676 – Quê tôi xứ Đoài, nhiều mây trắng lắm! (4)

P1060950.JPG

Xuân Qúi Sửu (1/1973) chụp với các bạn lớp 10A đã đi thoát ly về nghỉ tết (Từ phải qua trái-trước: Huyền, Ngọ, Dũng, Lợi; Sau: Bình, Phú, Trung Quyết, GCM) – Ảnh chụp ở sân nhà Huyền)

Gò cỏ may (4)

(tiếp theo)

Rời mái trường thân yêu. Cái Huyền đi học trung cấp Xây dựng ở Hà đông. Cái Ngọ đi học Sư phạm trung cấp ở Thường tín. Thằng Dương may hơn cả vừa xoẳn đủ điểm vào được Đại học Giao thông ở Cầu Giấy. Còn tôi, không nhận được giấy gọi đi học cũng chẳng được “đi bộ đội”, vẫn theo đít trâu cày. Cùng trang lứa, hay kém tuổi tôi chút ít thì bĩu môi xầm xì: “Tưởng học hành tài cán để làm vương làm tướng gì, ai ngờ, vẫn phải bám L… trâu”. Nghe thấy lời đàm tiếu to nhỏ đó tôi tím ruột, cúi gằm mà đi, không còn muốn gần gũi với ai nữa.  

Tôi nhớ mấy bữa xách đèn bão đi thi đại học đêm (*) ở cánh bãi, đầy con dĩn chỉ quen cắn người lạ tới mẩn ngứa trong bãi Sấu, nơi gần cái “Đồng Bương cấn” của Quang Dũng ấy. Vây quanh tôi là thằng Ch… thằng B… và cái D…  học cùng lớp, cùng trường suốt mấy năm liền. Sức học của chúng chỉ thuộc loại trung bình. Cái hôm thi đêm ấy, chúng bí còn phải cầu cứu tới tôi…. Nay chúng đều đã có giấy gọi đại học và trung cấp cả. Còn tôi lại ở nhà. Rõ là “học tài thi phận” thật. Thời đó còn “tù mù” chứ chưa có báo điểm công khai như sau này. Ai nhận được giấy báo tựu trường là “đỗ” còn cứ im im có nghĩa “trượt” không biết đâu mà phúc tra hay khiếu nại gì được. Cái kết qủa điểm thi và “hồ sơ mật” của tôi mà tôi tìm được sau đó cũng là một chuyện tình cờ ngẫu nhiên. Chứ bình thường thì không tài gì mà biết được.

Đó là hôm vào dịp sắp vãn vụ cấy lúa mùa rồi. Lúc ấy đã quá trưa, tôi vừa đi nhổ mạ về tới sân thì nghe có tiếng động cơ bành bành, tiếng nổ khá lớn cuả chiếc mô tô ba màu xanh sẫm mới toanh tiến lừng lững vào dừng ngay bên chiếc cối giã gạo cổng nhà. Trẻ con lít nhít quần đùi, cởi chuồng bụng ỏng đít beo chạy theo hò reo inh ỏi. Hoá ra là người quen cũ. Đó là anh Nhận (Lê Thế Nhận), bộ đội chống Pháp, được chính tay Hồ Chủ Tịch gắn huy hiệu “chiến sỹ Điện Biên” thuở nào, từng đóng quân tại nhà tôi, và có thời còn rất thích chị Quyền tôi. Duyên phận không tới, nay anh đã về quê tận Hà Bắc lấy vợ, có một lũ con. Anh khoe, mới nhập được hộ khẩu cho cả nhà ra Hà Nội. Chuyển ngành, anh ra làm chuyên viên trong Ban Quân sự Bộ Đại học tại số 5 Lê Thánh Tông Hà nội. Bẵng đi phải tới ngót 15 năm anh mới “bình bịch về làng” trở lại thăm gia đình cố nhân, nơi anh có nhiều kỷ niệm đẹp. Khi biết tin tôi đang chờ kết qủa kỳ thi tuyển vào đại học, anh ghi số báo danh và tên hội đồng thi của tôi, hứa sẽ hỏi giúp.

Mấy tháng sau anh giữ đúng lời hứa. Và cũng nhờ sự chỉ dẫn cuả anh tôi mới biết đường mà lên tận cái phố Thắng, huyện Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc xa xôi, nơi sơ tán cuả trường Đại học Tổng hợp Hà nội. Để tận mắt được đọc những dòng chữ cuả vị chúa tể nông thôn, trưởng công an xã Nguyễn Khắc Sung phê đểu lên tờ phiếu thẩm tra lý lịch (trích ngang) kẹp trong hồ sơ thi vào đại học tổng hợp của tôi. Lúc đó trường đã ổn định năm học mới được gần một học kỳ. Chậm chân quá mất rồi.

6951401241654478.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ cho các chiến sĩ tiêu biểu của chiến dịch (từ phải sang): Bạch Ngọc Giáp, Hoàng Đăng Vinh, Nguyễn Văn Thuận, Lê Thế Nhận (Anh Nhận ló mặt ở góc trái tấm hình này) – Nguồn: thanhnien.hochiminhcity.gov.vn & vietnam.vnanet.vn

Chán nản, tôi nhìn mọi người, mọi việc quanh tôi, mới hôm qua tôi còn thấy sinh động, có phần dễ thương mà hôm nay sao cay nghiệt thế. Thật chẳng sai, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”? Tôi âm thầm, lẫm lũi mà có khi cả ngày chẳng cạy răng, chẳng nói một lời. Tôi dầu dĩ thì U tôi cũng chẳng vui. Ngày nào cũng như ngày nào, suốt từ lúc gà gáy lần thứ nhất bà dậy đem gạo đi giã. Dừng chân, ăn bát cơm nguội, ra đồng. Tối về thì hết sảy thóc, dần sàng, lấy bèo, băm chuối, nấu cám, đan chổi, bóc lạc, sát củ nâu nhuộm vải, khâu vá hay rút rơm trâu lúc đêm đông băng giá. Mùa màng thì khỏi phải nói, bận không thể tả được. Ngay cả lúc gọi là nông nhàn U tôi cũng lọ mọ luôn tay nơi đám rau muống, khoai nước vuờn Dâu, đám rau cải bẹ, cải xanh hay đỗ đen, vừng, lạc vỡ hoang nơi gò Chùa Do, bờ mương hay gò Vườn Chuối. Mùa cắt cỏ Trâu, khi có tôi đảm nhận rồi thì U tôi lại xuống Đồng Sai bòn nắm rau dừa, rau ngổ hay rong đuôi chó non đem về cho lợn vừa làm chất độn phân xanh. Mùa cà bát, kiểu gì bà cũng vỡ bằng được vài luống ven bờ mương Rộc để khi thu hoạch, cà đem phơi tai tái mà muối và nén chặt hai lấy vại to kếch sù, để giành ăn quanh năm. Không lúc nào là tôi thấy U tôi không tìm ra việc mà làm. Ngay cái hôm anh Uy tôi về chào mẹ lần cuối để đi chiến trường B, và mãi không còn trở về ấy, U tôi cũng không có thời gian mà đưa tiễn nữa. Bà còn mải đi cấy. Nhìn cái dáng cao đen cuả anh tôi qua cổng ngoài, rồi khuất dần sau rặng phi lao xa xa mà không có mẹ đi tiễn, lúc đó tôi giận U tôi lắm. Tiếc gì, không nghỉ một buổi cấy mà đi đưa anh tôi vào cái thời khắc cuối cùng lịch sử ấy. Tham việc thì đúng rồi, nhưng không hẳn như thế.

Mãi sau này tôi mới hiểu, anh cả của tôi đã nợ U tôi nhiều lắm. Cái chuyện lấy vợ ấy! Khiến U tôi giận. Lúc ra đi anh tôi đã ba mươi rồi mà vẫn “lông bông lận đận” cả sự nghiệp lẫn đường vợ con. Anh tôi ra đi không hẹn ngày về đã phá tan hoàn toàn mọi dự kiến lớn lao mà bà từng sắp đặt, từng vun vén bấy lâu, sớm mong có đứa cháu nội đích tôn. Đỗ vỡ, thất vọng, U tôi bỏ đi cấy như chạy trốn hiện thực ê chề. Để khỏi bị gục ngã. Để khỏi làm chùn cái bước “chân cứng đá mềm” của người lính chiến – người con trai khôi ngô, hiếu thảo mà U tôi vô cùng thương qúi và giành nhiều tình cảm nhất suốt mấy chục năm dòng. 

Hằng đêm, khi mọi người đã ngủ yên. Khi xóm làng chìm sâu vào tĩnh lặng, là lúc U nhớ tới đứa con trai đầu đàn, người chiến sĩ. U tôi khóc một mình. Kể từ khi anh tôi đi B, đêm nào cũng vậy!… … Tình cảm sâu nặng của người mẹ già giành cho đứa con yêu, ra đi chẳng có ngày về, mấy ai đã hiểu thấu?

Anh Uy tôi ngã xuống bất tỉnh, vì trúng một viên bi nhỏ xíu, bom của Mỹ vào hộp sọ, trong cái mùa hè đỏ lửa tại núi rừng Trường Sơn. Anh tôi bị hôn mê liên miên, sau bốn ngày thì trút hơi thở cuối cùng. Nhằm đúng ngày 19 tháng 5 (tức mùng 7 tháng 4 âm lịch) năm 1972.

ap_20110704011432366.jpg

Tấm bia mộ của anh tôi tại NTLS Trường Sơn, Quảng Trị- Ảnh: Bạch Dương chụp ngày 30.06.2011 (chắc là để tránh ngày đại hỷ 19.05 nên anh tôi đã được ghi hy sinh sớm hơn 4 ngày để tránh húy kỵ chăng?) 

Tôi chỉ hiểu được một phần sự thật khi U tôi sắp nằm xuống mãi mãi trên cánh đồng gò cỏ may Đình Lỗ mà vẫn thương xót anh tôi, bỏ rơi cha mẹ mà chưa kịp lấy vợ làng.

Dạo đó, tôi cũng không biết U tôi cứ khóc anh tôi nhiều như vậy, thì ngủ vào lúc nào. Lên giường nằm thì sau rốt. Mà sáng lại dậy đầu tiên. Cứ ron rón quán xuyến mọi công việc một cách tinh tươm như không hề có chuyện gì từng xẩy ra hằng đêm cả. Lưng U tôi ngày càng còng tệ. Trông tội lắm. Nhưng vẫn bền bỉ dẻo dai một cách thần kỳ.

Trở lại chuyện về cái vị hung thần, người làng Yên Bệ mà tôi đã đề cập tới lúc trước. Đó là ông Nguyễn Khắc Sung, một đảng uỷ viên, trưởng công an xã, người khác thôn, với gia đình chúng tôi, chắc chắn là không hề có thù oán gì. Ông ta không biết nghe kẻ xấu nào xúi dục, đã nhắm mắt phê bừa vào cái lý lịch trích ngang Hồ sơ thi đại học của tôi. Hơn ba năm sau, anh Vượng tôi từ chiến trường B về thăm nhà, nhìn thấy lời phê kỳ cục như vậy trong hồ sơ của đứa em trai mà trường Đại học Tổng hợp trả về thì không tin vào mắt mình nữa. Quen với tác phong quân nhân ngay thẳng, anh xe đạp lóc cóc tìm sang nhà gặp “đồng chí Sung”, chỉ muốn hỏi cho rõ ngọn ngành? Cho vợi nỗi ấm ức, chứ việc đã lỡ, đã qua, có thay đổi được gì đâu? Đáng lẽ ra, người cán bộ vì dân, giữ hậu phương yên ấm, khi thấu hiểu nỗi bức xúc ấy, nên có một lời ôn tồn hóa giải khéo léo như thế nào đấy với nạn nhân thì chắc cũng xuôi. Đằng này, với bút tích phê láo và chữ ký Nguyễn Khắc Sung còn rành rành trong phiếu thẩm tra lý lịch như thế, ông ta vẫn “quan phụ mẫu” hách dịch, quát tháo ầm ĩ…

Không ai nhịn ai, dẫn đến co kéo xô đẩy nhau, kết cục cả chiếc xe đạp của anh tôi và ông Sung cùng ngã xuống ao. Ông chúa tể nông thôn liền giở võ Chí phèo, hô hoán dân quân tới tịch thu mọi bằng cớ “gây rắc rối” và bắt trói anh tôi giải lên công an huyện Hoài Đức giam giữ. Cũng may, cái tay phụ trách công an trên huyện khi ấy, lại là bạn cùng nhập ngũ với anh tôi trước đây nên sau khi dân quân xã ra về thì anh tôi được tha ngay.

Sau biến cố ấy, ông Sung tìm cách tiêu hủy, chùi sạch mọi bút tích bẩn của mình nhằm tránh hậu họa. Còn chúng tôi, do bận rộn với mưu sinh, cũng chẳng ai có thời gian và hứng thú để khơi lại những vết thương cũ đã thành sẹo mà làm gì.

Thời gian trôi nhanh, tại phương trời xa, ba chục năm sau tôi tình cờ gặp lại vài người làng, ôn lại nhiều kỷ niệm vui buồn nơi làng quê, chợt nhắc lại câu chuyện cũ, họ cho biết, gần cuối đời đám “Người vác tù và hàng Tổng” kém phẩm hạnh cùng thời với ông cán bộ Sung cũng chả được yên. Họ bị nhiều nạn nhân phẫn uất nguyền rủa, quấy phá. Nay sào lạc non bị nhổ, mai đống rơm bị đốt, con bò bị cắt gân chân, lối vào nhà thường bị rải gai bồ kết. Rồi mái ngói thời bình mà lại bị “pháo kích” gạch củ đậu hằng đêm …

Sự trả thù của đám“con ong cái kiến” thấp cổ bé họng, ít chữ, ít lý lẽ chỉ hành động kiểu “võ biền/ chiến tranh du kích” trường kỳ, âm ỉ… cũng khủng khiếp vô cùng. Biết chống đỡ thế nào, khi xóm giềng làng nước tối lửa tắt đèn đều “mặt giăng mặt giời” cả. Đám dân đen còn xôn xao chuyện những kẻ chức quyền mà làm các việc thất nhân tâm, đến khi hết quyền thường bị những hồn ma (các liệt sỹ ?) luôn hiện về quấy phá đòi mạng (?)… Và một trong số đó, khi đang trong bữa ăn, bỗng dưng thổ hộc bãi máu tươi đầy mâm cơm, gục xuống chết bất đắc kỳ tử, hãi hùng. Nghe những câu chuyện rùng rợn đó mà tôi chả mấy tin. Nhưng lại là câu chuyện có thực thời hậu chiến đã xẩy ra trên quê hương lam lũ của chúng tôi, khiến tôi không khỏi chạnh lòng.

Bản thân ông Nguyễn Khắc Sung, may mắn thoát được trận bom Yên Bệ mùa hè 1972 ấy… tưởng cuối đời an vui hưởng tuổi già cùng con đàn cháu đống… ai ngờ, vẫn tráng kiện hẳn hoi, mà sinh lẩn thẩn từ lúc nào. Nặng dần, lời nói không tự chủ được, ăn uống cũng không còn phân biệt được thức ăn với chất thải, nước sạch với nước dơ… Mặc dù đã được người nhà tận tình đem đi chữa chạy, lại cầu cúng rất tốn kém khắp nơi mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Cái số hẩm của ông Sung là vậy, đã không được “sung túc” hay “sung sướng” mà lại cứ “xung khắc” bất hòa, nên đã sớm về chầu Diêm Vương khi còn chưa tới tuổi “cổ lai hy” qúi hiếm như đa số thảo dân đồng liêu, cùng trang lứa trong vùng. Đành rằng chuyện “sinh tử bất kỳ” ai mà nói hay, biết trước được. 

Cũng là một nạn nhân khốn khổ của vài đứa tiểu nhân đa quyền thiểu đức, nhưng  tôi không bao giờ tán đồng cách giải quyết mâu thuẫn với nhau, nơi làng xóm thân yêu bằng bạo lực kiểu “lấy oán báo oán” như cách hành xử trả thù lặt vặt đó. Cũng như chẳng mấy tin vào những điều dị đoan suy diễn ly kỳ. Song tôi khi nghe được các chuyện ân oán dai dẳng như thế, cũng thấy sởn tóc gáy. Thế mới biết kẻ ác, sinh thời dù quyền năng lộng hành đến mấy cũng chẳng thể nào tránh được “ác giả ác báo” là vậy!

*

*             *

Lầm lũi nơi bùn lầy nước đọng gần đầy năm thì tôi có cơ hội được thử sức mình một lần nữa qua kỳ thi tuyển cũng khá gay cấn, để thi vào lớp quay phim khóa 6, Trường Điện ảnh Việt nam (ĐAVN) ở 33 Hoàng Hoa Thám Hà nội. Cái háo hức, sôi nổi như dạo đi thi đại học năm trước không còn. Nay tôi nhìn cuộc sống có phần lạnh lùng, trầm mặc hơn. Các môn thi: lý luận Văn học, Lịch sử và Vật lý thì tôi làm bài chẳng có gì vất vả cả. Vì nó không quá khó đối với khả năng của tôi. Nhưng đến các môn năng khiếu như phân tích tranh, cắt cúp bố cục lại tranh và môn chụp ảnh thì tôi bộc lộ nhiều yếu kém. Lúc đó tôi mới nhận rõ cái môi trường làng quê tăm tối của đám trẻ chăn trâu cắt cỏ chúng tôi, chưa bao giờ có điều kiện để trau dồi hay làm quen với bộ môn nghệ thuật thứ bảy cao siêu này. Tôi đạt điểm năng khiếu quá khiêm nhường nếu không muốn nói là yếu kém. Bù lại do có điểm kiến thức các môn Văn-Sử-Lý khá cao lại được công thêm vài ba điểm “con em trong ngành” (**), nên tôi vẫn trúng tuyển và nhận giấy báo tựu trường vào ngày 26 tháng 4 năm 1973.

P1060938.JPG

Lớp Quay phim Khóa 6-Trường ĐAVN-33 Hoàng Hoa Thám HN-1973 (Gocomay đứng góc trái phía sau)

Trường ĐAVN lúc đó vẫn là hệ trung cấp, học ba năm. Nhưng hàng trăm người đi thi mà chỉ mười tám người trúng tuyển, cũng làm tôi khuây khỏa phần nào. Thời gian này, Thầy tôi không còn công tác ở Công ty Nhiếp ảnh Hà nội nữa. Ông đã về hưu được hai năm. Nhưng vẫn đi làm chấm ảnh thuê công nhật cho Phòng ảnh Báo Hậu Cần (Tổng cục Hậu cần) ở 18 Cửa Đông Hà Nội. Ông nhường cho tôi cái xe đạp cũ mác Marina của Pháp, mà ông đã mua và sử dụng liên tục từ năm 1948. Ông trịnh trọng nói: “tao suốt đời làm ảnh nhưng ít học nên chỉ là cu ly, không có đồ nghề máy ảnh, máy phóng gì ráo sất. Nay chỉ có con ngựa già này, tao cho mày làm vốn liếng để mong sau này mày khá hơn tao”.

Ấy thế mà không có cái “con ngựa già” không chuông không phanh qúi hoá đó thì không biết tôi phải xoay xoả ra sao trong các đợt thực tập chụp ảnh, quay phim suốt ba năm học vất vả ở trường.

Cái năm về Trường điện ảnh học quay phim đó, tôi chưa đầy 19 tuổi. Là người duy nhất trưởng thành từ nông thôn. Giữa đám công tử hào hoa trong lớp mà tôi ống quần kẹp, túm (cho xích xe đạp khỏi cắn) quê một cục, trông chẳng khác gì anh hoạn lợn, anh xe thồ. Khiến đám đồng môn như bọn thằng Hòa, Định, Thanh, Tuấn… cười trêu, luôn mồm gọi: “Cường khoai” hay “Ma đồng”. Tôi bỏ ngoài tai hết. Ăn thua ở cái nghề. Không thành nghề thì chải chuốt để làm quái gì.

Vào trường học, tôi như mảnh đất khô hạn lâu ngày được tưới nước. Tưới đến đâu là thấm đến đấy, thần tình! Khiến mọi người cả thầy lẫn trò trong lớp đều kinh ngạc. Từ ngu ngơ rốt ổ, chỉ sáu tháng sau tôi đã vươn lên nhóm dẫn đầu. Và giữ nguyên phong độ học hành tinh tấn cho tới khi tốt nghiệp ra trường.

Trở lại chuyện lúc mới nhập học. Sau cái buổi nhận chỗ, chiếc gường cá nhân trong gian lán nứa nhà nội trú, ở cùng với Cao Minh Thành, Nguyễn Phúc Ánh, Lê Định, Vương Khánh Luông, Phạm Phúc Đạt và Vi Kiến Hòa xong, tôi lên phòng tổ chức lấy giấy giới thiệu về địa phương cắt hộ khẩu. Tiện thể về trường cấp ba Sơn Đồng cũ xin giấy chuyển sinh hoạt Đoàn. Xong việc, vừa đúng chiều thứ bảy, tôi đạp xe qua huyện lỵ, Trạm Trôi rồi ghé về qua phố Lai chơi, chào ông Đương, cậu mợ Nhị để chuẩn bị về trường. Ra về, mợ Nhị (có tật nói ngọng) còn chặn xe đon đả:

– Vào nàm bát bún măng đã cháu. Măng nứa ông Thành Nhung mới mang từ Sơn Tây về, tươi ngon nắm!

– Cám ơn mợ, cháu phải vội về, U cháu đang chờ cơm ở nhà.

Vừa nói, tôi vừa lên xe vòng đường bờ kênh Rộc, đạp về phía cổng ngoài. Trời sắp nhá nhem, tới gần gốc đa thì cũng là lúc trâu bò từ đồng lững thững về chuồng. Chú trâu kềnh thân quen của tôi ngày nào, giờ đã sang tay chủ khác. Khi nghe tiếng xe đạp lách cách của tôi từ xa, con trâu rất thính đánh hơi, bén người quen đã dừng lại, quay ngoắt, nghênh đôi sừng cong soãi như cánh tay lực sỹ dang rộng ra chào đón tôi. 

P1060958.JPG

Dừng xe, tôi tiến lại sát con vật ân tình. Một tay nắm sẹo, tay kia vuốt má, tôi nhìn sâu vào đáy mắt nó. Con trâu chịn cái mõm đen ươn uớt hít hít tay tôi, mắt ngước nhìn tôi, buồn, đục lờ, hoen đẫm nuớc, như trách móc. Đôi sừng năm tháng như oải ra, mệt mỏi thở phì phò, hơi thở nặng, hôi, nóng hổi. Nó gầy, già và chậm chạp nhiều rồi chứ không còn tuấn tú như xưa nữa. Tự dưng bao kỷ niệm ập về, nước mắt tuôn ứa ra, tôi buông chạc sẹo trâu, lén quay đi, leo lên xe, đạp vội vào cổng làng mà như sợ có ai đuổi rát đến nơi mà không dám quay lại đằng sau lần nào nữa… 

(còn nữa)

Gocomay

(*) Cái muà hè 1972 đó, phải tránh máy bay Mỹ nên chúng tôi phải đi thi đêm từ 3 giờ sáng.

(**) Cậu ruột tôi là nhà quay phim nổi tiếng Nguyễn Đắc, người quay “Chung một dòng sông” năm 1958, bộ phim truyện đầu tiên cuả nền Điện ảnh cách mạng Việt nam.

___

>> Xem Phần 1; 2 & 3 ở đây:

____________________________

Advertisements

2 phản hồi

  1. […] 676 – Quê tôi xứ Đoài, nhiều mây trắng lắm! (4)  – https://gocomay.wordpress.com/2011/09/03/676-que-toi-x%E1%BB%A9-doai-nhi%E1%BB%81u-may-tr%E1%BA%AFng-l%E1%BA%AFm-4/   […]

  2. […] 676 – Quê tôi xứ Đoài, nhiều mây tr […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: