666 – Nén tâm nhang cho người thiên cổ

Nguyenviethung_CHANDUNGDA3.jpg

Tranh minh hoạ của Nguyễn Việt Hùng

Đêm qua, 14 tháng 7 âm lịch, theo phong tục quê tôi xưa, mẹ tôi hay nấu một nồi cháo hoa lớn. Nấu xong bà múc ra các bát con, bày kín một mâm chõng bằng tre đặt ngay ngắn giữa sân. Bày thêm điã muối, một bát nước mưa, một cây đèn dầu con, một bát gạo. Rồi cắm 7 nén hương lên bát gạo… gọi là để cúng thí thực cô hồn. 

Năm nay tiết tháng bảy tới, suốt mấy hôm nơi tôi sống trời mưa sụt sùi chả khác gì mưa ngâu bên mình. Tôi hỏi mấy người Tây ở chỗ làm rằng mưa như thế này ở đây gọi là gì? Họ nói: “Eventualität regen” (ê ven tua li tết – rê gèn). Nhưng thông dụng hơn người ta hay nói rằng: “April April” (áp pờ ri lờ – áp pờ ri lờ) có nghiã thời tiết giống tiết tháng tư (lúc mưa lúc nắng bất thường). Thảo nào trời đang rỉ rả mưa sướt mướt chiều qua lại hửng nắng, mây cuồn cuộn hùng tráng vô cùng. Đang viết dở cái entry cho ngày cuối tuần, thằng cháu nội “đít sắt” cứ vào lay gọi dục dã đòi đi bắt cua. Đành dừng tay chiều nó phi ra con suối nhỏ ven làng…

Tính bắt cho nó vài ba con chơi vui thôi. Không ngờ có tia nắng hửng cua bò lên nhiều. Lại được sự cổ vũ của đôi nam thanh nữ tú người bản xứ, thằng cháu vợt liên tục chỉ mươi mười lắm phút là đủ bữa riêu cua rồi…

P1060591.JPG

Thằng cháu “đít sắt” của Gocomay tay vợt tay túi nilon bên bờ đập con bờ suối ven làng

P1060592.JPG

Đôi trái gái người bản xứ ra sức kích lệ ông cháu tôi bắt cua…

Về nhà nhận được cái còm của một bạn trẻ người cùng xóm (chưa giáp mặt bao giờ) báo tin buồn như thế này!

Cháu chào chú!

Cháu xin lỗi chú vì nén tâm nhang mà chú nhờ cháu thắp thì cháu không thực hiện được mất rồi. Vì ngôi nhà đó giờ đã khóa cửa và trở thành ngôi nhà hoang rồi chú ạ. Mỗi lần cháu qua đó đều thành tâm cúi đầu mong cầu những gì tốt đẹp nhất sẽ đến với Bác Dậu và Chú Quy (em Bác Dậu) nơi chín suối. Đến giờ này thì sự ra đi của chú Quy vẫn mang cho cháu nhiều nỗi ám ảnh. Về tình cảm giữa con người với con người, về những gì gọi là quy chuẩn đạo đức, về tình làng nghĩa xóm, về cuộc sống gia đình… Không biết đã ai kể cho chú nghe chưa, chú Quy mấy chục năm nay sống độc thân, một mình trong ngôi nhà nhỏ đó, không con cái, không người thân, không họ hàng, không người trò chuyện, tâm sự, sẻ chia… Đến lúc mất thì cũng không ai biết, đến khi có mùi hôi thối bôc lên thì mọi người mới mở cổng bước vào thì chú nằm ở sân, mất trong tư thế đang dãy dụa, trên người có mỗi cái quần cộc. Và rồi không phát tang, ngay tối hôm đó chú ra đi trong sự im lặng và sợ hãi của mọi người.

Nén tâm nhang là sự thành kính từ đáy lòng, có lẽ ở nơi chín suối thì Bác Dậu, chú Quy cũng sẽ nhận được và cảm thấy an ủi phần nào chú ạ. (CONTAUKHONGSO – 00:35 14-08-2011)

Chả là hôm trước, phát hiện ra người cùng xóm, tôi có gửi cho người bạn trẻ tâm giao mấy dòng thế này:

“Trong danh sách liệt sỹ ở NTLSTS (do một cô đang làm ở UBND Tỉnh Quảng Trị chụp hôm 30.06.2011 có 3 người ở LX đấy!  số 13; 15 và 16. (CẢM XÚC MỘT CHUYẾN ĐI – http://vn.360plus.yahoo.com/bachduongqt3065/article?mid=3162)

Nếu có thể được nhờ cháu vào nhà liệt sỹ Đỗ Xuân Dậu thắp dùm GCM nén tâm nhang nhé! (nhà LS Dậu thì chỉ cách nhà cháu chừng một con dao quăng là cùng). Bố anh Dậu xưa cứu GCM khỏi chết đuối ở Cầu Kênh xóm Rộc (lúc 4 tuổi) đấy!!! (gocomay 01:54 11-08-2011 )

ap_20110704011510372.jpg

Tên anh Đỗ Xuân Dậu (con trai ông Dậu Mõ) ở số thứ tự 13 (Ảnh: Bạch Dương)

ap_20110704011432251.jpg

Danh sách tên các anh LS được khắc đá trang trọng (Ảnh: Bạch Dương)

Nhận được tin buồn này tôi không sao cầm được nước mắt. Re còm gửi cháu mà dòng chữ cứ nhạt nhoà!

“Nghe tin cháu tả cảnh anh Quy, em anh Dậu như vậy, làm chú thực sự sốc! Năm 2006 chú về phép thì không thấy ai nhắc tới anh Quy sống như thế nào. Nên thực sự chú cũng không hay biết tý gì về hoàn cảnh của anh ấy! Nay nhân việc tình cờ thấy tên anh Dậu ở trên tấm bảng tạc trên đá cẩm thạch ở NTLSTS thì chú mới nhớ tới ông bà Dậu. Xưa chú cũng đã từng đi làm (đội 3 HTX nông nghiệp) với bà Dậu (người nhỏ nhắn hơn bà nội cháu một chút!). Ông Dậu thì lúc đó đã đau yếu nên không còn tham gia xã viên HTX nữa. Chú vẫn nhớ ông Dậu dáng cao cao. (Anh Dậu cao giống bố còn anh Quy thì thấp giống mẹ).

Thiết nghĩ đó cũng là một gia đình bất hạnh ở cả chế độ cũ lẫn chế độ mới!

Lại nhớ tới bài thơ Lão đầy tớ của Tố Hữu. Nếu lão (đầy tớ nguyên mẫu) đó còn sống tới chế độ “… thiên đường của các con tôi” (Tố Hữu) thì chắc gì đã khá hơn gia đình ông bà Dậu? Một gia đình liệt sỹ được tổ quốc ghi công.

Nhân lễ Vu Lan, tối nay đúng 14.07.Âm lịch, chú sẽ nấu nồi cháo hoa và xin thắp (vọng) nén tâm nhang từ bên này vậy! Cầu cho anh Quy và cả gia đình 4 người (ông bà, anh Dậu và anh Quy) cũng như bao vong hồn cô quạnh ở quê nhà được sống an nhàn nơi chín suối!

Rất cám ơn những thông tin của cháu!

(gocomay 01:33 14-08-2011)

P1060627.JPG

Mâm cúng cô hồn đêm 14.07 âm lịch (13.08.2011) tại tư gia của Gocomay ở BRD

Để mọi người rõ hơn sự việc tôi chỉ xin sơ lược tóm tắt thế này: Ở xóm Rộc làng tôi xưa, có một gia đình làm nghề Mõ. Ông có vợ và hai người con trai. Tên người con lớn là Dậu, người con thứ là Quy. Làng tôi có tục gọi tên con thay cho tên chính nên rất ít người biết tên thật của ông, cứ gọi ông Dậu Mõ (để phân biệt với một ông khác trùng tên ở trong làng là ông Dậu Huyên) là ai cũng biết thân thế nghề nghiệp của ông.

Năm lên 4 tuổi, trong một ngày hè ra bờ kênh ven làng phía Đông chơi cùng lũ trẻ, lúc lò dò qua cầu tôi bị chùm lá cây móc (họ cây dừa) xoà ra che kín một đoạn cầu (là cây gỗ lớn bắc qua kênh) khiến tôi bước hụt tùm xuống dòng kênh sâu. Trong cơn nguy hiểm, tôi được ông Dậu Mõ trông thấy và nhảy xuống cứu. Chuyện đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Tôi cũng quên khuấy lâu rồi. Nay thấy tên người con lớn của ông Dậu Mõ là liệt sỹ Đỗ Xuân Dậu, được khắc trên tấm đá cẩm thạch lớn ở NTLSTS (Quảng Trị) tôi mới nhớ tới bố anh, người ân nhân đã cứu mạng năm xưa. Tự dưng cảm thấy như có lỗi vì sự vô tâm của mình.

Anh Đỗ Xuân Dậu dáng cao cao hiền hậu. Anh thường làm trâu lá đa cho lũ trẻ trong xóm. Chiến tranh ập tới, anh cùng bao trai tráng trẻ khoẻ trong làng lên đường nhập ngũ. Rồi không thấy trở về nữa. Em trai anh nhỏ thó hơn. Cũng hiền lành và chả thấy cãi co hay làm mất lòng ai bao giờ. Có một dạo nghe nói anh Quy có đi thoát ly đi làm công nhân quốc phòng ở đâu đó. Sau đó yếu sức khoẻ và về sống âm thầm ở làng. Cả hai anh em Dậu và Quy có lẽ chưa bao giờ có một mảnh tình (?) Hay cũng có yêu vụng nhớ thầm ai đó mà không được đền đáp? Chẳng ai có thể kiểm chứng được. Khi cả hai đều đã trở về cát bụi. Người anh, Đỗ Xuân Dậu thì có bảng vàng bia đá ghi tên. Nơi nghiã trang vẫn có người hương khói. Nhưng ông bà Dậu, sau khi anh Quy khuất núi ai sẽ thắp hương cho họ? 

Với cái tin quê hương lên phố lên phường. Lại ở giữa thủ đô trái tim của cả nước như vậy mà lại để hậu duệ duy nhất còn lại của một gia đình được “Tổ quốc ghi công” như gia đình ông (Dậu Mõ) có cái kết cục bi thảm (“nằm ở sân, mất trong tư thế đang dãy dụa, trên người có mỗi cái quần cộc. Và rồi không phát tang, ngay tối hôm đó chú ra đi trong sự im lặng và sợ hãi của mọi người.”) như vậy thì trong lòng tôi lại nổi sóng. Nhìn đám mây cuộn trên bầu trời vụt nắng chiều hôm qua, tôi lại muốn gửi tâm sự xót xa của mình… theo mây gió bay về nơi cố hương tưởng nhớ người thiên cổ.

P1060606.JPG

… trời đang rỉ rả mưa sướt mướt chiều qua lại hửng nắng, mây cuồn cuộn hùng tráng vô cùng

Chế độ mới về, ai cũng nghĩ sẽ giải phóng cho những người như ông Dậu Mõ không còn phải chịu thân phận hèn kém để mọi người phải khinh như xưa. Sao không thấy những người như ông ấy vui? Ông đã được chế độ mới chia ruộng chia nhà chia sân (từ gia sản của những gia đình bị qui địa chủ trong xóm, trong làng). Gia đình ông từ kiếp mạt hạng (Mõ làng) tứ cố vô sản. Nay trở thành xã viên của HTX nông nghiệp. Đi họp được ngồi ngang hàng với mọi người. Mỗi khi có liên hoan tổ đội sản xuất vợ chồng con cái ông cũng được ngồi chung mâm bình đẳng, chẳng kém ai. Sao gia đình ông vẫn không thấy khấm khá lên? 

Cứ tưởng thời xưa cái nghề mạt hạng, nghề “Thằng Mõ” như ông thì tột cùng bất hạnh. Nhưng mấy ai đã thấu hết được nỗi buồn của những người như ông khi không còn “Việc Làng” thì cái nghề gõ, rao, trải chiếu và tài làm cỗ tuyệt hảo của những người như ông đâu còn đất để dụng võ nữa? Có phải ai cũng có thể chặt và chia thịt và đầu gà, chia xôi ra hàng chục hàng trăm xuất theo định mức cỗ lớn cỗ nhỏ bởi sự tài khéo nơi bàn tay ông để không để ai phải lườm nguýt tỵ hiềm? 

Cứ tưởng những người như ông sẽ được đổi đời. Được thăng hoa. Nhưng trên thực tế chắc gì đã được sống vui sống khoẻ như thuở nào? Thời vang bóng, nghề Thằng Mõ như ông Dậu cũng đâu có đến nỗi nào. Khi vua biết mặt chúa biết tên như thế này!

“Mõ này cả tiếng lại dài hơi,

Mẫn cán ra tay chẳng phải chơi.

Mộc đạc vang lừng trong bốn cõi,

Kim thanh rền rĩ khắp đòi nơi.

Trẻ già chốn chốn đều nghe lệnh,

Làng nước ai ai phải cứ lời.

Trên dưới quyền hành tay cắt đặt,

Một mình một chiếu thảnh thơi ngồi.”

(Lê Thánh Tông 1442 – 1497 – wikipedia.org)

Nay thay nén tâm nhang xin gửi tới cả gia đình ông Dậu Mõ cùng toàn thể những vong linh kém may mắn bài Văn tế bất hủ của đại thi hào Nguyễn Du! Cầu mong cho hương linh của qúi vị sớm được siêu sinh nơi cõi Phật!

Gocomay

* * *

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

Nguyễn Du

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh…
Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người
Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…

Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gámh non sông
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!
Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.
Đau đớn nhẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.

Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo một đêm một dài.
Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
Ngàn vàn khôn đổi được mình
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh?
Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
Phơi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Ruột rà không kẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy
Dẫn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.
Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.
Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ
Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”

Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.

Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài

_____________________________

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: