672 – “Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật”

100922093810-988-578.jpg

Các bậc tiền bối ngành ĐA (Tiến Lợi, Qúi Lục, Ngọc Quỳnh…) ở Đồi Cọ-Việt Bắc

Sự bế tắc của Điện ảnh Việt Nam (ĐAVN) có lẽ là ở sản phẩm của nó không còn theo kịp thời đại. Không đáp ứng được những đòi hỏi của cuộc sống mới ngày hôm nay.

Nhớ thời còn sống ở làng, chưa có truyền hình ra đời, hôm nào có đội chiếu bóng lưu động của tỉnh, huyện mang phim tới chiếu, cả làng quê từ trẻ nhỏ tới những người già đều háo hức vô cùng. Nhà nhà lo thu vén công việc đồng áng, cơm nước cũng sớm hơn thường lệ, tới điểm chiếu phim, mua vé và kiếm một chỗ tốt ở sân bãi. Thời đó bất luận chiếu phim hay dở gì cũng đều được mọi người hưởng ứng một cách nhiệt liệt. Cho dù toàn bộ chỉ quanh đi quẩn lại những phim sản xuất trong nước hay những phim nhập từ các nước XHCN như Liên Xô; Trung Quốc; CHDC Đức; Bun ga ri…

Sau mỗi buổi chiếu phim, ở tất cả những chỗ túm năm tụm ba như trường học, chỗ tập trung chờ phân việc của tổ HTX nông nghiệp hay chỗ họp đoàn, đội thanh thiếu niên vào các buổi tối, mọi người còn bàn tán râm ran về phim. Người có trí nhớ tốt, có khiếu ăn nói còn nhại lại những lời giới thiệu hay lời thoại của các nhân vật do anh đọc thuyết minh trình bày… chả khác gì các bà già “kể hạnh” ở trên chùa trong các dịp lễ hội.

Ưu thế đó của điện ảnh đã dần phai nhạt khi có sự xuất hiện và cạnh tranh ngày càng mạnh của truyền hình. Chả riêng gì xứ mình. Ở khắp nơi trên hành tinh này, sự ra đời của truyền hình và Internet đã khiến nhiều nền công nghiệp điện ảnh lao đao, phá sản. Ở ta lại càng rõ khi cơ sở vật chất kỹ thuật của điện ảnh còn vô cùng yếu kém thì tránh sao khỏi thảm hoạ. Nhất là các tiêu chí của phim ảnh vẫn không có gì thay đổi.

Xu thế toàn cầu hoá hiện nay, không chỉ dừng ở lĩnh vực công nghệ mà ngay lĩnh vực văn hoá nói chung và điện ảnh nói riêng cũng đặt ra những thách thức mới. Ngay cả những quốc gia Tây phương có nền điện ảnh tiên tiến và lâu đời như như Pháp, Anh, Ý, Đức các cơ sở sản xuất phim ở đó cũng gặp vô vàn bất trắc huống hồ các nước thuộc khối XHCN Đông âu cũ. Điện ảnh VN ta đứng trên bờ vực thẳm là lẽ đương nhiên. Để vượt thoát ra khỏi tình trạng này đòi hỏi những người hoạch định vĩ mô phải tìm ra được chiến lược phát triển phù hợp thì may ra mới tìm thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm. Bằng không, tắc tử là điều khỏi bàn cãi.

P1000305.jpg

Gocomay đang thực tập tại Studio Hamburg (Đức) – 12. 2008

Để trị được căn bệnh nan y của ĐAVN hôm nay cần có bàn tay của người thầy thuốc giỏi, có tâm, tầm và cả khả năng về tài chính nữa. Tất cả những điều tiên quyết đó, hiện nay, ngành điện ảnh đều thiếu. Ai cũng biết, để có được những sản phẩm tốt, yếu tố con người là vô cùng quan trọng. Nhưng trong lĩnh vực điện ảnh, ngay khâu đào tạo ra các nghệ sỹ từ mấy chục năm qua đã có qúa nhiều bất cập. Lấy ví dụ nhỏ như chính thổ lộ của ông đương kim Cục trưởng Lại Văn Sinh trên VTV4 (chuyên mục VĂN HOÁ-SỰ KIỆN-NHÂN VẬT) cách đây ngót 6 năm (01.11.2005) – lúc ông Sinh đang trên cương vị Giám đốc Hãng phim Tài liệu-Khoa học rằng chính ông đã phải đi làm giám khảo, đi phản biện luận án tốt nghiệp cho nhiều lứa đào tạo nghệ sỹ điện ảnh tương lai mà chả được nhận một đạo diễn trẻ làm phim Tài liệu nào về làm việc ở Hãng, vì trường ĐHSKĐA trong Mai-dịch từ hàng chục năm nay không có đào tạo chuyên ngành về đạo diễn phim Tài liệu. Mặc dù luận án ra trường cuả sinh viên trẻ phần đa đều là phim Tài liệu. Chuyện khôi hài đó cũng giống như chuyện cùng là đào tạo công nhân xây dựng cả nhưng do ngành thợ Mộc có nhiều người muốn theo học hơn ngành thợ Nề nên trường nghề chỉ dạy học sinh nghề thợ Mộc. Học xong khi thi sát hạch vì không có đủ gỗ để làm bài tốt nghiệp về nghề Mộc, trường nghề đành phải chấp nhận cho học sinh trả bài bằng cách xây một đoạn tường là công việc quen thuộc cuả người thợ Nề để các thầy chấm. Và sau đó nhà trường sẽ cấp bằng “đã tốt nghiệp ngành xây dựng” chung chung (hay có khi còn ghi rõ tốt nghiệp ngành Mộc hẳn hoi cho oai) để sau này những sinh viên đó ra trường tinh làm nghề thợ Mộc như sự lựa chọn cuả họ. Thử hỏi có nơi nào trên thế giới văn minh hiện nay lại có kiểu đào tạo nghệ sỹ kỳ quặc như vậy?

Không có thành phần chủ yếu về sáng tác (như biên kịch, đạo diễn, quay phim…) có tay nghề (chứ chưa dám nói là tài giỏi), muốn làm ra các sản phẩm điện ảnh sạch nước cản cũng khó, chứ đòi có những tác phẩm tốt thì đúng là bất khả thi. Ấy vậy mà các giải thưởng của hội nghề nghiệp và các LHP quốc gia cũng như các đợt xét duyệt danh hiệu nghệ sỹ theo định kỳ vẫn cứ đều như vắt chanh. Với kiểu lập luận: “Đã mở cuộc thi hoa hậu thì phải có hoa hậu. Đã có LHP quốc gia thì phải có Bông sen vàng”… như vậy liệu những giải thưởng và danh hiệu chưa thoả đáng đó có làm cho nền điện ảnh phát triển được không? Hay đó chỉ là kiểu “bốc xôi làng” tiêu phí tiền ngân sách của nhà nước (cũng là tiền của dân) trong cơ chế xin cho. Đã có xin cho thì tất sinh chạy chọt, tỵ hiềm. Tác hại lớn nhất của trò này chính là dùng hư danh để khống chế, khoá miệng tất cả những tiếng nói trái tai hay bức xúc của kẻ sỹ trước những vấn nạn của xã hội. Thoát được cái bả vinh hoa này thật không dễ.

Khi không làm ra được nhiều sản phẩm có ích cho xã hội thì sự tồn tại của ngành sản suất đó có khác gì một cái bóng mờ đứng bên lề cuộc sống và những người được cắt đặt trông coi nó chẳng cần tài năng hay xuất chúng. Chỉ cần một anh ba phải gọi dạ bảo vâng và biết chiều lòng cấp trên là có thể tại vị và điều hành. Ngành ĐAVN chính là một điển hình tiêu biểu vậy! 

Anh bạn đồng môn với tôi ở Hãng phim Truyện kể, những năm cuối trước khi về hưu đến lương anh cũng không buồn tới hãng lĩnh nữa. Vì đồng lương còm cõi đã đành mà cũng luôn thất thường chậm trễ. Nên giao kèo với tay giám đốc (bậc đàn em) là lúc nào có tiền thì mày mang về cho tao là được rồi. Nghệ sỹ không cần có mặt vẫn được chấm công, không cần có sản phẩm vẫn có lương (bao cấp) thì sướng qúa rồi còn kêu ca gì nữa. Đó cũng là lý do, cái cơ ngơi hàng ngàn m² vốn là cơ sở của hãng Thuỷ Phi cơ đẹp vào bậc nhất bên Hồ Tây thơ mộng mà phim Truyện được tiếp quản sau 1954 ở Hà Nội, hơn nửa thế kỷ trôi qua vẫn sập xệ, ngắc ngoải. Đất đẹp thế mà không tài gì xoay xoả làm ăn để thoát khỏi cảnh dở sống dở chết như hiện tại?

Mặc dù vậy, cảnh sống thực vật của phim truyện nói riêng và ngành điện ảnh nói chung lại là tia hy vọng cho “bầy sâu” trước miếng mồi vô cùng béo bở về đất cát một khi cơ hội tới. Chỉ thương cho biết bao nghệ sỹ đã suốt đời cống hiến cho sự nghiệp điện ảnh nước nhà. Bây giờ là lúc đáng ra được hưởng an nhàn. Song vẫn phải bươn chải kiếm sống. Vẫn trăn trở với những bất cập của điện ảnh mà chả biết có vãn hồi được tình hình không. Bởi như người xưa nói “Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật”! (*)

Trao%20tang%20dong%20bao%20mien%20trung%20toan%20bo%20so%20tien%

Cục trưởng Cục ĐA Lại Văn Sinh trao qùa cho đồng bào lũ lụt miền Trung

Nghịch cảnh của ĐAVN hiện nay tựa như câu chuyện khai phá mảnh đất mới vô cùng gian khổ và anh dũng, tất cả các thế hệ tiền bối do có nhiều cống hiến, hễ cứ sắp về nghỉ hưu hay sắp về Phật quốc đều được phong danh hiệu nghệ sỹ và giải thưởng cao qúi hết thảy. Nhưng cơ ngơi mà họ trao gửi lại cho hậu thế thì tựa như một bãi đất bạc màu, không còn canh tác sinh lợi được nữa. Nghề thì bị mai một thất truyền. Họ than vãn với ai? Khi chính họ không ít thì nhiều cũng là tác nhân gây ra thảm trạng đó?!

Gocomay

(*) Trích lời Ức Trai – Nguyễn Trãi

___

P/S:

__________________________

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: