690 – Chùa Tây Phương trong mắt người xứ Đoài

      Vầng trán em mang trời quê hương
    Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?

ngt1_s.jpg

Tranh sơn mài minh hoạ của Nguyễn Gia Trí

Những câu thơ của Quang Dũng đã ngót 2/3 thế kỷ rồi mà vẫn lay động bao trái tim Việt ở khắp mọi nơi. Thế mà có dạo đôi mắt “dìu dịu buồn Tây Phương” đã phải trong veo “như giếng nước thôn làng” cho vừa lòng ai đó. Vì hai chữ “Tây Phương” là rất rễ bị qui chụp thành thứ đất trời của tụi đế quốc sài lang.

Trước Quang Dũng ít lâu, nhà thơ Nguyễn Bính không phải người xứ Đoài mà viết những câu thơ nhớ quê hương tha thiết như thế này!

Quê tôi có gió bốn mùa,
Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Chuông hôm, gió sớm, giăng rằm,
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi.

… …
Mai ngày tôi bỏ quê tôi
Bỏ giăng, bỏ gió, chao ôi! bỏ Chùa.
 

Có lẽ những ai từng xúc cảm khi chiêm bái ngôi cổ tự Tây Phương của xứ Đoài mới hiểu hết được cái tiếng kêu “chao ôi! bỏ Chùa” nó da diết tới mức nào?

2404295.jpg

Chùa Tây Phương có tên chữ là Sùng Phúc Tự, tọa lạc trên đỉnh qủa núi đất cao chừng 50m, hình cong như lưỡi câu (xưa gọi là núi Câu Lậu), hay còn gọi là núi Ngưu Lĩnh (núi Con Trâu). Thuộc thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây cũ, thành phố Hà Nội nay. Chùa cách trung tâm Hà Nội 40 km về hướng Tây Bắc, cách thị xã Sơn Tây 18 km về hướng Đông Nam.

Từ chân núi theo con đường dốc dài khoảng 160m, leo lên 238 bậc cấp lót đá ong thì đến tam quan chùa. Chùa có ba nếp nhà song song hình chữ “Tam”, thường gọi là chùa Thượng, chùa Trung, chùa Hạ hay chùa Hộ (thờ Hộ Pháp), thềm mỗi nếp nhà cách nhau 1,6m. Mỗi nếp nhà có hai tầng mái kiểu chồng diêm, tám mái và tám góc là các đầu đao vươn lên cong vút với những hình hoa, lá, rồng, phượng, sư tử.  Mái lợp gồm hai lớp ngói : ngói lớp trên in nổi hình lá đề, ngói lớp dưới lót hình vuông, sơn năm màu. Tường xây bằng gạch Bát Tràng nung đỏ để trần, có những cửa sổ hình tròn mang ý nghĩa sắc – không. Các cột gỗ đều kê trên tảng đá xanh khắc hình cánh sen.

Chùa được dựng từ lâu đời và đã được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Năm 1554, chùa được xây lại trên nền cũ. Năm 1632, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Năm 1660, Tây Đô Vương Trịnh Tạc cho xây lại chùa mới.

images_2011_quy2_300611_que_nha_chua_tay_phuong_4_699210893.jpg

Hình dáng hiện tại của chùa được cho là xây vào thời Quang Toản, 1794, lấy đúng hình mẫu của chùa Kim Liên ở Nghi Tàm, Hà Nội xây 2 năm trước đó. Năm 1893, Tỳ kheo Thích Thanh Ngọc trụ trì đã tổ chức trùng tu chùa, tạc tượng Quan Âm trăm tay, Thiện Tài, Long Nữ, Bát bộ Kim Cang, La Hán…

Tây Phương nổi tiếng vì có 62 pho tượng gỗ loại lớn và không giống ở nơi nào trên VN cả.

duong-qua-Thach-That.jpg

Người xứ Đoài xưa tới vãng cảnh chùa thường đi trên con đường đất đỏ, hai bên là lúa xanh, xa xa quán nghỉ giữa đồng và hàng cây bờ mương như thế này. Cảnh quê nghèo nhưng có cái gì đó để những ai đi xa luôn nhớ nhung, gắn bó.

tam-quan-duoi.jpg

Dưới chân núi là tam quan trông ra một cái sân rộng. Giữa sân có cây đa to, có cái miếu nom rất u tịch.

duong-len-chua.jpg

Đường lên núi là những bậc đá ong đi qua những nhà dân cũng xây tường đá ong hoặc móng đá ong, tường gạch trần. Qủa núi nhỏ nhưng cây xanh um, không khí rất trong lành.

san-truoc-1.jpg

Qua tam quan bên trên thì vào đến sân trước.

Mieu-son-than.jpg

Bên phải là miếu sơn thần.

Ban-tho-mieu-son-than.jpg

Bàn thờ sơn thần cùng hai vị hộ vệ, một vị cầm gươm nhưng trông dáng vẻ quan văn.

san-truoc.jpg

Sân trước chùa đang có người hóa vàng nên khói hương bảng lảng rất huyền bí.

dau-hoi-1.jpg

Chùa xây theo kiểu chữ Tam, chia làm chùa Hạ, Trung và Thượng. Cả ba dãy đều xây lối chồng diêm tức là hai mái chồng lên nhau, riêng chùa Trung mái có cao hơn. Ngôi chùa nhìn không lớn nhưng xinh xắn và hoàn mỹ bởi hình dáng và chi tiết đều được xử lý sắc nét, tinh tế. Màu sắc ở đây cũng rất hài hoà, chỉ có gam nâu đỏ cùng với bề mặt mộc của gỗ, gạch, đá, như là sản phẩm của một tâm hồn thuần hậu và tự tin.

dau-hoi-chua-Ha.jpg 

Đầu hồi chùa Hạ với những ô cửa trên được nói là hình sắc – không, kiểu theo ngôn ngữ mỹ thuật là đặc – rỗng, theo vật lý hay tin học là dương – âm, điện tử – lỗ trống (cái này nếu chưa chuẩn, mong các cao nhân chuyên ngành chỉnh sửa dùm). Nét đặc sắc về mặt kiến trúc ở đây là sự phối hợp giữa tường và mái. Thông thường thì các kiến trúc cổ VN dùng vách bưng hoặc song che giữa các cột hiên. Xây tường thế nào để không bị tình trạng cái mái như cái nắp vung đậy lên cái hộp hay là cái mái đao cong vút bị kênh với cái cứng đơ của tường thẳng đứng. Thì ở đây người ta xây tường lùi vào trong một chút để mái vươn ra, chỉ xây thấp đến dưới vảy hiên, trên bờ nóc tường có ba hàng gạch xây quay ngang viên gạch làm vỉa giật cấp, tạo dần thế chuyển tiếp với độ vươn ra của mái. Màu vôi trắng của hai hàng gạch cũng làm cho bộ mái như được nhấc ra khỏi cái tường nặng nề mà bay lên. Nếu ai có nhu cầu tìm hiểu cái hay cái đẹp của chùa Tây Phương và kiến trúc cổ, có lẽ nên đọc quyển “Chùa Tây Phương – một công trình kiến trúc độc đáo” của KTS Nguyễn Cao Luyện. Về ông Nguyễn Cao Luyện, thật cũng đau lòng vì ông được trao giải thưởng Hồ Chí Minh (sau khi chết) nhưng tác phẩm còn lại có lẽ chỉ là quyển sách trên cùng một số quyển khác như “Từ những mái tranh cổ truyền”. Còn những công trình kiến trúc thì có Hội trường Ba Đình (chung với KTS Trần Đức Tiềm), biệt thự 215 phố Đội Cấn (từng là trụ sở của Petronas) đều đã bị phá. Ngoài ra còn có những công trình khác mà bây giờ gần như ít ai biết như biệt thự số 7 Thiền Quang (giờ là trụ sở CSHS Hà Nội), 167 Phùng Hưng hay 65 Lý Thường Kiệt (ĐSQ Cuba)… Đọc mấy quyển sách đó, thấy nhiều khi các cụ mải mê ca ngợi cái đẹp quá mà không lường cái khuôn khổ cho cái đẹp đó nảy nở cần những gì… 

dau-hoi.jpg

Những mái đao này cũng gây cảm hứng rất nhiều cho các công trình phục cổ và biểu hiện sau này.

dau-dao.jpg

Mái đao hoàn hảo từ cấu trúc đến chạm khắc. Ở chùa Tây Phương và Kim Liên, có những hàng diềm mái chạm hình hoa sen nối nhau như dải đăng ten rất cầu kỳ.

khu-di-chua-Ha.jpg

Khu dĩ chùa Hạ.

Quan-Am-chua-Ha.jpg

Tam bảo chùa Hạ là nơi thờ Quan Âm thiên thủ. Bức tượng vốn có từ đầu thế kỷ XX nhưng đã bị mất trộm năm 1991. Người ta đã tạc lại bức mới nhưng có vẻ đường nét hơi thiếu tinh xảo. Thêm nữa không chắc là màu thiếp vàng có đúng không, vì đại bộ phận các tượng cổ còn lại đều sơn then và sơn ta.

sau-lung-Quan-Am.jpg

Tuy vậy cũng có thể quan sát những nét độc đáo của tượng qua hình ảnh phục chế. Tượng có nhiều tay quá nên những cánh tay phía sau dài hơn bình thường, chẳng hạn cánh tay chắp đằng sau trông kỳ dị. Khuôn mặt của tượng rất đẹp, dù là tạc lại. Tượng cổ VN có gì đó đời, khác với vẻ siêu thoát phẳng lặng của tượng Tiểu thừa ở miền Nam hay cũng Đại thừa ở Trung Quốc.

Ho-Phap-2.jpg

Kim Cương bên tả

Ho-Phap.jpg

Kim Cương bên hữu.

khu-di-chua-Trung.jpg

Khu dĩ chùa Trung.

Tam-bao-chua-Trung-1.jpg

Tam bảo chùa Trung. Những bức tượng sơn then như nhập thành một hội đồng bí hiểm đang phán xét xung quanh.

Tam-bao-chua-Trung.jpg

Những bức tượng được xếp cao dần. Đặc biệt là bộ Tam Tôn đứng chứ không ngồi như bình thường. Thứ tự ở giữa là Thích Ca Cửu Long (trên ảnh chỉ có cái chóp), Di Lặc, Tuyết Sơn, A Di Đà.

tuong-To-chua-Trung.jpg

Khó ai nhớ hết danh xưng các tôn tượng … suy từ tích Phật có thể ông này là ngài A Nan?

Tuyet-Son.jpg

Tuyết Sơn, hiện thân Thích Ca trong thời kỳ khổ hạnh. Có lẽ cùng khuôn mẫu với Tuyết Sơn chùa Trăm Gian. Ở đây cái màu sơn then không bóng làm cho tượng có thần thái kỳ bí và sâu hút lấy dương khí xung quanh. Đây có lẽ là pho tượng mà học sinh đi tham quan về đứa nào cũng sợ nhất (ông nào mà gầy giơ xương), có lẽ vì thực mà siêu thực.

Quan-Am-Thi-Kinh.jpg

Quan Âm Thị Kính, đằng sau trên thân cây có con vẹt là hậu thân của Thiện Sỹ. Tượng đứa con của Thị Mầu, nguyên bản đã bị mất nên người ta thay bằng một cái tượng khác trông rất lệch phom.

Thai-tu.jpg

Thái tử Kỳ Đà chắp tay quy y.

Tuong-cong.jpg

Đức Ông bên tả

Tuong-cong-2.jpg

Đức Ông bên hữu

Sân sau chùa có hai cây mít, cảnh thật dân dã. Người ta xây thêm khu nhà Tổ và dãy nhà phụ ở phía đằng sau… Từ chùa Trung, đi qua một khoảng sân hẹp là tới chùa Thượng.

chua-Thuong.jpg

Ngôi chùa được làm bằng gỗ tốt và được chăm sóc kỹ càng nên nom còn rất tươm tất.

cham-xa.jpg

Nét đặc thù của kết cấu chùa mái chồng diêm là xà ngang thay vì kẻ chuyền, thêm vào là những con kê tạc hình như cái bát có chạm hoa sen. Có thể ví như một hình ảnh mô phỏng hoa sen từ dưới đất (tảng đá kê chạm hình cánh sen), thân gỗ đón các đầu dư hình cánh sen, và đỡ những đòn kê tròn cũng hình hoa sen. Mở rộng ra là bộ mái như cánh sen nở bung trên tường chùa. Chạm khắc ở chùa Tây Phương không chạm lộng sâu nhưng tỉ mỉ và mềm mại, không dày đặc mà có độ thoáng nên không bị rối.

Tam-Bao-chua-Thuong-1.jpg

Tam-Bao-chua-Thuong.jpg

Tam bảo chùa Thượng, có bộ Tam Thế tạc vào thời chúa Trịnh Giang, cuối thế kỷ XVIII, là những pho tượng còn lại trước khi trùng tu vào năm 1794. Ở dưới là Thập điện Diêm vương, ngồi quây xung quanh như họp Bồi thẩm đoàn.

ba-vi-To.jpg

Cuối cùng là bộ tượng nổi tiếng, gồm các vị La Hán và các vị Tổ. Có 18 vị.

A-Nan-Vuong.jpg

Tổ Anan Vương. Không biết tay vị này thủ trong áo giấu cái gì.

Ca-Ty-Ma-LA.jpg

Tổ Ca Tỳ Ma La, có con rắn như cây gậy.

Cuu-Ma-La.jpg

Tổ Cưu Ma La, giống Di Lặc.

Gia-Na-Da-Xa-Na-De.jpg

Tổ Già Na Dạ Xa Na Đề (tên gì khó nhớ, chép theo cái biển thôi). Cái tay áo bay tạc thật điêu luyện.

Ma-Minh-va-Xa-Da-La.jpg

Mã Minh và Xa Dạ La. Hai vị này thì không VN lắm.

Phat-Gia-Nan-De.jpg

Phật Già Nan Đề, cũng giống Di Lặc. Ngài đang ngoáy tai nhìn bà Quan Âm bằng sứ Trung Quốc đang giữ tiền lẻ trên nóc tủ bên cạnh?

Phuc-Da-Mat-Da-Hiep-Ton-Gia.jpg

Phúc Đa Mật Đa và Hiếp Tôn Giả. Nghe cái tên phiên âm giật mình, hóa ra là Parsva. Cụ này 80 tuổi mới xuất gia.

Tang-Gia-Nan-De.jpg

Tăng Già Nan Đề. Trông thật hạnh phúc, dù ngồi bó gối.

Uu-Ba-Cac-Da.jpg

Ưu Bà Cúc Đa thì trông thật băn khoăn: Sao lại để hòm công đức trước mặt ta?

La-Hau-La.jpg

Còn đây là pho được xem như đỉnh cao của tượng gỗ Việt Nam thế kỷ XIX: La Hầu La. Nếu màu sơn mà khéo hơn nữa và đặt ở cạnh cửa ra vào thì chắc tưởng có ông lão nào ngồi khất thực. Tréo ngoe hơn nữa là người ta để đĩa tiền lẻ và cái đèn dầu ở trước, trông thật cám cảnh! Bên cạnh Tổ là một con hươu.

Mat-La-Hau-La.jpg

Khuôn mặt như của một ông già Việt Nam đã sống khổ hạnh lâu lắm rồi, trừ đôi tai mang dấu nhà Phật ra.

tay-La-Hau-La.jpg

Đặc biệt là bàn tay cầm gậy có cả đường gân như là thật. Bàn tay dưới thì nom kỳ dị, chắc do móng tay ngài để qúa dài? 

duong-xuong-nui.jpg 

Đường xuống núi phía sau chùa thoai thoải men theo sườn đồi… đi giữa những khóm cây, chim kêu lích chích, chó chạy nhung nhăng, nhà ngói lúp xúp sau vườn, đúng là cảnh Tây Phương cực lạc. Mà lại gần gũi với đời thường, khiến ai đã tới nơi đây dù một lần cũng khó quên.

(Dựa theo: Cỏ Cầu Gai @)

Chùa Tây Phương

Trở lại với đôi mắt người con gái Sơn Tây sao lại Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương, mà không phải Mắt em như nước giếng thôn làng, một sản phẩm thứ cấp của một thời… Bởi dù nước giếng làng có trong đến mấy cũng không thể lung linh huyền diệu bằng cái dìu dịu buồn Tây Phương cực lạc được. Cái tuyệt đỉnh “nửa khói ám, nửa sương tà” (*) của một vùng đầy ca dao, cổ tích như thế, mấy ai đã nhận biết đâu là giả đâu là chân?

Chỉ có hồn thơ như Quang Dũng và những đứa con dứt ruột của Xứ Đoài mới nhận ra và thấu hiểu được cái vời vợi và sâu thẳm ấy của hồn thơ hồn người. Để không bao giờ bị ngộ nhận, nhầm lẫn khi phải theo định hướng mà thốt lên rằng:

Các vị La Hán chùa Tây Phương!
Hôm nay xã hội đã lên đường…
(*)

???

Gocomay

(*) Trích: “Các vị La Hán chùa Tây Phương” – Huy Cận – http://www.thica.net/2008/02/04/cac-v%E1%BB%8B-la-han-chua-tay-ph%C6%B0%C6%A1ng/

______________________________

Advertisements

2 phản hồi

  1. vô tình lướt web đọc được bài viết về chùa Tây Phương, giống như trẻ con trong xóm khi gặp chuyện bất ngờ hay nói “vô tình lượm được … cục sình!”. Đấy là nói vui, chứ mươi năm trước có dịp ra Bắc, ghé thăm chùa Tây Phương, chụp biết bao nhiêu là ảnh ..nhưng sau này giở album ra xem thì chẳng biết tên vị La Hán nào cả, để làm chú thích, may sao đọc được bài viết này. Cám ơn chủ thớt nhé!

    • Chùa ở trong Nam – chùa Tiểu thừa thì chỉ có Phật Thích Ca; Quan Âm Phật Bà và các ngài Điạ tạng; Tiêu diện Đại sĩ… chứ không thờ các vị La Hán… như các chùa Đại thừa ở Bắc, nên tên các vị sáng tổ (La Hán) thường không nhớ là vậy thôi… Cám ơn bạn đã ghé thăm!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: