ân; Như Ái; Nguyễn Thiệu và Lê Quốc còn trị vì, cái tên Lương Đức vẫn là một tên tuổi lớn trong làng điện ảnh Tài liệu Khoa học. Huống hồ bây giờ “chàng” lại quyền sinh quyền sát. Một lời nói tựa như trái núi, ai mà không ngán. Biết khó có thể chống lại ý muốn của chàng khổng lồ, tôi bèn đưa ra đề nghị “hai bên cùng có lợi”. Tôi vẫn chấp nhận quay phim cho “chàng” và “nàng” (Lệ Mỹ). Nhưng đổi lại cứ sau hai phim quay xong, tôi được tự quay và làm đạo diễn một phim cho mình.

Thấy khó lay chuyển cái quyết tâm làm đạo diễn của tôi, sau phim “Cá Trôi Ấn” quay ở Từ Sơn Bắc Ninh xong, Lương Đức phải giao phim “Bệnh Dịch Hạch” cho tôi. Đề cương của phim này do Lại văn Sinh chắp bút, được duyệt đã lâu, nhưng không ai nhận. Nay “bắn” cho tôi gọi là “thử tay nghề đạo diễn mới”! Thật là “nhất cử mà tam, tứ tiện”!

Chưa có nhiều kinh nghiệm, nhưng đổi lại tôi có sức trẻ và ý chí rất mạnh nên cứ nhận bừa. Khi bắt tay vào cuộc mới thấy thâm ý của các bậc tiền bối thật khôn lường. Cỗ xe tam mã lại từ từ chuyển động vào Miền Trung, để lại phía sau bao nhiêu bề bộn của đời thường.

Vào Nha Trang, có lẽ đó là thời điểm khó khăn nhất của Viện Vệ sinh Dịch tễ, nên ngoài việc giúp chúng tôi vài cảnh cảnh quay sơ sài ở phòng thí nghiệm và các di tích cũ của Yersin ở xóm Cồn, cầu Bóng và Suối Dầu, viện cũng “lực bất tòng tâm” chẳng giúp chúng tôi được như mong đợi. Mặc dù nơi đây là chiếc đầu cầu lây lan bệnh dịch hạch ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ 19.

Những ngày làm việc tại Khánh Hoà, được tiếp cận nhiều tài liệu về Yersin, về 3 đợt đại dịch hạch khủng khiếp diễn ra trên thế giới, với con số tử vong bởi “thần chết đen” mỗi đại dịch từ 50 tới 100 triệu người. Trong tôi luôn cộm lên một câu hỏi:

– Tại sao một nhà bác học lớn tầm cỡ như thế, mà lớp hậu sinh như chúng tôi hầu như không hay biết?” Không một bệnh viện nào, không một trường học nào mang tên của ông. Ngay các đường phố ở Hà Nội, Nha Trang và TP Hồ Chí Minh tên của ông cũng được Việt hóa thành: “Y Éc Sanh” nên nhiều người còn nhầm ông này là ông tổ của nghề mổ lợn.

Thắng bệnh dịch hạch, ân nhân của nhân loại, vị tha, quên mình, Yersin là người đã chiếm trọn tình cảm của người dân thành phố biển Nha Trang một cách êm thấm. Đi trước thế kỷ của mình, ông là người mở đầu trợ giúp cho các xứ nhược tiểu, phát triển về trồng trọt, chăn nuôi và y tế.

Nhiều buổi chiều lang thang bên những xóm chài nghèo dưới chân Tháp Bà và cầu Bóng, lắng nghe những người đánh cá già kể với một tấm lòng rất thành kính nhiều kỷ niệm không bao giờ phai về người bác sỹ rất thân thiện với bà con cư dân nơi xóm Cồn.

Họ kể, ông Năm (bác sĩ Yersin) rất cởi mở, gắn bó với người dân Nha Trang, rất yêu quý trẻ em. Ông hay cho chúng tôi kẹo, tiền lẻ để mua quà. Thời bấy giờ, ngư dân tránh được tai họa do bão cũng là nhờ bác sĩ quan sát thiên văn, nghe thời tiết mà báo trước cho họ. Ông Năm thường khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân nghèo.

Ngư dân có thói quen hay uống rượu say, kình lộn, gây gổ, chửi nhau, thậm chí ẩu đả. Bác sĩ lặng lẽ lấy máy quay phim, ghi lại những chuyện không hay ấy. Sau đó, mời dân xóm Cồn đến xem phim, hỏi họ có hay không, đẹp không? Ai nấy đều xấu hổ. Nhờ đó mà xóm Cồn thời ấy gần như hết nạn say rượu, đánh chửi nhau.

Ngày ông mất, rất nhiều người dân ở xóm Cồn, ở Nha Trang thương khóc như cha mất. Họ để tang và đoàn người tiễn đưa ông dài hơn ba cây số. Có ở đâu như ở Nha Trang, người dân địa phương thờ cúng ông – một người nước ngoài – như một vị thánh nhân đức!

Trong thư tịch ở tủ lưu niệm tôi còn được biết, lúc sinh thời, một số đồng nghiệp không đồng quan điểm với ông tại viện Pasteur Paris và những người Pháp tại Đông Dương thấy Yersin phân tán tri thức lấy làm gai mắt, cho ông là một người kỳ dị.

Song chính nhờ sự “kỳ dị” đó mà ông đã thành công trên nhiều phương diện, luôn đi tiên phong trong những lãnh vực mới, với nhiều phát minh sáng giá như:

  • Máy phát thu bằng chữ morse để liên lạc Nha Trang, Suối Dầu, Hòn Bà
  • Máy thu thanh tân tiến, bắt được các đài bên Pháp
  • Kính thiên văn

Dù chiếc xe đạp là phương tiện được ông ưa chuộng. ngay từ năm 1910, ông đã muốn tậu một chiếc phi cơ, nhưng vì Đông Dương không có sân bay, ông đành bỏ dự định này.

Trong khi viên Công sứ tại Nha Trang chưa có xe nhà thì Yersin đã gởi mua tại Pháp chiếc Serpollet năm mã lực, chiếc xe Clément và một thuyền máy.

Hai năm sau, ông bán lại chiếc Serpollet năm mã lực cho viên Công sứ Nha Trang, rồi sang Paris tậu chiếc xe Serpollet sáu mã lực đem ra Hà Nội làm lác mắt chẳng những dân cư Hà Nội mà cả chính giới. Viên tướng chỉ huy quân đội Pháp còn nhờ ông đưa xe đi diễu hành qua cầu Long Biên.

Tháng Giêng năm 1905, Yersin bán chiếc Serpollet sáu mã lực, tậu chiếc Serpollet mười một mã lực. Năm 1907, ông mua một chiếc Alcyon. Năm 1912, ông mua chiếc Clément Bayard mười lăm mã lực. Đến năm 1925 ông lại tậu chiếc Zèbre vừa mau vừa êm để tiên cho việc đi lại làm việc giữa Nha Trang, Hòn Bà, Dran và Djiring. Nhưng khi cần tiền cho các công trình nghiên cứu hay giúp người nghèo, ông bán ô-tô và dùng lại xe đạp. Trong các đợt thám hiểm ông dùng ngựa, voi hay đi bộ chứ không dùng võng hay kiệu như các quan lại Pháp hay Việt thường dùng khi đi kinh lý.

Năm 1943, vì phổi yếu, ông dùng xích-lô. Nhắc đến Yersin, ai cũng hình dung một ông cụ già khiêm tốn ăn mặc xuềnh xoàng đi chiếc xe đạp cũ kỹ, quên rằng Alexandre Yersin đã làm bực mình các quan chức chính quyền thời bấy giờ với những chiếc ô-tô tối tân.

Tiên phong trong những lãnh vực mới, năm 1932, khi chuyến bay đầu tiên của hàng không Pháp nối liền Sài Gòn – Paris thì ông dùng máy bay để di chuyển. Tháng 3 năm 1940, Yerin bảy mươi bảy tuổi, lấy máy bay về Pháp để dự buổi họp hằng năm của viện Pasteur Paris. Một cuộc hành trình rất gay go. Ngày 30 tháng 5 năm 1940, chuyến máy bay cuối cùng đưa ông về Việt Nam, trước khi quân đội Đức vào Paris.

Mặc dù vậy, Yersin lại thích sống chung với người dân nghèo chài lưới và đã bỏ tiền tậu lại cái lô-cốt hai tầng lầu bỏ hoang gần xóm Cồn và cửa sông Cái. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí quyển XI về Khánh Hoà, đó là một đồn biên phòng rất lâu đời.

Ngư dân xóm Cồn thường gọi tòa nhà này là “Lầu Ông Tư”, nơi bác sĩ A. Yersin sống và làm việc ngay giữa làng chài bên cửa sông Cái, Nha Trang. Năm 1977, tòa nhà đã bị đập bỏ để xây dựng nhà nghỉ 378 của Bộ Công an hiện nay.

(Tư liệu của PĐQ)

Nhà riêng của A. Yersin bên cửa sông Cái - Nha Trang

Nhà riêng A. Yersin bên cửa sông Cái – Nha Trang

Từ năm 1895, Yersin đã tạo lập cho mình chỗ ở tuyệt vời để hằng ngày quan sát và hoà nhập với thiên nhiên.

Lô-cốt mỗi bề khoảng 7m 50. Mỗi tầng có hành lang rộng bao bọc. Có thể đi dọc hành lang để quan sát. Ông bố trí tầng trệt là phòng ăn, tầng một là phòng làm việc và tầng hai là phòng ngủ. Về sau, nóc nhà làm thêm một vòng tròn để dựng kính thiên văn.

Có người cho ông là con người lập dị, một người không chạy theo danh vọng, quyền lợi cho riêng mình. Một đoạn thư ông viết cho mẹ năm 1890 khi ông hai mươi bảy tuổi: “Mẹ hãy tưởng tượng xem ông Pasteur đã xin được cho con huân chương của Hàn lâm viện. Các thành viên của Viện Đại học Pháp rất mong muốn có được tấm huân chương màu tím này, song bản thân con lại không hề thấy mình xứng đáng được nhận”. Tháng 12 năm 1927, khi nhận giải thưởng Leconte của viện Hàn lâm Khoa học, ông tuyên bố: “Giải thưởng nầy là vinh dự cho viện Pasteur và số tiền nhận được sẽ giúp cho các cuộc thí nghiệm trồng cây quinquina (Canhkina). Ông đầu tư nguồn tiền thưởng hậu hĩnh từ các phát minh vào các công trình đang thực hiện. Tiền từ Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh; Giải Audiffret của Hàn lâm viện Tâm lý và Chính trị có kèm theo 15.000 quan Pháp. Ông dùng số tiền này tiếp trợ cho nền tài chánh Suối Dầu. Giải thưởng Lassen đem lại cho ông 8.000 quan Pháp. Ông dùng ngay tiền đó vào việc mở đường mòn nối liền Suối Dầu – Hòn Bà.

Khi vua Bảo Đại trao tặng Bội tinh Kim Khánh (Long Bội tinh) cho ông, vì phép lịch sự ông buộc lòng phải cho vua Bảo Đại đeo Kim Khánh vào cổ mình, nhưng khi vừa bước xuống, ông đã e lệ dùng chiếc mũ ép lên ngực che hết chiếc huân chương. Năm 1938, trường trung học Đà Lạt muốn có một bức tượng bán thân của Yersin, ông cương quyết từ chối làm mẫu.

Khi toàn quyền Decoux muốn biết tên những người quyền quí, danh tiếng mà Yersin đã gặp, ông trả lời: “Ở Đông Dương tôi ít giao thiệp với những hạng người ấy.”

Thật ra Yersin đã có lần gặp nhiều người danh tiếng. Năm 1896, thống chế Lyantey (lúc bấy giờ là thiếu tá) đến Nha Trang có ghi vào sổ tay: “Vị bác sĩ trẻ này tận tụy với vi trùng học, nghiên cứu, chế tạo “vắc-xe” với một niềm tin tưởng, ý chí đam mê của một nhạc sĩ cao siêu. Những giờ thăm viện của ông làm phấn khởi tinh thần, mặc dầu viện còn thô sơ.”

Bác sĩ Yersin và căn chòi lá, nơi ông tìm ra vi trùng dịch hạch ( (Yersinia pestis) tại Hong Kong năm 1894 - Ảnh tư liệu

Bác sĩ Yersin và căn chòi lá, nơi ông tìm ra vi trùng dịch hạch (Yersinia pestis) tại Hong Kong năm 1894 – Ảnh tư liệu

Sống tha hương, dù ở Pháp, Việt Nam hay Trung Quốc, hầu như tuần lễ nào ông cũng viết thư cho mẹ. Tính đến khi mẹ ông mất, năm 1905, ông đã gởi ngót 1.000 bức thư, cho bà biết sức khỏe và công việc hằng ngày của mình.

Khi mẹ mất rồi, Yersin tiếp tục gởi thư cho người chị ruột, bà Emilie.

Trong thư nhiều khi đầy vẻ hài hước, như khi ông ở Hồng Kông viết cho mẹ: “Con còn nhiều điều nữa muốn thưa với mẹ, nhưng có hai xác chết đang chờ con. Họ muốn ra nghĩa địa cho sớm. Tạm biệt mẹ thân yêu. Mẹ rửa tay sau khi đọc thư này kẻo bị lây dịch hạch, mẹ nhé.”

Noẽl Bernard viết về A. Yersin có câu: “ít có người không vụ lợi như Yersin. Khiêm tốn, giản dị, lịch sự”.

Ông ăn mặc xoàng xĩnh bộ đồ kaki bạc màu cũ kỹ, áo khoác bốn khuy ba túi, áo sơ-mi vải trắng hở cổ, quần kaki trên rộng dưới hẹp giặt sạch mà không bao giờ ủi. Giày vải bố. Trong túi ngực bên trái đựng một cái đồng hồ trái quít đeo bằng một sợi dây gai đỏ. Phải nói rằng Yersin không thiếu đồng hồ. Năm 1945, người ta tìm thấy trong tủ sắt của viện Pasteur Nha Trang rất nhiều đồng hồ trái quít chế tạo tại Thụy Sĩ, phần lớn bằng vàng, dây đeo cũng bằng vàng, bên trong cái nắp đều có dòng chữ: Chế tạo riêng cho Bác Sĩ Yersin.

Ngày 22 tháng 11 năm 1920, ông đáp tàu Paul Lecat đi Marseille. Một phục vụ viên trẻ của tàu không biết ông, cương quyết không cho ông vào phòng ăn. Nội qui của tàu bắt buộc phải thắt cravate khi bước vào phòng khách. Yersin trở về cabine. Sau đó, ông quay lại phòng ăn nói với phục vụ viên: “Chiếc cravate nầy cậu có chấp nhận không ?” Vừa nói ông vừa chỉ tay xuống chỗ hở ở cổ áo nơi ông vừa đút tấm huân chương “Bắc Đẩu Bội Tinh” vào.

Năm 1925, một buổi sáng ông đến hãng xe gặp một người khách sang trọng từ Pháp mới tới. Người nầy thấy ông ăn mặc xoàng xĩnh buột miệng kêu lên: “Tên bụi đời lang thang này làm gì ở đây ?

Bữa ăn của ông thường đạm bạc. Món ăn ông ưa thích thường ngày chỉ là món xúp rau cải ăn với bánh mì hoặc biscotte. Trong thời gian chiến tranh ông phải ăn bánh tráng thay cho bánh mì. Ông thích ăn cá hơn là thịt. Các loại cá được ông ưa chuộng là cá thu, cá mú.

Món rượu khai vị của ông thường chỉ là thứ nước có bột quinquina do ông tự chế. Nước uống đôi khi ông dùng nước lá sả mà ông bảo rằng dễ tiêu hoá. Có lần đi thám hiểm vùng cao nguyên, ông chỉ ăn cơm không trong hai tháng.

Làng chài xóm Cồn (xóm Bóng) nhìn ra Hòn Đỏ.

Làng chài xóm Cồn (xóm Bóng) nhìn ra Hòn Đỏ.

Vì Nha Trang thường có bão táp, Yersin nghiên cứu về khí tượng, thời tiết để giúp ngư dân.

Ông cho làm hai cái bồ to, có đường kính một mét, trên sơn màu đen. Khi có bão, hai cái bồ được kéo lên hai cây cột bằng phi lao trên núi Sinh Trung để báo hiệu.

Tháng 11 năm 1939, đoán biết rằng một cơn bão lớn sẽ đổ vào bờ biển Nha Trang, Yersin vội tập trung tất cả ngư dân xóm Cồn vào trong nhà mình. Cơn bão biển dữ dội đêm ấy đã cuốn trôi nhiều nhà cửa xóm Cồn, nhưng bà con vẫn an toàn.

Từ hôm ấy, Yersin được nhiều người dân xóm Cồn tặng cho biệt hiệu “người đã trị cơn sóng thần”.

Viết về Yersin, và viện Pasteur Nha Trang, Henri Jacotot đã có những lời ca ngợi tốt đẹp:

“Trong những thời điểm quan trọng, Yersin luôn luôn sống trong tình trạng báo động thường trực cả ngày lẫn đêm.” (Yersin et son temps, H. Jacotot-1937)

Chẳng những lo bảo vệ dân chúng tránh tai nạn bão lụt, Yersin còn luôn luôn tỏ ra nhân ái đối với người dân ở Nha Trang, nên ông được người Việt yêu chuộng và kính phục. Ông tự coi mình như một người dân trong làng, một người có phần may mắn hơn người khác, vì vậy ông thấy có bổn phận an ủi và giúp đỡ thuốc men.

Một hôm đi xe đạp từ nhà đến sở, ông bị một tài xế bất cẩn đụng ngã. Không nói một lời nào, ông vội vã dựng xe đạp lên, rồi đi đến viện để băng bó, không đả động gì đến người tài xế có lỗi.

Lần khác ông gặp người nông phu nằm ngủ trong xe bò dưới gốc cây bàng. Mặt trời lên cao, bóng mát thay chiều, ông bảo những người phụ tá đẩy xe bò vào chỗ mát.

Ông rất thương yêu trẻ con xóm Cồn, thường chiếu phim cho chúng xem. Một hôm, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông bảo người giúp việc: “Đừng rầy đánh, người ta sợ.”

Ông thường đọc báo chí Việt ngữ. Một hôm đến viện ông trao cho ông Bùi Quang Phương, người cộng sự từ năm 1897, bài thơ “Năm Cụ Ông” chép trong báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng nói về năm bộ trưởng đương kim bị cách chức và thay thế bằng năm người khác do Pháp chỉ định. Bài thơ khó hiểu vì có nhiều nghĩa bóng.

Yersin rất nhẫn nại tử tế với những người cộng sự bản xứ, không bao giờ to tiếng, không bao giờ thị oai.

Người dân Nha Trang gọi ông là Ông Tư (theo cách gọi của người đàng trong, chỉ ông là con thứ ba). Hay Ông Năm vì theo ngạch nhà binh ông là Đại tá quân y. (Một tác giả Pháp Elisabeth Duclosel ghi ông là Nam, bác sĩ Annam, là sai.)

Ông không lấy vợ. Sống thanh đạm độc thân, tiết chế xa hoa nhục dục.

Elisabeth Duclosel thêu dệt cho ông một quan hệ tình ái giữa ông và một công chúa của bộ lạc Rhadé, là hoàn toàn không có cơ sở.

Yersin đến với người Việt Nam bằng một tấm lòng chân thật. Đó là chìa khoá kỳ diệu đã mở cửa cho ông đi vào tình cảm của người Việt Nam.

Ông ra đi rất thanh thản, ngày 01 tháng 03 năm 1943 vào lúc 01 giờ sáng, vừa đúng tám mươi tuổi.

Một ngày trước khi từ giã cõi đời, ông còn ngồi trên ghế xích-đu dùng ống dòm đo mực thủy triều.

Mặc dầu có lời căn dặn của ông trong di chúc muốn được an táng đơn giản, đám tang của ông to lớn chưa từng thấy ở Việt Nam. Ngoài đại diện của chánh quyền còn vô số người Việt, người Pháp, người Chà, người Hoa, người Thượng. Dân chúng bày hương án hai bên đường từ Nha Trang lên tận Suối Dầu nơi ông an giấc ngàn thu. Thể theo chúc thư, đám tang của ông thật giản dị, không có ai đọc điếu văn.

dscn48401Bên cạnh mộ Yersin có xây một cái miếu nhỏ đặt ảnh ông và hương án. Tại chùa Linh Sơn và Long Tuyền có bàn thờ ông bên cạnh bàn thờ Phật, mặc dầu lúc sinh thời, người dân Nha Trang không hề thấy Yersin bước chân vào chùa hoặc nhà thờ.

Mỗi năm đến ngày 01.03 người dân Nha Trang đến đốt hương và nghiêng mình trước mộ Yersin.

Trong năm mươi bảy năm hoạt động khoa học (1886 – 1943) Yersin đã công bố năm mươi lăm công trình và bốn mươi tác phẩm về y học, trong đó có mười ba đề tài chuyên cứu về dịch hạch, và mười lăm đề tài chuyên về nông nghiệp trồng cây quinquina và hévéa (cây cao su).

Yersin mãi mãi đi vào lòng người Nha Trang nói riêng và Việt Nam nói chung. Đó là đền Panthéon của Ông Năm và ông còn sống mãi mãi!

DGku4j7zSI_Saxe9qijHfQBác sĩ A. Yersin đã để lại di chúc: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”

Theo di chúc, khi khâm liệm người ta đặt Yersin nằm sấp, đầu quay về biển để ông mãi mãi ôm mảnh đất Việt, nơi ông đã chọn làm quê hương! (*)

Rời Nha Trang, tuy phim chưa quay được gì nhiều. Nhưng ấn tượng sâu đậm về Yersin cứ day dứt mãi trong tôi. Nung nấu trong tôi một niềm tin, nguồn năng lượng mới. Giúp tôi nỗ lực không biết mệt trong những lúc khó khăn. Có lúc tưởng như đã tuyệt vọng, bế tắc hoàn toàn. Phim “Bệnh Dịch Hạch” đã thành công. Để 3 năm sau, khi phim mang đi dự LHP Việt Nam lần thứ 8 vào tháng 3.1988 ở Đà Nẵng. Bộ phim đã chiếm được trọn vẹn cảm tình của khán giả. Như lời cố Đạo diễn – NSND Ngọc Quỳnh (Thành viên Ban giám khảo Phim Tài liệu – LHP VN VIII) đã phi lộ với tôi: “Phiếu điểm của dịch hạch là cao nhất. Đúng ra phải Bông Sen Vàng. Nhưng có ý kiến cho rằng, đây là phim của một đạo diễn mới, nên hạ xuống Bông Sen Bạc để tác giả đỡ kiêu, mà nỗ lực thêm… “.

Người ta còn cẩn thận với tôi tới mức, giới thiệu Lại văn Sinh lên nhận giải của phim thay tôi. Tấm bằng này khi ra tới Hà Nội thì Sinh đã giao trả lại cho tôi. Nó vẫn theo tôi sang tận xứ người. Với phim này Sinh còn lên bục lần nữa để nhận giải Bông Sen Vàng về Kịch bản. Nhớ hôm trao giải, người đẹp Sơn Thu – Giám đốc Khách sạn Phương Đông ở Đà Nẵng, người rất hâm mộ tôi từ bộ ảnh cưới tôi chụp ngày nàng lên xe hoa từ 5 năm về trước đã mua bó hoa rất to để lên tặng cho tôi. Nhưng tặng hụt. Nàng lủi thủi đem hoa về nhà, rồi kiếm bằng được chai Johnnie Walker (qúi hiếm dạo đó) quay lại lúc tàn cuộc, chả nói câu nào, nàng dúi chai rượu vào tay tôi và biến mất tăm cứ như sợ ai đó trông thấy vậy?

Từ bấy tới nay, đã ngót 30 năm, không gặp lại người đẹp lần nào, chuyện đánh tráo giải thưởng của Trưởng Ban giám khảo Bùi Đình Hạc tôi cũng đã quên. Song những chiếc kéo sắc oan nghiệt của các chức sắc và các bậc đa đề khoác áo Blouse trắng ở Bộ Y tế xứ “thiên đường” đối với những hình ảnh bác sỹ Yersin mà tôi đã đưa vào trong phim thì tôi không dễ gì quên. “Không quá đề cao những kẻ dù có công nhưng đã theo chân tụi Thực dân sang đô hộ đất nước mình…”. Những lời trái tai đó cứ vang mãi trong tôi.

dscn48321Nay thấy xôn xao chuyện dịch sởi chết người. Lại nghe, vào ngày tận tháng tận năm ngoái, các “đỉnh cao trí tuệ” nhà ta, sau bao nhiêu năm quên lãng đã cấp Quốc tịch Việt Nam cho Alexandre Yersin (truy tặng danh hiệu “Công dân danh dự“). Càng mừng hơn, những cái tên “sát sanh eng éc” (Y Éc Sanh) ở khắp Hà Nội, Nha Trang, Sài Gòn và Đà Lạt đều đã được viết lại và đọc đúng với tên mà các đấng sinh thành ra ông đã đặt: Yersin! Các cơ sở nghiên cứu y khoa mang tên người thầy của Yersin là Louis Pasteur ở cả ba miền, một dạo bị đổi thành Viện Vệ sinh Dịch tễ. Nay đã được “trả lại tên cho em” thành Viện Pasteur. Thật cả mừng!

“Con rất vui thú khi tiếp chuyện những người đến hỏi ý kiến nhưng con không muốn hành nghề bác sĩ, nghĩa là con không bao giờ có thể đòi hỏi bệnh nhân trả công khi săn sóc cho họ. Con xem ngành y như là một thiên chức, tương tự vai trò của mục sư. Đòi tiền công săn sóc bệnh nhân, như có phần nào nói với người ấy: tiền hay cuộc sống. Con biết không phải tất cả các đồng nghiệp của con đều chia sẻ những ý nghĩ này, song đấy vẫn là những điều con nghĩ và sẽ khó lòng mà từ bỏ chúng”. Trong một bức thư, A. Yersin viết cho thân mẫu của ông như thế!

Thì ra, “chiếc áo không làm nên thầy tu”. Cũng như chiếc Blouse trắng không thể trở thành lương y khi người thầy thuốc còn mờ mắt vì tiền. Liệu có vị “Thầy thuốc Nhân dân” nào xứ mình đã thực sự xem ngành y như là một thiên chức như A. Yersin?

Sau 1975 “nhà nước ta” đã đập phá ngôi nhà của Ông “Năm Yersin” để xây dãy khách sạn 3 tầng của bộ nội vụ. Người dân Nha Trang ai cũng thương tiếc di tích của một vĩ nhân, một người suốt đời hy sinh cho dân nghèo bản xứ, lúc chết cũng muốn nằm lại nơi này. Vậy mà… bao nhiêu ân… đã biến thành… oán! ”

Giá mà “những đỉnh cao trí tuệ” không… ngu đần… đã phá đi ngôi nhà của Ông “Năm Yersin”, thì biết bao nhiêu đồ đạc, kỷ vật… của ông, sẽ hấp dẫn du khách trên thế giới sẽ đổ đến nghiên cứu và thăm viếng…! Nha Trang nói riêng, và Việt Nam nói chung… sẽ được thơm lây vì có công và có tâm gìn giữ di tích của một vĩ nhân của nhân loại… Than ôi… !!!!!

The former French lycee Yersin - Da Lat, Vietnam

The former French lycee Yersin – Da Lat, Vietnam

Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt – The former French lycee Yersin Da Lat, Vietnam là 1 trong 1000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới – thế kỷ XX! Chỉ tiếc năm 1976 người ta đã đổi lại và bỏ mất cái tên cũ đi, thật uổng!

… nếu mộ Bs. Yersin nằm ở Tp. Nha Trang thì có khi Ông bị ghép tội thực dân đế quốc rồi cũng nên. Hồng y Spellman là người Mỹ. Hồi sau 1975 người ta kỵ bất cứ cái gì thuộc về “đế quốc Mỹ”…

Đó là những tiếc nuối của một số độc giả ái mộ Yersin (trích ở đây).

Những người trót phạm sai lầm với bậc ân nhân vĩ đại như A. Yersin mà biết hối cải. Biết “quay đầu lại là bờ” thì nên lấy câu châm ngôn: “Những gì của César nên đem trả lại cho César” nằm lòng. Bằng không cũng chỉ là sự đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi mà thôi!

Gocomay

___

* Bài này có tham khảo và trích dẫn từ nguồn của Hội Ái Mộ Yersin Nha Trang và Thụy Sỹ.

_______________

794 – Những ai muốn nhổ bỏ cái gai Cù Huy Hà Vũ?

toacuadungNhư chúng ta đã biết, sở dĩ tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ (CHHV) lâm nạn và bị xử tù nặng vì ông đã chọn vị trí đứng về phía những người dân thấp cổ bé miệng để chống lại đám hôn quân bạo chúa lớn nhỏ ở khắp cả 3 miền: Trung-Nam-Bắc qua rất nhiều vụ tranh chấp dân sự khác nhau. Nhưng ca nặng nhất là vụ kiện đồng chí X về việc khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên. Mặc dù vụ án đã không được hệ thống tòa án của “xứ thiên đường” thụ lý (vì trái với thông lệ). Nhưng việc làm táo bạo đó như cái gai trước mắt đám vua quan lắm của nhiều quyền.

Nay ở trong trại giam, người tù lương tâm lại tiếp tục là cái gai trước mắt đám cai ngục hung ác gian tham. Qua câu chuyện nhỏ (ở đây) như sau:

Một bà mẹ đến thăm đứa con đang thụ án ở một trại tù ở huyện Yên Định (Thanh Hóa). Bà dúi cho đứa con 1,5 triệu đồng. Không may, tên công an phát hiện ra. Thông thường, nếu bị phát hiện, có thể ăn chia 50/50, người tù nhận được 1/2 còn lại là người phát hiện sẽ lấy số còn lại. Nếu không chịu thì người tù bị phạt.

Trong trường hợp nói trên, người tù nhất định ko chịu mất một nửa số tiền trên, tuyên bố sẵn sàng chịu kỷ luật chứ ko thể để số tiền mồ hôi xương máu của mẹ mình rơi vào tay tên cai ngục. Thế rồi anh bị trại giam phạt rất nặng.

Biết tin, Cù Huy Hà Vũ đã đấu tranh, yêu cầu trại tù trả lại số tiền trên cho người bạn tù cũng như xóa bỏ án phạt dành cho anh ta.

Trước sự kiên quyết của Cù Huy Hà Vũ, trại giam Yên Định đã phải nhượng bộ.

(Câu chuyện do chị Dương Hà, sau lần đi thăm chồng gần đây kể lại)

Phải nhượng bộ việc nhỏ đó. Nhưng sinh mệnh của CHHV luôn bị đe doạ bởi những cái tưởng như vụn vặt hàng ngày. Chẳng hạn như chuyện biết Hà Vũ bị bệnh tim bẩm sinh, trại giam bố trí Vũ ở ngay phòng có nhiều gió lùa. Gặp những hôm gió mùa tràn về, cán bộ trực phòng giam Lê Văn Chiến lại hay vô tình mở cánh cửa cho gió thốc vào nơi CHHV nằm. Làm người tù có bệnh luôn bị gió lạnh tra tấn, rất có nguy cơ dẫn đến đột quỵ. CHHV đã nhiều lần phản ảnh lên Giám thị trại giam Lường Văn Tuyến. Nhưng mọi việc vẫn đâu đóng đấy. Không những thế, càng ngày việc xâm phạm các quyền lợi hợp pháp của tù nhân CHHV càng tồi tệ hơn. Khiến từ ngày 27/5/2013, cực chẳng đã, người tù lương tâm CHHV phải đi đến quyết định tuyệt thực để phản đối. 

Tính đến hôm nay (13/6), đã bước sang ngày thứ 18. Nhưng Giám thị trại giam K.5 Thanh Hóa và cấp trên của họ vẫn dửng dưng. Mà cuộc tuyệt thực vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Hậu qủa ra sao, dù không nói ra thì ai cũng rõ.

Những ai muốn nhổ bỏ cái gai sắc nhọn như tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ ở cả cái nhà tù lớn và nhà tù nhỏ K.5 Thanh Hóa kia? Chắc mọi người đã tỏ!

Nhận diện về việc này, Người Buôn Gió (Bùi Thanh Hiếu), người có nhiều am tường về cách hành xử của giám thị trại giam đã viết trên facebook của mình những dòng sau đây (xin trích):

Trại giam đã cho một tên cán bộ quèn, nếu tôi đoán không nhầm thì là một tên cán bộ một vài buồng giam hay một khu nhỏ trong trại giam. Tên cán bộ này nhận nhiệm vụ khiêu khích tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ để gây cho anh phải bất ổn định về tâm lý. Chứng tỏ đã có một sự toan tính nghiên cứu về tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ rất kỹ và trò khiêu khích bằng những thủ đoạn hèn mọn là mũi công phá mà những kẻ muốn tấn công anh đã chọn.  Những người trọng danh dự, khảng khái thường phải đối mặt với những tên tiểu nhân với những trò tiểu nhân như vậy. Tương tự những người dân tôn giáo hay người biểu tình yêu nước bỗng dưng không thấy công an đâu, thay vào đó là một đám ”quần chúng bức xúc” lăng mạ, chửi bới và đánh đập họ.

Cho dù tiến sĩ Vũ đã gửi đơn khiếu nại đến các cấp, nhưng tên cán bộ quèn đó vẫn hàng ngày nhơn nhơn đến khiêu khích anh. Không nói chúng ta cũng hiểu đằng sau tên lính quèn này là một âm mưu được chỉ đạo từ cỡ nào mới khiến hắn ngạo mạn như vậy.

Chắc chắn khi tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ hết sức và rơi vào hôn mê. Chúng mới đưa anh đi cấp cứu và dùng các biện pháp hồi sức, truyền đạm, truyền chất này nọ. Có khi nhân tiện chúng truyền loại thuốc gì đó luôn. Đấy mới là điều đáng lo. Và có khi đó mới là mục đích chính của sự khiêu khích khiến anh Vũ tuyệt thực.

Rồi Lái Gió đưa ra một phương cách ứng xử quyết liệt, thật không ngờ:
Việc của chị Hà muốn cứu anh Vũ ngay bây giờ, là hãy lên phương án sẵn sàng đón nhận nếu chồng mình chết vì tuyệt thực, tang lễ sẽ tổ chức thế nào, đưa đi đâu, kéo dài trong bao nhiêu ngày. Phải cứng rắn chơi sát ván với chồng mình như vậy mới cứu được chồng mình. Nếu cần hãy đội khăn tang, lập bàn thờ, cầm bài vị chồng đứng trước cổng cùng với xe tang, quan tài để chờ đợi nhận xác chồng ở trại giam đưa ra. 
Còn cứ loanh quanh van xin, lạy lục để được vào thăm chồng, để được động viên an ủi chồng ăn vài miếng thì xét theo góc độ phụ nữ, người vợ là điều đúng đắn. Nhưng xét theo tầm cỡ của Cù Huy Hà Vũ thì không thể nào như vậy.
Giáo dân Nam Định thắp nến cầu nguyện cho CHHV.

Giáo dân Nam Định thắp nến cầu nguyện cho CHHV.

Đã có rất nhiều cư dân mạng hưởng ứng sáng kiến của NBG. Nhưng từ ý tưởng đến hành động cũng còn một khoảng cách không nhỏ. Mà ngọn đèn (CHHV) giữa đêm đen đang leo lét từng ngày.
Thức tỉnh mau mau, hỡi các bạn ơi!
Cứu Vũ lúc này, là cứu mình, cứu Nước…
Để Việt Nam tiến về phía trước
Chẳng thẹn lòng với thế hệ mai sau.

Ai sẽ tiếp năng lượng cho ngọn đèn kiên trinh đang tuyệt thực trong tù Cù Huy Hà Vũ? Nếu không phải ở từng người một trong tất cả chúng ta?

Gocomay

____________________

663 – Danh nhân của làng người sang trong nước

P1060546.JPG

Đình Đụn-Lai Xá, nơi An Sinh Vương Trần Liễu (Thân Phụ Hưng Đạo Vương) tổ chức luyện binh – Ảnh: Phạm Thành

Làng quê tôi thật may mắn có 3 người được phong danh hiệu nghệ nhân trong số 47 nghệ nhân đợt đầu tiên của cả nước vừa công bố vào đầu tháng 7/2011 này! (*)

Chả biết tiền bạc kèm theo danh hiệu được bao nhiêu mà thấy chú em Nguyễn Văn Nhật (ông ngoại Nhật, cụ Lang Kiệu là chú ruột của Thầy tôi, mặc dù Nhật lớn hơn tôi gần chục tuổi mà vẫn phải gọi tôi là anh) đã sắm một cái lễ rõ thịnh soạn tới thắp hương tưởng nhớ tới Thầy tôi, người đã có công dạy nghề chấm sửa ảnh (Retouche), để Nhật trở thành “kẻ cả trong làng người sang trong nước” như bây giờ. Anh trai tôi báo với tôi qua điện thoại viễn liên quốc tế tin đại hỷ này!

Ngoài Nhật ra hai người nữa đều là anh họ cùng bản chi, bản cánh với tôi là các anh Phạm Thành và Phạm Đăng Hưng. Ở quê tôi xưa có cái lệ rất hay là, nếu nhà có việc hiếu, chưa cần chủ nhà báo chỉ cần biết tin thôi, là anh em bản cánh với nhau, tự tìm đến cùng gia chủ bàn bạc lo hậu sự, tiếp khách. Kể cả lúc cháy cỗ, chịu đói chứ không hề kêu ca phàn nàn bao giờ. Đó chính là những người được mệnh danh là “anh em khó nhọc”! Anh Thành và anh Hưng là hai người anh gần gũi với gia đình chúng tôi như thế!

P1060541.JPG

Nghệ sĩ Phạm Thành bên chiếc máy ảnh thời cổ – Ảnh: Hoàng Kim Đáng

Thời còn học ở Trường Điện ảnh, các bài tập ảnh của tôi bao giờ cũng đứng hàng đầu trong lớp, cũng là nhờ anh Thành bày giúp cách pha thuốc cách che chắn thêm bớt ánh sáng khi phóng ảnh… để có một bức ảnh như ý. Anh Thành mấy chục năm liền làm buồng tối ở Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh tại 51 Trần Hưng Đạo – Hà Nội. Những tấm ảnh đen trắng khó khăn nhất, các đồng nghiệp chịu bó tay thì anh mới ra tay sử lý! Anh được làng nghề phong cho danh hiệu “vua buồng tối” là lý do đó. Ngoài khả năng chuyên môn anh còn là một cây hài hước có tiếng. Mồm mép của anh có lẽ trong họ không ai có thể bì được. Cũng nhờ tài ngoại giao quan hệ của anh mà việc làm hồ sơ công nhận làng nghề cho Lai Xá cũng có nhiều mau mắn hanh thông.

Ngược lại với tính cách năng nổ của anh Thành, anh Hưng lại nổi tiếng nhu mì. Tính cách cũng phản ánh cái nghề chăng? Có thể lắm chứ. Cũng có thể gần ngang ngửa với Thầy tôi về môn chấm sửa ảnh. Anh Hưng đã được Đài truyền hình Hà Nội làm cả một bộ phim tài liệu với cái tên “nghề khó”. Lúc đó Thầy tôi đã khuất núi. Bộ phim được nhiều khán giả màn ảnh nhỏ cả nước đón nhận và thán phục một Phạm Đăng Hưng (PĐH) không chỉ là nghệ sỹ chơi đàn violon trong giàn nhạc giao hưởng có tiếng ở Hà Thành từ thời Pháp thuộc. Còn biết thêm một PĐH với bàn tay vàng Retouche – sửa ảnh!

P1060540.JPG

Nghệ nhân Phạm Đăng Hưng đang chấm sửa ảnh (2003) – Ảnh: Hoàng Kim Đáng

Cuối năm Ất Dậu (2005-đầu 2006) từ Đức bay về Lai Xá cùng anh chị em trong gia đình tu sửa hai ngôi mộ cho song thân tôi, thấy cái ảnh của Thầy tôi, người được mệnh danh “nhất Bắc Kỳ, nhì Đông Dương” về nghề chấm sửa ảnh (**) của làng nổi tiếng từ trước 1945 mà tấm ảnh sứ gắn trên bia đá lại bị các tay Retouche hiện đại thời Photoshop làm nhẵn thín chả còn chút nếp nhăn nào trên mặt khiến tôi không cầm được nước mắt! Tôi phải mang tấm hình cấp tốc tới gặp anh Hưng nhờ anh sửa lại. Chả là Thầy tôi, với thâm niên ngót 60 năm ngồi kỳ khu chấm ảnh, từ lúc trai trẻ 13 tuổi rời làng quê ra tỉnh… cho tới ngoài 70, lúc thay áo (bốc mộ) các đốt sống lưng của Thầy tôi, do ngồi cặm cụi nhiều… đã dính liền nhau như một cây gậy trúc đen nhánh, gây khó khăn vô cùng cho việc xếp cốt vào tiểu sành.

Tôi nhớ lúc cụ Uyển (tên Thầy tôi) đã nghỉ hưu rồi mà ông Trưởng phòng Nhiếp ảnh của Tổng cục Hậu cần (số nhà 18 phố Cửa Đông Hà Nội) còn tới tận nhà cạy cục thỉnh bằng được ông cụ tới làm theo diện hợp đồng hơn chục năm nữa. Hơn nửa thế kỷ làm bạn với ngọn bút lông và một miếng kính, đã có biết bao tấm hình đủ loại của những “dáng Kiều thơm” (Quang Dũng) đất Kinh kỳ hay các bậc vua quan đầu triều từ thời Bảo Đại tới thời Hồ Chí Minh đã được nhuận sắc bởi bàn tay vàng của ông cụ. Nhưng nào đã mấy ai biết tới. Thầy tôi chỉ thực sự ngưng làm việc (chấm sửa ảnh) khi không có loại bất kỳ số kính lúp nào trợ giúp được cho công việc để cụ hành nghề nữa… mới thôi.

Tên của Thầy tôi cũng được tác giả Hoàng Kim Đáng nhắc tới trong cuốn sách bìa cứng: “Lai Xá Làng Nhiếp Ảnh” do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (Sự Thật) ấn hành vào năm 2004. Thế cũng vui rồi, cứ gì phải bảng vàng bia đá chốn ba quân.

P1060549.JPG

Cách đây mấy tuần có chị trưởng Ban Văn hoá – Văn nghệ ở một tờ báo lớn thuộc tốp hàng đầu trong nước gửi cho Gocomay cái còm xin được đăng một bài của tôi viết về chuyện phong danh hiệu nghệ sỹ đang tốn biết bao giấy mực và sự quan tâm của dư luận. Mừng qúa đi chứ! Được các toà báo chính thống để mắt tới, blogger tay ngang nào mà chả xúc động. Mình đồng ý cả hai tay, chí ít cũng nhắn gửi tới các đồng nghiệp từng gắn bó một thời rằng, cái thằng tha hương lang bạt kỳ hồ này vẫn luôn dõi theo từng bước đi của các bạn. Không ngờ bài báo vừa ra mắt đã có thằng cháu họ cựu phóng viên (đã nghỉ hưu) ở chính tờ báo đó nhận ra ngay ông chú mấy chục năm xa cách của mình. Rồi lại được tin biết bao anh chị em trong ngành cũng để mắt tới bài viết! Thử hỏi có phần thưởng nào hơn? Thế mới biết trời chẳng bao giờ phụ lòng người. Nếu người thực sự có tâm với quê hương xứ sở thì chả đứa hóng hớt rách việc nào có thể bôi bác, xiên sẹo mãi được.

Trở lại chuyện các “danh nhân của làng”! Anh Thành có đứa con gái áp út sang Đức thăm con trai vừa tốt nghiệp Đại học khoa Công nghệ Thông tin. Hai mẹ con cháu cuối tuần lên thăm ông trẻ. Ra ga đón các cháu trễ mất mấy chục phút, để các cháu phải chờ, cứ thấy áy náy mãi. Chú cháu với nhau nhưng cháu Hương (con anh Thành) chỉ kém tôi đúng 3 tuổi. Gặp cháu lần cuối từ hồi cháu sơ tán về quê (thập niên 60), lúc cháu còn quàng khăn đỏ tới trường. Nay cháu đã sắp nghỉ hưu. Chú cháu ông cháu gặp nhau mừng khôn xiết. Ôn lại biết bao kỷ niệm về quê hương. Lúc đó mới hỏi cặn kẽ được chuyện “danh nhân của làng”. Cháu thực thà khai báo, năm nay bố cháu (anh Thành) đã ngoại bát tuần rồi. Nhận được danh hiệu nghệ nhân làng nghề do nhà nước phong cả nhà ai cũng vui. Nhưng chỉ có mỗi tấm bằng không hơn không kém. Người ta bảo bố cháu đã có lương hưu nên không có tiền kèm theo nữa. Hai chú Hưng và Nhật không có lương hưu trí nên mỗi người được nhận 500.000 VNĐ kèm theo danh hiệu. Hôm đi nhận bằng cháu phải bỏ ra 350.000 mua lẵng hoa tặng mừng bố cháu để bố cháu vui…

P1060531.JPG

Cháu Hương con gái anh Thành tới thăm nhà Gocomay hôm chủ nhật – 07.08.2011 – Ảnh: Nhất Dương

Câu chuyện cháu Hương kể làm tôi cứ day dứt mãi suốt từ lúc tiễn hai mẹ con cháu ra về tới giờ. Nay tĩnh tâm ghi lại những dòng này để mọi người cùng chia xẻ. Nghĩ gì là quyền của mỗi người. Nhưng tôi cứ băn khoăn mãi chuyện chú Nhật nhận được có nửa triệu bạc, phải khao biết bao người làng tới ăn mừng (chắc khá tốn kém). Lại vẫn sắm cái lễ dâng lên vong linh Thầy tôi, để tỏ lòng tri ân người thiên cổ… mà mấy ai đã thấu hết sự đãi ngộ của nhà nước lại qúa bèo như vậy.

Có lẽ như phương ngôn ví “một miếng giữa làng bằng một xàng xó bếp” nên chẳng ai lại dám kêu ca than phiền gì. Nhưng trong lòng tôi vẫn cứ bứt dứt khôn nguôi. Còn nơi suối vàng, Thầy tôi và các bạn bè anh em của cụ (không còn biết tiêu tiền) cũng ngậm cười và hãnh diện với những đứa cháu biết ăn ở vuông tròn của mình?!

Gocomay

___

(*) Phong tặng danh hiệu cho 9 làng nghề tiêu biểu

Ngày 2.7,  Hiệp hội Làng nghề Việt Nam đã tổ chức lễ phong tặng danh hiệu Làng nghề tiêu biểu cho 9 làng nghề, gồm: Làng nghề mộc Thái Yên (Đức Thọ, Hà Tĩnh); làng nghề dệt Phùng Xá (Mỹ Đức, Hà Nội); làng nghề mây tre đan Phong Cảnh (Nghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An); làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá (Hoài Đức, Hà Nội;) làng nghề mộc Vạn Điểm (Hà Nội); làng nghề gốm Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long); làng mộc Kim Bồng (tỉnh Quảng Nam) và làng lồng đèn Hội An (tỉnh Quảng Nam).

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cũng đã phong tặng danh hiệu cho 47 nghệ nhân làng nghề, 22 đơn vị kinh tế làng nghề tiêu biểu, 26 sản phẩm tinh hoa làng nghề và trao kỷ niệm chương vì sự nghiệp bảo tồn, phát triển làng nghề Việt Nam cho 27 cá nhân nhằm khích lệ, ghi nhận sự đóng góp của các nghệ nhân, các doanh nghiệp làng nghề, các cá nhân trong sự phát triển của nghề thủ công truyền thống của Việt Nam trong thời gian qua.                                                                                                                      V.C (Theo TNO http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110704/phong-tang-danh-hieu-cho-9-lang-nghe-tieu-bieu.aspx)

(**) Xem: Những đứa con nổi tiếng của người thợ ảnh  –  http://www.tienphong.vn/xa-hoi/Index.html?FromTime=16-08-2011%2023:59:59

________________________________

579- “… sẽ chỉ còn tiếng hát của vầng trăng”

atelier2005.jpg 

Hoạ sỹ Nguyễn Đình Đăng đang thực hiện vẽ lót một bức tranh – Nguồn: //rarfaxp.riken.go.jp/ 

Đang khấp khởi mừng cho báo chí lề phải vừa qua cũng đã phần nào thấy được chỗ bất cập trong cách hành xử của ngành toà án xứ ta, khiến hiền lành như “nhà sư” Thích Học Toán (GS Ngô Bảo Châu) cũng phải thốt lên chỉ trích giới chức tòa rằng: Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ”. Thì hôm nay thấy tờ QĐND đăng bài trong chuyên mục: Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” với tiêu đề “Phiên tòa nghiêm minh, đúng pháp luật” (*).

Đồng thời lại nghe tin: “Giáo sư Ngô Bảo Châu đóng trang blog ‘Thích học toán’ của mình sau bài bình luận gây nhiều tranh cãi liên quan tới phiên xử TS Cù Huy Hà Vũ.” (BBC-http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/04/110410_baochaublog_shutdown.shtml).

 Như vậy, sau đúng một tuần im hơi lặng tiếng (hay âm thầm phản công các ý kiến trái lề), nay tờ QĐND tờ báo lớn vào bậc nhất của đảng và nhà nước đã chính thức tỏ thái độ, khẳng định: “Bản cáo trạng cũng như bản án kết tội của HĐXX đã khẳng định rõ, các bài viết và trả lời phỏng vấn của Cù Huy Hà Vũ là xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phỉ báng chính quyền và thể chế Nhà nước, bôi nhọ cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam… Dư luận quần chúng nhân dân đều cho rằng, mức án 7 năm tù, 3 năm quản chế sau mãn hạn tù đối với Cù Huy Hà Vũ là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.”(?)

 Vậy để rộng đường cho cái gọi là “Dư luận quần chúng” đó. Cũng như sự bày tỏ phần nào quyền tự do ngôn luận, đã được ghi rõ trong lời văn của bản hiến pháp của nước ta (Điều 69), xin post lại đây ý kiến của tiến sỹ Nguyễn Đình Đăng, một trí thức tên tuổi hàng đầu của VN đang sống và làm việc tại Nhật về sự việc trên. Xin phi lộ chút xíu bản trích ngang của Nguyễn Đình Đăng là đã đỗ 2 bằng tiến sỹ khoa học về vật lý hạt nhân ở ĐHTH quốc gia Maxcơva-Nga (năm 1985 và 1990). Hiện đang được Viện nghiên cứu Riken nổi tiếng của Nhật ở Tokyo trọng dụng. Ngoài ra, ông còn là hoạ sỹ nổi tiếng là Hội viên của 3 hội Mỹ thuật lớn (Hội Mỹ Thuật VN; Hội Nghệ thuật quốc tế và Hội Mỹ thuật Shutai-Nhật Bản) với hàng chục cuộc triển lãm tranh cá nhân và thuyết trình về Mỹ thuật gây tiếng vang cả ở Việt Nam và quốc tế. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng Mỹ thuật ở Nhật vào các năm 2003-2004-2005 và 2007. Một người thành đạt như thế ai dám nghi là bị “các thế lực thù địch” lung lạc cho được?

ap_20110314055425967.jpg 

Vợ chồng TS Nguyễn Đình Đăng chụp ảnh chung với ông Đại sứ VN tại Tokyo Nguyễn Phú Bình

 from right: Mrs. Reiko Sato – the model, me, my wife, Mrs. and Mr. Nguyen Phu Binh – ambassador of Vietnam to Japan, and Mrs. Lai To Tam – first secretary of Vietnam Embassy in Tokyo – 28th Outstanding Rising Artists Exhibition, 7 – 29 March, 2009, Sompo Japan Museum of Art, Tokyo (Opening day March 6, 2009)

Với sự ngưỡng mộ một nhà trí thức khoa bảng và một hoạ sỹ tài hoa, tôi xin giới thiệu bài viết rất đặc sắc vừa sốt dẻo của TS Nguyễn Đình Đăng. Cũng là để góp thêm tiếng nói khách quan của “dư luận quần chúng” như cách mô tả của báo QĐND (đang rất năng nổ) trên mặt trận “không tiếng súng” này!

Gocomay

Phiên toà kangaroo (**)

Một xã hội của loài cừu sẽ đồng thời phải sinh ra một nhà nước của loài sói.

                                            Bertrand de Jouvenel (1903 – 1987)

Kangaroo (kăng-gu-ru) là tên loài chuột túi sinh sống ở châu Úc, có đầu nhỏ, hai tai to, hai chân trước ngắn ngủn, hai chân sau lực lưỡng với một cái đuôi to và dài dùng làm chỗ dựa.

kagaroo.jpg

Kangaroo di chuyển bằng cách dùng hai chân sau làm bàn đạp để nhảy phốc, “đi tắt đón đầu”, nhằm mau chóng rời khỏi vị trí hiện tại để đạt tới một cái đích nào đó. Thuật ngữ phiên tòa kangaroo đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1853 tại Texas, để chỉ kiểu xử án “đốt cháy giai đoạn” tựa như những cú nhảy của con kangaroo. Theo định nghĩa của từ điển Webster, phiên tòa kangaroo là “phiên tòa giả hiệu, bỏ qua hoặc áp dụng sai lạc các nguyên tắc của luật pháp và công lý”, như từ chối những quyền tố tụng cơ bản của bị cáo và luật sư trong đó có quyền triệu tập người làm chứng, quyền loại bỏ bằng chứng sai trái và quyền thẩm vấn, quyền từ chối quan tòa hay luật sư do thiên vị hay mâu thuẫn quyền lợi, quyền không buộc tội chính mình, quyền tự bào chữa, và quyền kháng án. Phiên toà kangaroo nhảy vội đến kết luận với một bản án đã có từ trước khi phiên tòa diễn ra, tiếng Việt gọi nôm na là “án bỏ túi[1]. Phiên toà xử tiến sĩ luật khoa Cù Huy Hà Vũ ngày 4/4/2011 vừa qua đã hội đủ mọi tiêu chí[2] để trở thành một điển hình sách giáo khoa của một phiên toà kangaroo (hay phiên toà  “con cóc nhảy”, nếu thích chuyển ngữ cho “thuần Việt”). Không chỉ các luật sư, mà tất cả những ai đã theo dõi phiên toà cũng có  thể  nhận thấy điều đó.

*

Tôi đã từng gặp ông Cù Huy Hà Vũ và phu nhân của ông cách đây khoảng 20 năm trước. Hồi đó ông Vũ bắt đầu thích vẽ và vẽ khá nhiều. Tôi còn nhớ bức tranh đầu tiên ông gửi tham gia triển lãm mỹ thuật thủ đô tại Hà Nội vào tháng 10 năm 1990 hay 1991 gì đó. Trong bức sơn dầu đầu tay này ông Vũ vẽ một người đàn ông mặc một chiếc quần xà lỏn đang chèo một con thuyền độc mộc lênh đênh trên sóng biển. Hôm đó, ông Vũ mời hoạ sĩ Lê Huy Tiếp và tôi tới nhà ông xem tranh. Ông nói ông định đặt tên bức tranh này là “Thuyền nhân” (Boat people). Hoạ sĩ Lê Huy Tiếp đã khuyên ông Vũ nên đổi tên bức tranh, vì “chỉ một cái tên chưa đủ nói lên gì cả mà lại thêm … rách việc”, ông Tiếp nói đại ý như vậy. Cuối cùng bức tranh cũng được nhận treo tại triển lãm với một cái tên gì tôi không nhớ nữa, nhưng không phải là “Thuyền nhân”. Sau đó tôi nghe nói ông Vũ sang Pháp học, đậu tiến sĩ luật khoa và thạc sĩ văn chương tại đại học Sorbonne. Dần dần tôi bắt đầu được đọc về các vụ ông tự ứng cử chủ tịch hội Mỹ thuật VN, bộ trưởng văn hoá VN, các vụ kiện mà ông tham gia như vụ đền Cẩu Nhi, đồi Vọng Cảnh, giáo xứ Cồn Dầu, vụ ông kiện thủ tướng Việt Nam, vụ ông tố cáo cục phó Tổng cục anh ninh, yêu cầu sửa đổi hiến pháp, bào chữa cho tướng công an Trần Văn Thanh, phát biểu quan điểm về chiến tranh Việt Nam, v.v.[3] Tôi cũng đã đọc các bài ông Vũ trả lời phỏng vấn trên internet. Ý tưởng như đốm lửa thấp thoáng trong bức “Thuyền nhân” ông Vũ vẽ năm nào nay đã cháy rực thành bó đuốc. Trong các hoạt động của mình, ông luôn nêu quan điểm rất rõ ràng, nhất quán trước sau như một, không quanh co hay nhập nhằng nước đôi. Việc ông Vũ hành động đơn thương độc mã, dùng chính pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam để đấu tranh bất bạo động là điểm nổi bật của ông so với tất cả các nhà yêu nước trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Thực ra, tất cả những gì ông làm, theo cách diễn đạt của một xã hội văn minh – dân chủ – tự do, chỉ giản dị là thực thi quyền tự do ngôn luận của mình. Quyền này, trên hình thức, cũng được ghi trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam [4].

Thế nhưng ở Việt Nam mọi người đều hiểu sớm muộn ông Vũ sẽ gặp rắc rối, sẽ bị bắt, và sẽ ra toà kangaroo. Ông Vũ chắc cũng hiểu điều đó: Ông từng khẳng định người ta chẳng có lý do gì để bắt ông vì ông vô tội. Buồn thay sự việc lại diễn ra trên một đất nước mà những người yêu nước, khác tư tưởng với nhà cầm quyền, luôn bị ngược đãi hoặc tống giam, thậm chí bị tiêu diệt, trong mọi thời đại từ trước tới giờ. Nhiều người trong giới trí thức cũng như các tầng lớp nhân dân khác tại Việt Nam nín thở chờ đợi thái độ của ông Vũ khi ra toà. Ngày ra toà ông Vũ vận com-lê, thắt cà-vạt đỏ, tóc cắt gọn chải tươm tất, nét mặt bình thản, đầu ngẩng cao, trong lúc những người công an áp giải ông cúi đầu.

chhv3.jpg

TS luật khoa Cù Huy Hà Vũ tại phiên toà 4/4/2011(ảnh VTV1 & TV HN1)

Jean de La Fontaine từng viết bài thơ ngụ ngôn “Le Loup et l’Agneau” kể về con chó sói và con cừu non cùng ra suối uống nước. Con sói muốn ăn thịt con cừu bèn tìm đủ cách buộc tội con cừu. Đầu tiên con sói bảo con cừu làm bẩn nước suối của con sói. Bị con cừu bẻ: “Thưa ông, ông uống ở thượng lưu, tôi uống ở hạ lưu, thì chỉ có ông làm bẩn nước của tôi chứ làm sao tôi có thể làm bẩn nước của ông được?”, con sói nói: “Năm ngoái mày đã phỉ báng tao!” Con cừu trả lời: “Thưa ông, năm ngoái tôi chưa ra đời.” Con sói nói: “Thế thì thằng anh mày đã phỉ báng tao!” Con cừu đáp: “Thưa ông tôi là con một.” Con sói rống lên: “Thế thì một đứa trong lũ chúng mày đã nói xấu tao, thằng chăn chúng mày đã nói xấu tao, con chó chăn chúng mày đã nói xấu, tao phải trả thù!” Thế rồi con sói vồ con cừu nhai ngấu nghiến. La Fontaine kết luận: “Lý lẽ kẻ mạnh bao gi cũng thng (La raison du plus fort est toujours la meilleure).

Tại phiên toà ngày 4/4/2011 vừa qua, nhà cầm quyền đã biểu dương sức mạnh của mình với một dàn công an chìm nổi, rào chắn, dùi cui, xe phun nước, xe cứu thương, xe bus, v.v. Nhân dân bị ngăn cấm vào dự phiên toà, bị nạt nộ, bị xô đẩy, bị bắt bớ. Cả một bộ máy quyền lực với những công cụ ghê gớm của nó đã được giương ra với ý định đè bẹp ý chí của một cá nhân, làm gương cho những kẻ khác. Thế nhưng lần này cá nhân đó – ông Cù Huy Hà Vũ – lại hiểu rất rõ và “tin tưởng tuyệt đối” vào lý tưởng của mình trong khi những người  thừa hành nhiệm vụ đàn áp ông lại tỏ ra ngượng ngập, lúng túng, thiếu hiểu biết chuyên môn. Kết cục thì như mọi người đều đã thấy rõ: Ông Vũ đã không bị khuất phục. Ông sẵn sàng chịu bất cứ cái án nào toà phán cho ông. Ông bình tĩnh nói: “Tổ quốc và nhân dân Việt Nam sẽ phá án cho tôi, công dân Cù Huy Hà Vũ!” Trong đoạn video phát trên truyền hình Hà Nội khi những người công an vội vã đưa ông Vũ, tay bị còng, ra xe sau khi phiên toà kết thúc, tôi còn thấy ông Vũ mỉm cười. Những vụ xử án kiểu cóc nhái, chuột túi như thế này diễn ra liên miên tại Việt Nam thường làm tôi tủi hổ. Vậy mà phiên toà kangaroo lần này lại khiến tôi cảm thấy tự hào, vì Việt Nam vẫn còn những người như ông Cù Huy Hà Vũ.

Như thế có nghĩa là đất nước này sẽ có ngày được hưởng Dân Chủ – Tự Do thực sự. Phiên toà xử tiến sĩ luật khoa Cù Huy Hà Vũ dường như đã cho thấy cái ngày đó đang tới gần. “Những con sói sẽ ngừng hú và sẽ chỉ còn tiếng hát của vầng trăng[5].

Tokyo 8 – 10 /4/2011

[1] http://en.wikipedia.org/wiki/Kangaroo_court

[2] Theo LS Nguyễn Thị Dương Hà, toà án đã từ chối yêu cầu của TS Cù Huy Hà Vũ muốn thay thế toàn bộ hội đồng xét xử (HĐXX) vì cáo trạng luôn buộc tội ông đòi xóa bỏ độc quyền lãnh đạo của Đảng CSVN, mà tất cả ủy viên HĐXX đều là đảng viên CSVN, có nghĩa là sẽ không khách quan nếu những người này xét xử ông. Còn theo LS Trần Đình Triển– một trong 4 luật sư bào chữa cho ông Cù Huy Hà Vũ – HĐXX đã từ chối “công bố những chứng cứ, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án để các luật sư thẩm vấn, đã bỏ qua quy định tại Điều 214 của bộ luật tố tụng hình sự, và kết thúc phần xét hỏi”. Ông Triển cho biết: “Các luật sư chưa được hỏi, đi sâu vào đánh giá chứng cứ và để chuyển sang phần tranh tụng, có nghĩa là cắt đi cái phần xét hỏi đi vào trực tiếp chứng cứ của vụ án để đánh giá có tội hay không có tội”.

Xem: Nguyễn Thị Dương Hà, Đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm 04/4/2011 đối với TS Cù Huy Hà Vũ.

Xem: Thanh Phương, Thụy Mỹ, và Tú Anh, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bị tuyên án 7 năm tù. Luật sư Dương Hà tố cáo một phiên tòa trái pháp luật, RFI, 4/4/2011.

[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/Cù_Huy_H à_V ũ

[4] Xem điều 69 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam(1992).

[5]George Carlin (1937 – 2008) – nghệ sĩ hài và nhà phê bình xã hội người Mỹ, từng đoạt 5 giải Grammy và Mark Twain Prize for American Humor (Giải Hài cuả Mỹ mang tên đại văn hào Mark Twain).

Nguyễn Đình Đăng

(*) Xem bài trên báo QĐND: Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”: Phiên tòa nghiêm minh, đúng pháp luậthttp://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/5/5/5/144603/Default.aspx

(**) Xem trên BBC ở đây: http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fjjj.oop.pb.hx/ivrganzrfr/sbehz/2011/04/110411_athlra_qvau_qnat_bcvavba.fugzy

_____________________

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ