712 – Có cuộc sống tâm linh đang hiện hữu trong đời?

2manhdoi.jpg

Tôi thực sự không mấy tin vào những chuyện mang màu sắc mê tín dị đoan cho lắm. Nhưng có những việc mắt thấy tai nghe trong lĩnh vực tâm linh (huyền bí) ở ngay trong gia đình tôi, khiến tôi thực sự ngỡ ngàng.

Ngôi mộ của cụ bà tứ đại của tôi, được an táng ở một ngọn đồi tại Xuân Khanh, Ba Vì, Sơn Tây từ trước 1954, được cho là “động” (không yên) nên con cháu bị nhiều tai ương. Với kết qủa là các trưởng Nam trong các gia đình con cháu luôn bị “yểu” khiến toàn gia tộc rất hoang mang. Bà thím ruột của tôi đã cất công đi tới 3 nơi, xa nhất tận Hải Phòng để nhờ thầy địa lý giỏi xem giúp. Kết quả tất cả đều có ý kiến khá đồng nhất là cần phải khắc phục “sự cố” ở ngôi mộ của cụ tứ đại này! Ông thầy ở Hải Phòng còn khẳng định “chỗ nằm của cụ bị nghiêng về bên phải” (tiểu nghiêng về phía phải) và “cụ bị đau mắt” nữa…. Nhưng ông bà tôi (tam đại) đã mất từ hồi đầu thập niên 40s, các em của ông bà tôi đang còn sống, nên bố mẹ và các chú thím của tôi không tự quyết định được việc này.

Chỉ tới khi tất cả các ông con trưởng (hay tương đương con trưởng) trong gia tộc đều “thất lộc” thời trai trẻ (do chết bệnh hay tử trận bởi đạn bom), nên ngôi mộ được cho là đang bị “động” này mới có được sự đồng thuận để cải táng. Hôm đào lên, mọi người mới tận mắt chứng kiến chiếc tiểu sành đã bị nghiêng tới gần 45° do ảnh hưởng của việc đào đắp con đập ngăn dòng của hồ (thuỷ lợi) Suối Hai hồi đầu thập niên 60s. Lại thêm rễ cây bạch đàn (mới trồng trên đồi sau này) đâm qua nắp tiểu… xuyên vào hộp sọ, ở một bên hốc mắt của cụ. Do đó cái câu phán của ông thầy “cụ bị đau mắt” là như thế chăng (?)

Chuyện gia đình tôi bí mật tổ chức cuộc di rời ngôi mộ của anh trai tôi ở nghiã trang LS Trường Sơn về quê vào mùa đông năm 1976, tôi đã kể ở entry “Nhớ bầy hươu trong thơ anh Chiến“. Ngôi mộ bị ổ kiến lửa vĩ đại làm tổ ở ngay trong tiểu sành, đã khiến mẹ tôi luôn mơ thấy anh tôi về và báo mộng: “con đang nằm ở đây bên đồng đội, vui, nhưng không được yên… xin mẹ hãy đưa con về quê hương…”. (*)

Mới nhất là chuyện hôm chủ nhật (11/12/2011) vừa rồi, anh chị em chúng tôi phải tiến hành di rời 4 ngôi mộ của ông bà và bố mẹ tôi vào nghiã trang mới của làng trong chương trình “giải toả” (bắt buộc) để nhường đất ruộng cho “Dự án Khu đô thị Thăng Long 9” đã được qui hoạch (treo) suốt từ giữa 2008 (khi Hà Nội được mở rộng) tới bây giờ. Theo ông thầy, việc hạ huyệt chỉ có giờ Dậu (17-19 giờ) là “Hoàng đạo”. Nhưng đúng giờ đó, anh trưởng đương nhiệm của tôi xin âm dương tới 5 lần đều không được, phải nhờ anh trưởng tộc xin giùm thì mới xong khiến cả nhà vô cùng băn khoăn. Mặc dù rất kiêng chuyện lộ “Thiên cơ” (mở nắp tiểu). Gia đình vẫn đành phải cho kiểm tra toàn bộ hài cốt bên trong, xem sao? Tới lúc đó mới vỡ lẽ có hai sự cố lớn! Đó là việc chiếc tiểu (trong quan ngoài quách) của ông bố tôi bị cánh thợ (nhà đòn) đánh dấu lộn đầu đuôi. Và chiếc tiểu của bà mẹ tôi bị rịa nứt, khi vừa mở nắp quách ra là bửa làm đôi… buộc phải thay tiểu sành mới! Thật hú vía. Mấy chục con, cháu và chắt hiện diện chứng kiến sự việc đều toát mồ hôi!

Bởi thế dù chả mấy tin vào mấy chuyện dị đoan nhảm nhí. Song tôi vẫn cho rằng có một thế giới tâm linh luôn hiện hữu trong cuộc sống thường nhật quanh ta. Những chuyện “có thờ có thiêng có kiêng có lành” của người đời, thật khó mà bổ báng cho được. Dù vì với lý do “định hướng” (mang tính chính trị) này nọ để làm càn làm ẩu nhằm đạt mục tiêu trước mắt, bất chấp luân thường đạo lý và lẽ phải, chắc chắn không sớm thì muộn sẽ phải gánh những hậu họa không lường.

“Con người ta phải biết ba điều mới thành người. Đó là biết hổ thẹn; biết khó nhọc và biết sợ hãi. Nếu không, cũng như chim muông mà thôi” lời dạy trong Châm Cảnh của cụ Lê Qúi Đôn, thiết nghĩ vẫn hoàn toàn linh nghiệm. Từ thực tế ấy, tôi có một niềm tin rằng, những người có ‘căn’ về tâm linh lại giàu lòng yêu nước như chị Bùi Thị Minh Hằng ở Vũng Tàu (là ví dụ), sẽ không có bất cứ một thế lực hắc ám nào có thể khuất phục được! Bởi cuộc sống tâm linh luôn hiện hữu trong đời!

btmh2a.jpg

Viết tới đây lại nhớ tới Bạch Vân Cư Sỹ – Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, cây đại thụ rợp bóng suốt thế kỷ 16 với lối sống luôn biết mình biết người và an nhiên tự tại: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người tới chốn lao xao”. Đã thể hiện một triết lý sâu xa trong đối nhân xử thế lấy đức bao trùm… để răn đời! 

“Bạo hung chỉn đã gươm mài đá,

 Phúc đức rành hay có đượm xuân.

 Chớ có hại nhân mà ích kỷ,

 Giấu người, khôn giấu được thần linh.”

 (Có phúc có phận – Nguyễn Bỉnh Khiêm)  

Ngoài hàng trăm bài thơ chữ Hán và chữ Nôm trong Bạch Vân và Trình Quốc Công Thi Tập, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm còn để lại nhiều câu sấm ký gây chấn động. Đã hơn 500 năm trôi qua nhưng giá trị tinh thần di sản của Bạch Vân Cư Sỹ như còn tinh khôi và sống mãi với muôn đời các thế hệ mai sau! 

 Gocomay

 (*) 168-Nhớ bầy hươu trong thơ anh Chiến – http://vn.360plus.yahoo.com/vanph_vanpham/article?mid=3351

______

P/S:

Giai thoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm tân hợi 1491, thuộc đời vua Lê Thánh Tông Hồng Ðức thứ 22 tại thôn Trung An, làng Cổ An, huyện Vĩnh Bảo Hải Dương. Thân phụ cụ Văn Ðình, thân mẫu Nhữ Thị Thục, người đất Tiên Minh, làng An Tử hạ. Ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan, đã làm rạng rỡ dòng họ và quê hương với bảng vàng tiến sĩ, khoa thi năm Quí mùi, niên hiệu Quang Thuận, đời Lê Thánh Tông, được nhà Vua tin dùng, phong chức Thượng thư bộ Hộ.

250px-Nguyen_Binh_Khiem.jpg

Tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) tại Văn miếu Trấn Biên (Biên Hòa)

Theo tài liệu để lại bà Nhữ Thị Thục là bậc nữ lưu tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ. Con gái Hộ bộ thượng thư Nhữ văn Lân, được phong là Từ thục phu nhân. Bà giỏi văn chương và tài học về Lý số. Biết trước những gì có thể xảy ra và mộng lớn con cái nên danh phận không thể chờ thời. Như Nguyễn Du đã viết sau nầy “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Trạng Trình có người em cũng tài giỏi về lý số, người đời gọi là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoang cùng mẹ khác cha. Nguyễn Bỉnh Khiêm huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, người làng Trình Tuyền (Trung An), huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng.

Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc trẻ ông học với Lương Ðắc Bằng được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” từ đó ông tinh thông về Lý học,Tướng số học giỏi, nghiên cứu về lý số với thiên tài “thần thông” có khả năng siêu quần, quán chúng về thấu thị, thần giao cách cảm, ông biết nhà Lê Trung Hưng, nên chờ đúng số mệnh năm 44 tuổi dự thi đỗ Giải Nguyên, đời nhà Mạc (1527-1592), làm việc bên cạnh Tả thị Lang, Ðông Các Ðại Học Sĩ, làm quan được 8 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần vua nghe không. Ông cáo quan năm 1542 về vườn, lập Bạch Vân am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học cạnh sông Hàn giang còn có tên Tuyết giang nên học trò gọi ông “Tuyết giang Phu tử” thơ mang triết lý của Thái Ất là nguồn tri thức hữu thể, về đời sống nhân sinh với càng khôn trong vũ trụ. Thái Ất còn gọi là Lý Thiên, Lý Địa và Lý Nhân

Ngư ông bất ngộ Ðào Nguyên khách
Khởi thức hưng vong thế cổ kim

hay

Nhàn trung hoa thảo túc Cung xuân
Tà dương độc lập đô vô sự

Dù Nguyễn Bỉnh Khiên không còn làm quan, nhưng vua Mạc Phúc Hải phong cho ông tước Trình Nguyên Hầu vào năm Giáp thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn nghành lý học, giống như (Trình Y Xuyên,Trình Minh Ðạo bên Trung Hoa). Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại, tước hiệu Trình quốc Công. Từ đó người đời gọi ông là Trạng Trình. Nhờ học phương pháp tính theo Thái ất, tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Người Trung Hoa khen Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “An Nam lý học hữu Trình Tuyền”

Tục truyền rằng Năm Bính ngọ (1546) Mạc Phúc Hải mất truyền ngôi lại cho con Mạc Phúc Nguyên mãi đến năm mậu thân (1548) vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử tên Duy Huyên lên ngôi tức Trung Tông được 8 năm thì mất không có con nối nghiệp. Trinh Kiểm muốn làm vua nhưng còn sợ dư luận, nên sai người đến Hải Dương hỏi ý kiến Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. ông không nói gì chỉ bảo người giúp việc ngụ ý: “năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ, giữ chùa thờ Phật thì ăn oản…”. Sau đó Trịnh Kiểm tìm con cháu họ Lê, lên làm vua.

Dù Trạng Trình ở ẩn, vua Mạc cũng như các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng vẫn cho người đến hỏi ý ông. Ông thường kín đáo khuyên Vua cố gắng tránh chiến tranh để nhân dân khỏi chết chóc. Trong năm Quang Thiêu (Lê Chiêu Tôn) có việc biến loạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn tiếng tăm với đời lúc bấy giờ Trịnh Tuy, Mạc Ðăng Dung cũng cố ý muốn tranh quyền, đánh nhau mấy năm dài. Ông tính số Thái Ất, biết có nhà Lê lại khôi phục được làm bài thơ

Non sông nào phải buổi bình thời
Thú đánh nhau chi khéo nực cười
Cá vực, chim rừng, ai khiến đuổỉ
Núi xương sông tuyết, thảm đầy vơi
Ngựa phi chắc có hồi quay cổ (1)
Thú dữ nên phòng lúc cắn người (2)
Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa
Bên đầm say hát, nhởn nhơ chơi

Hoành sơn nhất đái

Sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung (1483-1541) chiếm ngôi, con của vị tướng triều Lê là Nguyễn Hoàng Dụ trốn sang Lào, được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm Châu, trấn Nam Phủ, tỉnh Thanh Hoá. Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Trang Tông.

Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim (1467-1545) thu nạp kiện tướng ở tỉnh Thanh Hoá là Trịnh Kiểm, sau là rể của Nguyễn Kim. Năm Canh Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục luôn cả Thanh Hóa. Nhưng bỗng dưng Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay Trịnh Kiểm. Việt Nam lúc bấy giờ bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều. Từ Thanh Hóa trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều.

Nguyễn Kim mất, để lại hai người con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng (1525-1613) cả hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người. Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai sau này có thể tranh giành địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm ngăn trở, và vì thế Nguyễn Uông chỉ mắc một lỗi nhỏ, Trịnh Kiểm cũng buộc Nguyễn Uông phải chịu phép gia hình. Nguyễn Hoàng thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình. Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và thốt lên một câu:

“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

Nghĩa là từ núi đèo ngang ở Quảng Bình kia có thể yên thân được muôn đời . Từ câu nói đó, Nguyễn Hoàng nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào phương Nam lập nghiệp. Từ năm 1558 Nguyễn Hoàng vội vàng đến nói riêng với chị là bà Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phía Nam, năm mậu ngọ (1558) đời vua Anh Tông Trịnh Kiểm tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Hoành Sơn. Nhờ thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài.

Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, có lòng nhân đức, thu dụng hào kiệt giúp dân cho nên được lòng dân kính phục. Trấn giữ đất Thuận Hóa, mở đầu cho triều đình nhà Nguyễn từ từ khai phá cho đến vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày nay.

Ngoài ra rất nhiều lời sấm được lưu truyền qua dân gian nhiều lời bàn diễn giải khác nhau câu:“Cẩu vĩ trư đầu, xuất thánh nhân” ứng nghiệm vào việc vua Gia Long lên ngôi từ (1802-1819) thống nhất sơn hà vào năm Nhâm tuất ngày 02-05-1802. trải qua 13 triều đại .Hoàng đế cuối cùng Bảo Ðại trị vì từ 1929 và thoái vị năm 1945.

Tương truyền Trạng Trình nói trước nhà Mạc suy vong, tuy nhiên con cháu họ Mạc về đất Cao bằng tuy nhỏ nhưng được 3 đời là Mạc Kính Cung, Mạc Kinh Khoan và Mạc Kinh Vũ . Dòng dõi họ Mạc bị bắt, bị giết nhiều người đổi họ lưu lạc khắp nơi để mưu cầu sự sống

Trạng Trình có 3 người vợ và 12 người con (7 trai 5 gái) các con trai đều có chức tước sau nầy. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm đinh dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà Mạc (1585) hưởng thọ 94 tuổi. Trước khi chết, Trạng có ghi vào gia phả và dặn con cháu rằng:

Bình sinh ta có tấm bia đá sẵn và đã sơn kia. Khi ta mất rồi, hễ hạ quan tài xuống phải để tấm bia đá ấy lên nắp rồi lấp đất. Chờ khi nào có khách tới viếng mộ và nói rằng: “Thánh nhân mắt mù” thì phải lập tức mời người ấy vào nhà, yêu cầu họ đổi hướng lại ngôi mộ cho ta. Nếu trái lời ta, dòng dõi về sau sẽ suy đồi lụn bại đấy.

Con cháu nghe lời, làm y như đã dặn. Nhưng chờ mãi đến năm mươi năm sau, mới có người khách đến nhìn mộ cụ một lúc rồi nói: “Cái huyệt ở đằng chân sờ sờ thế kia mà không biết, lại tự đem để mả thế này. Vậy mà thánh nhân gì chớ, hoạ chăng là thánh nhân mắt mù”. Người trong họ nghe được, chạy về báo với trưởng tộc. Ông này vội vàng ra đón người khách Tầu kia về nhà, xin để xoay ngôi mộ kia lại. Ra đó là một nhà phong thuỷ (Feng Shui) trứ danh ở phương Bắc. Ông ta sang là để đi tìm xem di tích của Trạng, bấy lâu ông ta đã nghe tiếng đồn.

Khi nghe vị trưởng tộc nói, ông ta sẵn lòng làm ngay, và tự đắc cho rằng mình giỏi hơn Trạng Trình. Ông ta bảo: “không cần phải đem đi đâu xa cả, chỉ đào lên rồi xoay lại, nhích đi một chút là được”. Ông trưởng tộc bèn tụ họp con cháu lại, đưa thầy địa lý Tầu ra đổi lại ngôi mộ. Lúc đào đến tấm bia đá, ông ta làm lạ bảo đem rửa sạch xem những gì trên đó. Khi tấm bia được rửa sạch, mới thấy mấy câu thơ hiện ra: tạm dịch nghĩa:

Ngày nay mạch lộn xuống chân
Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu.
Biết gì những kẻ sinh sau ?
Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ ?

Đọc tới đâu vị khách Tàu đổ mồ hôi hột đến đó, ra Trạng Trình mà ông ta nghe đồn là giỏi thật. So với Trạng, có lẽ ông còn thua xa.

Năm 1930 Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh tụ Nguyễn Thái Học (1901-1930) lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa ngày 10.2.1930 đánh Tây ở các tỉnh : Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Hải Dương, Kiến An. Thất bại bị Pháp điên cuồng ném bom tàn phá làng Bảo an để trả thù. Có lời đồn Trạng Trình đã tiên đoán :

Kìa kìa gió thổi lá rung cây
Rung Bắc rung Nam rung tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am cây
Lâm giang nổi gió mù thao cát
Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy
Một ngựa một yên ai sùng bái
Nhắn tin nhà vĩnh bảo cho hay

Thoát nạn sập nhà

Trước lúc mất, Trạng có giao cho con cháu một ống tre sơn son thếp vàng, bịt kín hai đầu, và dặn đúng năm tháng ấy, ngày giờ ấy, phải để cái ống ấy vào kiệu rước lên dinh Thống đốc Hải Dương, trao cái ống này cho quan thì sẽ cứu được tình thế gia đình. Khi Trạng mất, hằng trăm năm sau, con cháu Trạng lâm vào cảnh đói nghèo, sa sút, nhưng tuyệt đối không được mở ống ra xem trước thời hạn. Trạng còn dặn kỹ trừ quan Tổng đốc ra, không ai được mở ống, vì thế ống vẫn giữ nguyên vẹn. Trải qua bảy đời, cái ống tre ấy mới được rước lên dinh quan Tổng đốc, đúng ngày giờ đã ghi trong gia phả. Đang nằm nghỉ, nghe tin con cháu cụ Trạng mang thư đến gặp, quan Tổng đốc rất ngạc nhiên, không biết vì cớ gì, nên truyền cho vào, đồng thời quan ngồi dậy để đi ra cửa.

Quan Tổng đốc vừa bước khỏi giường nằm được mấy bước thì bỗng rầm một cái, chiếc sà nhà không biết bị mọt ăn hỏng từ bao giờ, rơi ngay xuống chỗ giường vừa nằm. Thật là một phen hú vía! Nếu ông không kịp ngồi dậy nhận thư Trạng, thì mạng ông đã khó mà sinh tồn. Quan Tổng đốc mở ống tre ra xem, thấy bên trong có một cuộn giấy, đề hai câu thơ:

Ngã giải nhĩ thượng lương chi ách
Nhĩ cứu ngã tử tôn chi bần

Nghĩa là:

Cứu người thoát nạn đổ nhà
Ngươi nên cứu cháu con ta khỏi nghèo

Chưa hết kinh hoàng vì chuyện chiếc sà nhà vừa rơi xuống, ông thoát nạn nhờ ra lấy lá thư. Quan Tổng đốc biết rằng trạng Trình đã cứu ông thoát chết, nên ông ta ân cần mời cháu trạng Trình về tư thất đãi hậu hỹ, sau đó đưa ra rất nhiều tiền để giúp con cháu cụ Trạng.

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) phá đền

Năm Minh Mạng (1791-1840) năm thứ 14, Nguyễn Công Trứ được vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương, Nguyễn Công Trứ thấy địa thế cần phải đào con sông, đào sông thì phải phá đền thờ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông ra lệnh cho dân phu phá đền để khai phá công trường. Khi sai người đào mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều. Nguyễn Công Trứ lau sạch đọc được các câu đã ghi :

Minh Mạng thập tứ
Thằng Trứ phá đền
Phá đền phải làm đền
Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay

Nguyễn Công Trứ lập tức thảo sớ về kinh, xin bãi bỏ lệnh phá đền. Ông còn cho người sửa sang lại đền Trạng khang trang hơn. Từ đó, ông không còn nghĩ đến việc phá đền để đào sông nữa.

Cha con thằng Khả

Tục truyền trong làng có cha con ông Khả đi bắt dế (chuột) kiếm sống. Khi đến bên mộ Trạng, hai cha con vướng víu thế nào lại làm đổ tấm bia trên mộ. Dân làng rất sùng kính trạng Trình, nên khi thấy bia mộ bị đổ, họ nổi giận bắt cả hai cha con, kêu nộp phạt ba quan tiền mới tha, vì khi tấm bia đổ xuống thấy có hàng chữ ở sau:

Cha con thằng Khả
Đánh ngã bia tao
Làng xóm xôn xao
Bắt đền tam quán

Cha con ông Khả chịu nộp phạt, nhưng dân làng phải tha cha con về nhà chạy tiền. chỉ tìm được có một quan tám, dân làng không chịu, cha con ông Khả ngẫm nghĩ mới tìm được cách, cha con bèn nói với dân làng: Cha con tôi bị Trạng Trình bắt phạt có quan tám, “Tam quán” nói lái lại thành quan tám. Ðúng như cha con ông Khả đã tìm đủ số tiền

Thơ văn của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Kiêm còn lại hơn 100 bài trong bộ Bạch Vân Thi Tập, được dịch ra chữ quốc ngữ thơ mang nặng tình người, khuyên người đời biết điều nhân nghĩa, ngoài ra còn một số giai thoại truyền tụng trong nhân gian… và những lời sấm ký có giá trị.

Chú thích
(1) Ứng nghiệm: về sau nhà Lê khôi phục
(2) Ứng nghiệm: nhà Trịnh giữ nhà Lê

Tài liệu tham khảo
Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim
Tự Điển nhân vật lịch sử, Nguyễn Quyết Thắng
Những câu chuyện lịch sử tập 3, Trần Gia Phụng
Thái Ất thần Kinh, nhà xuất bản văn Hoá

(Nguồn: http://giasuviet.edu.vn/tabid/76/Entry/63/Default.aspx)

_______________________________

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: