827 – Thiên chức lương y của Yersin gửi người đời!

Alexandre Yersin (1863-1943)

Alexandre Yersin (1863-1943)

Vào tháng 4 năm 1985, Sau một năm làm việc cật lực, phim “Thuỷ điện nhỏ” đầu tay của tôi không bị đổ như ai đó mong đợi. Được xếp loại khá. Có lẽ do sự hiện diện của rất nhiều ngọn thác lớn và đẹp bậc nhất Tây Nguyên đã làm cho người xem phải trầm trồ. Theo đúng luật, vượt qua ải “vũ môn”, tôi đương nhiên được công nhận chức danh đạo diễn của hãng. Biết không thể cản được quyết tâm vươn lên của tôi, Chef Lương Đức mời tôi lên quán nước ông Chiu, cổng hãng, gọi kẹo lạc nước trà, dùng tình cảm thuyết phục!

Kết thúc tuần trà đầu, “chàng” ân cần bảo tôi:

– Phim đầu tay của cậu không tồi. Nhưng tớ thấy cậu lãng phí thời gian vào nó quá. Nếu không làm đạo diễn, cậu có thể làm quay phim cho 4, 5 phim như những năm trước… chắc chắn cả công và tư vẫn có lợi hơn không?

Từng cộng tác và học hỏi ở “Chef Lùn” trong nhiều phim mấy năm qua, thoáng nghe, lời “chàng” không phải không có lý. Ngay cả thời các Chef tiền nhiệm như: Quốc Ân; Như Ái; Nguyễn Thiệu và Lê Quốc còn trị vì, cái tên Lương Đức vẫn là một tên tuổi lớn trong làng điện ảnh Tài liệu Khoa học. Huống hồ bây giờ “chàng” lại quyền sinh quyền sát. Một lời nói tựa như trái núi, ai mà không ngán. Biết khó có thể chống lại ý muốn của chàng khổng lồ, tôi bèn đưa ra đề nghị “hai bên cùng có lợi”. Tôi vẫn chấp nhận quay phim cho “chàng” và “nàng” (Lệ Mỹ). Nhưng đổi lại cứ sau hai phim quay xong, tôi được tự quay và làm đạo diễn một phim cho mình.

Thấy khó lay chuyển cái quyết tâm làm đạo diễn của tôi, sau phim “Cá Trôi Ấn” quay ở Từ Sơn Bắc Ninh xong, Lương Đức phải giao phim “Bệnh Dịch Hạch” cho tôi. Đề cương của phim này do Lại văn Sinh chắp bút, được duyệt đã lâu, nhưng không ai nhận. Nay “bắn” cho tôi gọi là “thử tay nghề đạo diễn mới”! Thật là “nhất cử mà tam, tứ tiện”!

Chưa có nhiều kinh nghiệm, nhưng đổi lại tôi có sức trẻ và ý chí rất mạnh nên cứ nhận bừa. Khi bắt tay vào cuộc mới thấy thâm ý của các bậc tiền bối thật khôn lường. Cỗ xe tam mã lại từ từ chuyển động vào Miền Trung, để lại phía sau bao nhiêu bề bộn của đời thường.

Vào Nha Trang, có lẽ đó là thời điểm khó khăn nhất của Viện Vệ sinh Dịch tễ, nên ngoài việc giúp chúng tôi vài cảnh cảnh quay sơ sài ở phòng thí nghiệm và các di tích cũ của Yersin ở xóm Cồn, cầu Bóng và Suối Dầu, viện cũng “lực bất tòng tâm” chẳng giúp chúng tôi được như mong đợi. Mặc dù nơi đây là chiếc đầu cầu lây lan bệnh dịch hạch ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ 19.

Những ngày làm việc tại Khánh Hoà, được tiếp cận nhiều tài liệu về Yersin, về 3 đợt đại dịch hạch khủng khiếp diễn ra trên thế giới, với con số tử vong bởi “thần chết đen” mỗi đại dịch từ 50 tới 100 triệu người. Trong tôi luôn cộm lên một câu hỏi:

– Tại sao một nhà bác học lớn tầm cỡ như thế, mà lớp hậu sinh như chúng tôi hầu như không hay biết?” Không một bệnh viện nào, không một trường học nào mang tên của ông. Ngay các đường phố ở Hà Nội, Nha Trang và TP Hồ Chí Minh tên của ông cũng được Việt hóa thành: “Y Éc Sanh” nên nhiều người còn nhầm ông này là ông tổ của nghề mổ lợn.

Thắng bệnh dịch hạch, ân nhân của nhân loại, vị tha, quên mình, Yersin là người đã chiếm trọn tình cảm của người dân thành phố biển Nha Trang một cách êm thấm. Đi trước thế kỷ của mình, ông là người mở đầu trợ giúp cho các xứ nhược tiểu, phát triển về trồng trọt, chăn nuôi và y tế.

Nhiều buổi chiều lang thang bên những xóm chài nghèo dưới chân Tháp Bà và cầu Bóng, lắng nghe những người đánh cá già kể với một tấm lòng rất thành kính nhiều kỷ niệm không bao giờ phai về người bác sỹ rất thân thiện với bà con cư dân nơi xóm Cồn.

Họ kể, ông Năm (bác sĩ Yersin) rất cởi mở, gắn bó với người dân Nha Trang, rất yêu quý trẻ em. Ông hay cho chúng tôi kẹo, tiền lẻ để mua quà. Thời bấy giờ, ngư dân tránh được tai họa do bão cũng là nhờ bác sĩ quan sát thiên văn, nghe thời tiết mà báo trước cho họ. Ông Năm thường khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân nghèo.

Ngư dân có thói quen hay uống rượu say, kình lộn, gây gổ, chửi nhau, thậm chí ẩu đả. Bác sĩ lặng lẽ lấy máy quay phim, ghi lại những chuyện không hay ấy. Sau đó, mời dân xóm Cồn đến xem phim, hỏi họ có hay không, đẹp không? Ai nấy đều xấu hổ. Nhờ đó mà xóm Cồn thời ấy gần như hết nạn say rượu, đánh chửi nhau.

Ngày ông mất, rất nhiều người dân ở xóm Cồn, ở Nha Trang thương khóc như cha mất. Họ để tang và đoàn người tiễn đưa ông dài hơn ba cây số. Có ở đâu như ở Nha Trang, người dân địa phương thờ cúng ông – một người nước ngoài – như một vị thánh nhân đức!

Trong thư tịch ở tủ lưu niệm tôi còn được biết, lúc sinh thời, một số đồng nghiệp không đồng quan điểm với ông tại viện Pasteur Paris và những người Pháp tại Đông Dương thấy Yersin phân tán tri thức lấy làm gai mắt, cho ông là một người kỳ dị.

Song chính nhờ sự “kỳ dị” đó mà ông đã thành công trên nhiều phương diện, luôn đi tiên phong trong những lãnh vực mới, với nhiều phát minh sáng giá như:

  • Máy phát thu bằng chữ morse để liên lạc Nha Trang, Suối Dầu, Hòn Bà
  • Máy thu thanh tân tiến, bắt được các đài bên Pháp
  • Kính thiên văn

Dù chiếc xe đạp là phương tiện được ông ưa chuộng. ngay từ năm 1910, ông đã muốn tậu một chiếc phi cơ, nhưng vì Đông Dương không có sân bay, ông đành bỏ dự định này.

Trong khi viên Công sứ tại Nha Trang chưa có xe nhà thì Yersin đã gởi mua tại Pháp chiếc Serpollet năm mã lực, chiếc xe Clément và một thuyền máy.

Hai năm sau, ông bán lại chiếc Serpollet năm mã lực cho viên Công sứ Nha Trang, rồi sang Paris tậu chiếc xe Serpollet sáu mã lực đem ra Hà Nội làm lác mắt chẳng những dân cư Hà Nội mà cả chính giới. Viên tướng chỉ huy quân đội Pháp còn nhờ ông đưa xe đi diễu hành qua cầu Long Biên.

Tháng Giêng năm 1905, Yersin bán chiếc Serpollet sáu mã lực, tậu chiếc Serpollet mười một mã lực. Năm 1907, ông mua một chiếc Alcyon. Năm 1912, ông mua chiếc Clément Bayard mười lăm mã lực. Đến năm 1925 ông lại tậu chiếc Zèbre vừa mau vừa êm để tiên cho việc đi lại làm việc giữa Nha Trang, Hòn Bà, Dran và Djiring. Nhưng khi cần tiền cho các công trình nghiên cứu hay giúp người nghèo, ông bán ô-tô và dùng lại xe đạp. Trong các đợt thám hiểm ông dùng ngựa, voi hay đi bộ chứ không dùng võng hay kiệu như các quan lại Pháp hay Việt thường dùng khi đi kinh lý.

Năm 1943, vì phổi yếu, ông dùng xích-lô. Nhắc đến Yersin, ai cũng hình dung một ông cụ già khiêm tốn ăn mặc xuềnh xoàng đi chiếc xe đạp cũ kỹ, quên rằng Alexandre Yersin đã làm bực mình các quan chức chính quyền thời bấy giờ với những chiếc ô-tô tối tân.

Tiên phong trong những lãnh vực mới, năm 1932, khi chuyến bay đầu tiên của hàng không Pháp nối liền Sài Gòn – Paris thì ông dùng máy bay để di chuyển. Tháng 3 năm 1940, Yerin bảy mươi bảy tuổi, lấy máy bay về Pháp để dự buổi họp hằng năm của viện Pasteur Paris. Một cuộc hành trình rất gay go. Ngày 30 tháng 5 năm 1940, chuyến máy bay cuối cùng đưa ông về Việt Nam, trước khi quân đội Đức vào Paris.

Mặc dù vậy, Yersin lại thích sống chung với người dân nghèo chài lưới và đã bỏ tiền tậu lại cái lô-cốt hai tầng lầu bỏ hoang gần xóm Cồn và cửa sông Cái. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí quyển XI về Khánh Hoà, đó là một đồn biên phòng rất lâu đời.

Ngư dân xóm Cồn thường gọi tòa nhà này là “Lầu Ông Tư”, nơi bác sĩ A. Yersin sống và làm việc ngay giữa làng chài bên cửa sông Cái, Nha Trang. Năm 1977, tòa nhà đã bị đập bỏ để xây dựng nhà nghỉ 378 của Bộ Công an hiện nay.

(Tư liệu của PĐQ)

Nhà riêng của A. Yersin bên cửa sông Cái - Nha Trang

Nhà riêng A. Yersin bên cửa sông Cái – Nha Trang

Từ năm 1895, Yersin đã tạo lập cho mình chỗ ở tuyệt vời để hằng ngày quan sát và hoà nhập với thiên nhiên.

Lô-cốt mỗi bề khoảng 7m 50. Mỗi tầng có hành lang rộng bao bọc. Có thể đi dọc hành lang để quan sát. Ông bố trí tầng trệt là phòng ăn, tầng một là phòng làm việc và tầng hai là phòng ngủ. Về sau, nóc nhà làm thêm một vòng tròn để dựng kính thiên văn.

Có người cho ông là con người lập dị, một người không chạy theo danh vọng, quyền lợi cho riêng mình. Một đoạn thư ông viết cho mẹ năm 1890 khi ông hai mươi bảy tuổi: “Mẹ hãy tưởng tượng xem ông Pasteur đã xin được cho con huân chương của Hàn lâm viện. Các thành viên của Viện Đại học Pháp rất mong muốn có được tấm huân chương màu tím này, song bản thân con lại không hề thấy mình xứng đáng được nhận”. Tháng 12 năm 1927, khi nhận giải thưởng Leconte của viện Hàn lâm Khoa học, ông tuyên bố: “Giải thưởng nầy là vinh dự cho viện Pasteur và số tiền nhận được sẽ giúp cho các cuộc thí nghiệm trồng cây quinquina (Canhkina). Ông đầu tư nguồn tiền thưởng hậu hĩnh từ các phát minh vào các công trình đang thực hiện. Tiền từ Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh; Giải Audiffret của Hàn lâm viện Tâm lý và Chính trị có kèm theo 15.000 quan Pháp. Ông dùng số tiền này tiếp trợ cho nền tài chánh Suối Dầu. Giải thưởng Lassen đem lại cho ông 8.000 quan Pháp. Ông dùng ngay tiền đó vào việc mở đường mòn nối liền Suối Dầu – Hòn Bà.

Khi vua Bảo Đại trao tặng Bội tinh Kim Khánh (Long Bội tinh) cho ông, vì phép lịch sự ông buộc lòng phải cho vua Bảo Đại đeo Kim Khánh vào cổ mình, nhưng khi vừa bước xuống, ông đã e lệ dùng chiếc mũ ép lên ngực che hết chiếc huân chương. Năm 1938, trường trung học Đà Lạt muốn có một bức tượng bán thân của Yersin, ông cương quyết từ chối làm mẫu.

Khi toàn quyền Decoux muốn biết tên những người quyền quí, danh tiếng mà Yersin đã gặp, ông trả lời: “Ở Đông Dương tôi ít giao thiệp với những hạng người ấy.”

Thật ra Yersin đã có lần gặp nhiều người danh tiếng. Năm 1896, thống chế Lyantey (lúc bấy giờ là thiếu tá) đến Nha Trang có ghi vào sổ tay: “Vị bác sĩ trẻ này tận tụy với vi trùng học, nghiên cứu, chế tạo “vắc-xe” với một niềm tin tưởng, ý chí đam mê của một nhạc sĩ cao siêu. Những giờ thăm viện của ông làm phấn khởi tinh thần, mặc dầu viện còn thô sơ.”

Bác sĩ Yersin và căn chòi lá, nơi ông tìm ra vi trùng dịch hạch ( (Yersinia pestis) tại Hong Kong năm 1894 - Ảnh tư liệu

Bác sĩ Yersin và căn chòi lá, nơi ông tìm ra vi trùng dịch hạch (Yersinia pestis) tại Hong Kong năm 1894 – Ảnh tư liệu

Sống tha hương, dù ở Pháp, Việt Nam hay Trung Quốc, hầu như tuần lễ nào ông cũng viết thư cho mẹ. Tính đến khi mẹ ông mất, năm 1905, ông đã gởi ngót 1.000 bức thư, cho bà biết sức khỏe và công việc hằng ngày của mình.

Khi mẹ mất rồi, Yersin tiếp tục gởi thư cho người chị ruột, bà Emilie.

Trong thư nhiều khi đầy vẻ hài hước, như khi ông ở Hồng Kông viết cho mẹ: “Con còn nhiều điều nữa muốn thưa với mẹ, nhưng có hai xác chết đang chờ con. Họ muốn ra nghĩa địa cho sớm. Tạm biệt mẹ thân yêu. Mẹ rửa tay sau khi đọc thư này kẻo bị lây dịch hạch, mẹ nhé.”

Noẽl Bernard viết về A. Yersin có câu: “ít có người không vụ lợi như Yersin. Khiêm tốn, giản dị, lịch sự”.

Ông ăn mặc xoàng xĩnh bộ đồ kaki bạc màu cũ kỹ, áo khoác bốn khuy ba túi, áo sơ-mi vải trắng hở cổ, quần kaki trên rộng dưới hẹp giặt sạch mà không bao giờ ủi. Giày vải bố. Trong túi ngực bên trái đựng một cái đồng hồ trái quít đeo bằng một sợi dây gai đỏ. Phải nói rằng Yersin không thiếu đồng hồ. Năm 1945, người ta tìm thấy trong tủ sắt của viện Pasteur Nha Trang rất nhiều đồng hồ trái quít chế tạo tại Thụy Sĩ, phần lớn bằng vàng, dây đeo cũng bằng vàng, bên trong cái nắp đều có dòng chữ: Chế tạo riêng cho Bác Sĩ Yersin.

Ngày 22 tháng 11 năm 1920, ông đáp tàu Paul Lecat đi Marseille. Một phục vụ viên trẻ của tàu không biết ông, cương quyết không cho ông vào phòng ăn. Nội qui của tàu bắt buộc phải thắt cravate khi bước vào phòng khách. Yersin trở về cabine. Sau đó, ông quay lại phòng ăn nói với phục vụ viên: “Chiếc cravate nầy cậu có chấp nhận không ?” Vừa nói ông vừa chỉ tay xuống chỗ hở ở cổ áo nơi ông vừa đút tấm huân chương “Bắc Đẩu Bội Tinh” vào.

Năm 1925, một buổi sáng ông đến hãng xe gặp một người khách sang trọng từ Pháp mới tới. Người nầy thấy ông ăn mặc xoàng xĩnh buột miệng kêu lên: “Tên bụi đời lang thang này làm gì ở đây ?

Bữa ăn của ông thường đạm bạc. Món ăn ông ưa thích thường ngày chỉ là món xúp rau cải ăn với bánh mì hoặc biscotte. Trong thời gian chiến tranh ông phải ăn bánh tráng thay cho bánh mì. Ông thích ăn cá hơn là thịt. Các loại cá được ông ưa chuộng là cá thu, cá mú.

Món rượu khai vị của ông thường chỉ là thứ nước có bột quinquina do ông tự chế. Nước uống đôi khi ông dùng nước lá sả mà ông bảo rằng dễ tiêu hoá. Có lần đi thám hiểm vùng cao nguyên, ông chỉ ăn cơm không trong hai tháng.

Làng chài xóm Cồn (xóm Bóng) nhìn ra Hòn Đỏ.

Làng chài xóm Cồn (xóm Bóng) nhìn ra Hòn Đỏ.

Vì Nha Trang thường có bão táp, Yersin nghiên cứu về khí tượng, thời tiết để giúp ngư dân.

Ông cho làm hai cái bồ to, có đường kính một mét, trên sơn màu đen. Khi có bão, hai cái bồ được kéo lên hai cây cột bằng phi lao trên núi Sinh Trung để báo hiệu.

Tháng 11 năm 1939, đoán biết rằng một cơn bão lớn sẽ đổ vào bờ biển Nha Trang, Yersin vội tập trung tất cả ngư dân xóm Cồn vào trong nhà mình. Cơn bão biển dữ dội đêm ấy đã cuốn trôi nhiều nhà cửa xóm Cồn, nhưng bà con vẫn an toàn.

Từ hôm ấy, Yersin được nhiều người dân xóm Cồn tặng cho biệt hiệu “người đã trị cơn sóng thần”.

Viết về Yersin, và viện Pasteur Nha Trang, Henri Jacotot đã có những lời ca ngợi tốt đẹp:

“Trong những thời điểm quan trọng, Yersin luôn luôn sống trong tình trạng báo động thường trực cả ngày lẫn đêm.” (Yersin et son temps, H. Jacotot-1937)

Chẳng những lo bảo vệ dân chúng tránh tai nạn bão lụt, Yersin còn luôn luôn tỏ ra nhân ái đối với người dân ở Nha Trang, nên ông được người Việt yêu chuộng và kính phục. Ông tự coi mình như một người dân trong làng, một người có phần may mắn hơn người khác, vì vậy ông thấy có bổn phận an ủi và giúp đỡ thuốc men.

Một hôm đi xe đạp từ nhà đến sở, ông bị một tài xế bất cẩn đụng ngã. Không nói một lời nào, ông vội vã dựng xe đạp lên, rồi đi đến viện để băng bó, không đả động gì đến người tài xế có lỗi.

Lần khác ông gặp người nông phu nằm ngủ trong xe bò dưới gốc cây bàng. Mặt trời lên cao, bóng mát thay chiều, ông bảo những người phụ tá đẩy xe bò vào chỗ mát.

Ông rất thương yêu trẻ con xóm Cồn, thường chiếu phim cho chúng xem. Một hôm, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông bảo người giúp việc: “Đừng rầy đánh, người ta sợ.”

Ông thường đọc báo chí Việt ngữ. Một hôm đến viện ông trao cho ông Bùi Quang Phương, người cộng sự từ năm 1897, bài thơ “Năm Cụ Ông” chép trong báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng nói về năm bộ trưởng đương kim bị cách chức và thay thế bằng năm người khác do Pháp chỉ định. Bài thơ khó hiểu vì có nhiều nghĩa bóng.

Yersin rất nhẫn nại tử tế với những người cộng sự bản xứ, không bao giờ to tiếng, không bao giờ thị oai.

Người dân Nha Trang gọi ông là Ông Tư (theo cách gọi của người đàng trong, chỉ ông là con thứ ba). Hay Ông Năm vì theo ngạch nhà binh ông là Đại tá quân y. (Một tác giả Pháp Elisabeth Duclosel ghi ông là Nam, bác sĩ Annam, là sai.)

Ông không lấy vợ. Sống thanh đạm độc thân, tiết chế xa hoa nhục dục.

Elisabeth Duclosel thêu dệt cho ông một quan hệ tình ái giữa ông và một công chúa của bộ lạc Rhadé, là hoàn toàn không có cơ sở.

Yersin đến với người Việt Nam bằng một tấm lòng chân thật. Đó là chìa khoá kỳ diệu đã mở cửa cho ông đi vào tình cảm của người Việt Nam.

Ông ra đi rất thanh thản, ngày 01 tháng 03 năm 1943 vào lúc 01 giờ sáng, vừa đúng tám mươi tuổi.

Một ngày trước khi từ giã cõi đời, ông còn ngồi trên ghế xích-đu dùng ống dòm đo mực thủy triều.

Mặc dầu có lời căn dặn của ông trong di chúc muốn được an táng đơn giản, đám tang của ông to lớn chưa từng thấy ở Việt Nam. Ngoài đại diện của chánh quyền còn vô số người Việt, người Pháp, người Chà, người Hoa, người Thượng. Dân chúng bày hương án hai bên đường từ Nha Trang lên tận Suối Dầu nơi ông an giấc ngàn thu. Thể theo chúc thư, đám tang của ông thật giản dị, không có ai đọc điếu văn.

dscn48401Bên cạnh mộ Yersin có xây một cái miếu nhỏ đặt ảnh ông và hương án. Tại chùa Linh Sơn và Long Tuyền có bàn thờ ông bên cạnh bàn thờ Phật, mặc dầu lúc sinh thời, người dân Nha Trang không hề thấy Yersin bước chân vào chùa hoặc nhà thờ.

Mỗi năm đến ngày 01.03 người dân Nha Trang đến đốt hương và nghiêng mình trước mộ Yersin.

Trong năm mươi bảy năm hoạt động khoa học (1886 – 1943) Yersin đã công bố năm mươi lăm công trình và bốn mươi tác phẩm về y học, trong đó có mười ba đề tài chuyên cứu về dịch hạch, và mười lăm đề tài chuyên về nông nghiệp trồng cây quinquina và hévéa (cây cao su).

Yersin mãi mãi đi vào lòng người Nha Trang nói riêng và Việt Nam nói chung. Đó là đền Panthéon của Ông Năm và ông còn sống mãi mãi!

DGku4j7zSI_Saxe9qijHfQBác sĩ A. Yersin đã để lại di chúc: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”

Theo di chúc, khi khâm liệm người ta đặt Yersin nằm sấp, đầu quay về biển để ông mãi mãi ôm mảnh đất Việt, nơi ông đã chọn làm quê hương! (*)

Rời Nha Trang, tuy phim chưa quay được gì nhiều. Nhưng ấn tượng sâu đậm về Yersin cứ day dứt mãi trong tôi. Nung nấu trong tôi một niềm tin, nguồn năng lượng mới. Giúp tôi nỗ lực không biết mệt trong những lúc khó khăn. Có lúc tưởng như đã tuyệt vọng, bế tắc hoàn toàn. Phim “Bệnh Dịch Hạch” đã thành công. Để 3 năm sau, khi phim mang đi dự LHP Việt Nam lần thứ 8 vào tháng 3.1988 ở Đà Nẵng. Bộ phim đã chiếm được trọn vẹn cảm tình của khán giả. Như lời cố Đạo diễn – NSND Ngọc Quỳnh (Thành viên Ban giám khảo Phim Tài liệu – LHP VN VIII) đã phi lộ với tôi: “Phiếu điểm của dịch hạch là cao nhất. Đúng ra phải Bông Sen Vàng. Nhưng có ý kiến cho rằng, đây là phim của một đạo diễn mới, nên hạ xuống Bông Sen Bạc để tác giả đỡ kiêu, mà nỗ lực thêm… “.

Người ta còn cẩn thận với tôi tới mức, giới thiệu Lại văn Sinh lên nhận giải của phim thay tôi. Tấm bằng này khi ra tới Hà Nội thì Sinh đã giao trả lại cho tôi. Nó vẫn theo tôi sang tận xứ người. Với phim này Sinh còn lên bục lần nữa để nhận giải Bông Sen Vàng về Kịch bản. Nhớ hôm trao giải, người đẹp Sơn Thu – Giám đốc Khách sạn Phương Đông ở Đà Nẵng, người rất hâm mộ tôi từ bộ ảnh cưới tôi chụp ngày nàng lên xe hoa từ 5 năm về trước đã mua bó hoa rất to để lên tặng cho tôi. Nhưng tặng hụt. Nàng lủi thủi đem hoa về nhà, rồi kiếm bằng được chai Johnnie Walker (qúi hiếm dạo đó) quay lại lúc tàn cuộc, chả nói câu nào, nàng dúi chai rượu vào tay tôi và biến mất tăm cứ như sợ ai đó trông thấy vậy?

Từ bấy tới nay, đã ngót 30 năm, không gặp lại người đẹp lần nào, chuyện đánh tráo giải thưởng của Trưởng Ban giám khảo Bùi Đình Hạc tôi cũng đã quên. Song những chiếc kéo sắc oan nghiệt của các chức sắc và các bậc đa đề khoác áo Blouse trắng ở Bộ Y tế xứ “thiên đường” đối với những hình ảnh bác sỹ Yersin mà tôi đã đưa vào trong phim thì tôi không dễ gì quên. “Không quá đề cao những kẻ dù có công nhưng đã theo chân tụi Thực dân sang đô hộ đất nước mình…”. Những lời trái tai đó cứ vang mãi trong tôi.

dscn48321Nay thấy xôn xao chuyện dịch sởi chết người. Lại nghe, vào ngày tận tháng tận năm ngoái, các “đỉnh cao trí tuệ” nhà ta, sau bao nhiêu năm quên lãng đã cấp Quốc tịch Việt Nam cho Alexandre Yersin (truy tặng danh hiệu “Công dân danh dự“). Càng mừng hơn, những cái tên “sát sanh eng éc” (Y Éc Sanh) ở khắp Hà Nội, Nha Trang, Sài Gòn và Đà Lạt đều đã được viết lại và đọc đúng với tên mà các đấng sinh thành ra ông đã đặt: Yersin! Các cơ sở nghiên cứu y khoa mang tên người thầy của Yersin là Louis Pasteur ở cả ba miền, một dạo bị đổi thành Viện Vệ sinh Dịch tễ. Nay đã được “trả lại tên cho em” thành Viện Pasteur. Thật cả mừng!

“Con rất vui thú khi tiếp chuyện những người đến hỏi ý kiến nhưng con không muốn hành nghề bác sĩ, nghĩa là con không bao giờ có thể đòi hỏi bệnh nhân trả công khi săn sóc cho họ. Con xem ngành y như là một thiên chức, tương tự vai trò của mục sư. Đòi tiền công săn sóc bệnh nhân, như có phần nào nói với người ấy: tiền hay cuộc sống. Con biết không phải tất cả các đồng nghiệp của con đều chia sẻ những ý nghĩ này, song đấy vẫn là những điều con nghĩ và sẽ khó lòng mà từ bỏ chúng”. Trong một bức thư, A. Yersin viết cho thân mẫu của ông như thế!

Thì ra, “chiếc áo không làm nên thầy tu”. Cũng như chiếc Blouse trắng không thể trở thành lương y khi người thầy thuốc còn mờ mắt vì tiền. Liệu có vị “Thầy thuốc Nhân dân” nào xứ mình đã thực sự xem ngành y như là một thiên chức như A. Yersin?

Sau 1975 “nhà nước ta” đã đập phá ngôi nhà của Ông “Năm Yersin” để xây dãy khách sạn 3 tầng của bộ nội vụ. Người dân Nha Trang ai cũng thương tiếc di tích của một vĩ nhân, một người suốt đời hy sinh cho dân nghèo bản xứ, lúc chết cũng muốn nằm lại nơi này. Vậy mà… bao nhiêu ân… đã biến thành… oán! ”

Giá mà “những đỉnh cao trí tuệ” không… ngu đần… đã phá đi ngôi nhà của Ông “Năm Yersin”, thì biết bao nhiêu đồ đạc, kỷ vật… của ông, sẽ hấp dẫn du khách trên thế giới sẽ đổ đến nghiên cứu và thăm viếng…! Nha Trang nói riêng, và Việt Nam nói chung… sẽ được thơm lây vì có công và có tâm gìn giữ di tích của một vĩ nhân của nhân loại… Than ôi… !!!!!

The former French lycee Yersin - Da Lat, Vietnam

The former French lycee Yersin – Da Lat, Vietnam

Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt – The former French lycee Yersin Da Lat, Vietnam là 1 trong 1000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới – thế kỷ XX! Chỉ tiếc năm 1976 người ta đã đổi lại và bỏ mất cái tên cũ đi, thật uổng!

… nếu mộ Bs. Yersin nằm ở Tp. Nha Trang thì có khi Ông bị ghép tội thực dân đế quốc rồi cũng nên. Hồng y Spellman là người Mỹ. Hồi sau 1975 người ta kỵ bất cứ cái gì thuộc về “đế quốc Mỹ”…

Đó là những tiếc nuối của một số độc giả ái mộ Yersin (trích ở đây).

Những người trót phạm sai lầm với bậc ân nhân vĩ đại như A. Yersin mà biết hối cải. Biết “quay đầu lại là bờ” thì nên lấy câu châm ngôn: “Những gì của César nên đem trả lại cho César” nằm lòng. Bằng không cũng chỉ là sự đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi mà thôi!

Gocomay

___

* Bài này có tham khảo và trích dẫn từ nguồn của Hội Ái Mộ Yersin Nha Trang và Thụy Sỹ.

_______________

Advertisements

2 phản hồi

  1. “Năm 19……, Sau một năm làm việc cật lực” – bác nên mở đề như thế để người đọc biết được thời điểm cốt truyện bác định nhắc lại.
    Yersin thật vĩ đại, có lẽ sau này mới trả lại cho ông nhiều thứ, còn hiện tại thôi thì cáo lỗi với ông vậy. Trí thức thì họ đã “đào tận gốc, trốc tận rễ” rồi, nên không còn người để nghĩ lớn vậy.
    Phải công nhận thời bác, bọn lưu manh đã rất ghê gớm. Với em, hoặc “nhất là bét”, vỗ mặt liền. Chế độ này bị tiêu vong vì nó xây dựng nên những kẻ như Lương Đức.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: