499-Tưởng nhớ “Người thợ cày trên cánh đồng chữ”

Phan_Khoi-buc_chan_dung_cuoi_cung_chup_nam_1958.jpg

Cụ Phan Khôi (1887-1959)

Vù một cái, ngày mai là ngày giỗ thứ 51 của cụ Phan Khôi rồi. Theo tài liệu trích ngang (ở trên mạng) thì cụ là cháu ngoại của Tổng đốc Hoàng Diệu, một nhà Nho duy tân, một nhà Tây học uyên bác, một nhà văn hóa biết hội nhập, một “người phu chữ” thích làm giàu tiếng Việt, một người suốt đời đi tìm sự thật, thích tranh luận nhưng biết phục thiện.

Không phải ngẫu nhiên mà giới nghiên cứu hiện đại ở VN đều coi cụ như người khởi xướng phong trào thơ mới ở Việt Nam với bài TÌNH GIÀ (1), lần đầu tiên được đăng trên tờ Phụ Nữ Tân Văn số 122, phát hành tại Sài Gòn ngày 10-3-1932.

Là nhà báo tài năng, cụ tích cực áp dụng tư tưởng duy lý phương Tây, phê phán một cách hài hước thói hư tật xấu của quan lại phong kiến và thực dân Pháp. Cụ còn nổi tiếng vì sự trực ngôn, trước 1945 được mệnh danh là Ngự sử văn đàn. Cụ phê phán chính sách cai trị của người Pháp một cách thẳng thừng, đối thoại với học giới từ Bắc đến Nam không e dè kiêng nể.

Sau Cách mạng tháng 8-1945, cụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời từ Quảng Nam ra Hà Nội tham gia kháng chiến với cương vị một nhà văn hoá.

Sinh bất phùng thời trong một thời vận nước nhố nhăng, lại trải qua nhiều năm đi theo kháng chiến cứu nước, con người cụ Phan vừa mang chân dung của một viên chức cần mẫn, khiêm tốn, lấy chữ nghiã làm kế sinh nhai, vừa tiềm ẩn nét uy dũng của một kẻ sĩ khí tiết, nghèo không than, bại không nản, bị coi thường không giận, bị xử oan không oán, bị chèn ép không bi phẫn, sống an nhiên tự tại, quyết không khuất phục uy quyền, không đầu hàng trước cái ác, không về phe cái xấu, không thích chốn quan trường, chẳng bon chen nơi thị tứ, mà chỉ đem sở trường, sở học chăm làm cái gì đó làm di sản cho lớp hậu sinh. (Đoạn này mượn nhời của tác giả Xuân Đỗ – đã đăng trên Talawas).

“Lên bảy mươi rồi mẹ nó ơi!
 Thọ ta, ta chúc nọ phiền ai.”

Cụ Phan Khôi không đăng báo bài thơ này, nhưng lại đến tai nhà văn Nguyễn Công Hoan. Nguyễn Công Hoan, lúc đó đang là thành viên tích cực đả phá nhóm Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP), liền làm bài thơ họa lại rất thô tục khiến tai tiếng để đời:

“Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi!
Thọ mi, mi chúc, chớ hòng ai.
Văn chương đù mẹ thằng cha bạc!
Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài.
Lô-dích, trước cam làm kiếp chó,
Nhân Văn nay lại hít gì voi.
Sống dai thêm tuổi cho thêm nhục,
Thêm nhục cơm trời chẳng thấy gai.”

Từ tai ương bất đắc đó, cuối đời cụ Phan Khôi phải chịu cảnh sống cô đơn vì buồn chẳng phải chỉ có o ép, mà còn không được viết, không được tranh luận (“cãi”). Đàn em cùng chí hướng tứ tán, tù tội, bạn bè bạn văn xa lánh sợ liên lụy. Chỉ còn mỗi người vợ già một đời gắn bó, chăm lo cho chồng. Già yếu, cô đơn và bệnh tật, Phan Khôi từ trần lúc 11 giờ sáng ngày 16-1-1959 (8-12 năm mậu tuất), tại số 73, phố Thuốc Bắc, Hà Nội trong cảnh thanh bần của một nhà nho thanh bạch, tiết tháo, không khuất phục bạo quyền. Suốt đời, ông sống đúng theo câu châm ngôn của Mạnh Tử: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.”. Trong đám tang đưa cụ tới nghĩa địa, không có ai thân thích ngoài bà vợ già – Bà Tú Khôi là người thân duy nhất đi sau linh cữu tiễn cụ trong một ngày buồn trên đường phố Hà Nội với số người tham dự chưa quá mười, kể cả phu đòn (theo báo Văn nghệ thuật lại thời mở cửa). Còn nhà văn Tô Hoài, trong hồi ký của mình thì mô tả ngay cả người con trai đang làm cán bộ to của đảng cũng sợ liên luỵ mà không dám tới chịu tang bố,… còn đóng giả làm người dưng dắt xe đạp đứng trên lề đường nhìn theo…

Phan_Khoi.jpg

Phan Khôi tại lễ kỷ niệm Lỗ Tấn ở Bắc Kinh-1956

Không phải ngẫu nhiên mà cách đây hơn 3 năm nhân ngày sinh thứ 120 của Phan Khôi mà một cuộc toạ đàm về cụ được Tạp chí Xưa và Nay – Hội khoa học Lịch sử Việt Nam long trọng tổ chức ở Hà Nội. Loạt sách Phan Khôi -Tác phẩm đăng báo do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân công phu sưu tầm cũng được xuất bản những tập đầu… khiến nhiều độc giả lớp hậu sinh ngỡ ngàng.

Không ngỡ ngàng sao được trong những năm kháng chiến tại núi rừng Việt Bắc, dù trong các điều kiện kham khổ, thiếu thốn, cho dù cụ tâm sự “Kháng chiến thấy thừa ta” (2)… Nhưng cụ vẫn miệt mài làm công tác nghiên cứu về ngữ học Việt Nam để hoành thành tác phẩm cuối cùng là quyển Việt ngữ nghiên cứu kịp ra đời khi đất nước hoà bình. Nhiều nhà nghiên cứu gọi cụ là “thợ cày trên cánh đồng chữ”, chính là sự suy tôn cao nhất sự nghiệp của nhà văn hoá đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng góp phần không nhỏ trong sự nghiệp xây dựng và làm giàu ngôn ngữ Việt Nam. Sinh thời cụ Phan Khôi học giỏi Nho văn và đỗ Tú Tài chữ Hán từ năm 19 tuổi. Dù từng bước theo chân bậc đàn anh Phan Châu Trinh, một chí sỹ Duy tân nổi tiếng đồng hương. Nhưng các nhà nghiên cứu đều đánh giá cụ Phan Khôi không hề bị ràng buộc bởi bất cứ hệ phái tư tưởng hay giáo điều cực đoan. Trên hết cụ chỉ kính lẽ phải, chỉ tôn thờ và chịu trách nhiệm với lẽ phải của tạo vật đất trời!

Để hiểu được toàn bộ con người và trước tác đồ sộ của cụ Phan Khôi, lớp hậu sinh cần theo chân các nhà nghiên cứu đi trước để tiếp tục hoàn thiện dần lên! Đó không chỉ đơn thuần là sự tri ân với một nhà văn hoá. Mà còn là sự trân trọng với vốn ngôn ngữ dân tộc và tiết tháo của một thế hệ tiền bối một đi không trở lại trong lịch sử hiện đại ở nước ta!

Gocomay

____

(1) Bài Tình Già:

“Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở.
“Ôi đôi ta tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng.
Để đến rồi tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”
Hay! Nói mới bạc làm sao chớ!
Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau,
Tình cơ nơi đất khách gặp nhau!
Đôi mái đầu bạc.
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi.
Liếc đưa nhau đi rồi!
Con mắt còn có đuôi.”

(2) Bài Cắt tóc:

“… Tuổi già thêm bệnh họan,
Kháng chiến thấy thừa ta,
Mối sầu như tóc bạc,
Cứ cắt lại dài ra…” 

______

P/S:

Ông Bình Vôi

      Phan Khôi

Khắp nước Việt Nam có tục ăn trầu, cho nên ở đâu cũng có bình vôi.

Theo như tôi biết, ở vùng quê chúng tôi, có hai thứ bình vôi. Đều bằng đất nung cả, mà một thứ giống như cái hũ nhỏ, duy cổ eo, miệng loa, cho nhà trung thường dùng; một thứ bình tròn mà đít bằng, trên có quai xách, miệng ở về một bên, toàn thân tô màu lục hoặc màu vàng, cho nhà sang dùng. Cả hai đều để đựng vôi trong lòng nó. Nhưng mỗi khi cho vôi vào, người ta lại cũng dùng vôi đắp cái miệng nó cho cao lên.

Nhà tôi, hồi bà nội tôi còn sống; có cái bình vôi hạng sang ấy. Mỗi khi mua vôi ở chợ về, bà tôi ngồi tỉ mỉ lấy cái chìa quệt vôi nhét vào miệng nó, gọi là “cho Ông Bình ăn”. Và lâu lâu lại tắp thêm cái miệng nó một lần, hóa nên cái miệng càng ngày càng chêu vêu ra.

Thứ bình vôi thường, dùng chìa bằng tre, những thứ bình vôi sang, bao giờ cũng dùng chìa bằng sắt, ở thân cái chìa đôi khi lại có đeo một lưỡi dao để rọc trầu.

Nhà khác thế nào tôi không biết, còn nhà tôi, tối lại, bà tôi cứ rút cái chìa ra để ra một nơi khác. Làm như thế, bà tôi cắt nghĩa rằng “Ông” sẽ mách cho mình, mà nếu để cái chìa lấp cái miệng thì không mách được.

Tôi nói, “nhà tôi có một cái bình vôi” không đúng. Nói đúng là từ hồi nhỏ cho đến năm tôi hai mươi lăm tuổi, bà tôi chết, nhà tôi có ba bình vôi kế vị nhau. Bởi vì dùng lâu ngày, trong lòng nó đầy vôi khô cứng, miệng nó cứ đắp nên tum húm lại, không dùng được nữa, phải mua cái khác.

Lúc đó nhà tôi có một cái trang thờ Tam vị; ở giữa là Phúc đức chính thần, hai bên là Thổ công và Táo công. Hễ cái bình vôi nào bị thải ra thì bà tôi bảo đem đặt trên cái trang ấy, thờ nhân thể.

Sự thờ phượng như thế, không phải chỉ riêng một nhà tôi đâu. Cả làng, nhà nào có bình vôi thải ra, cũng đều đem đặt trên các tường thành đình hoặc chùa; như thế, người ta cho rằng thờ “Ông Bình” đó.

Cái bình vôi, tại sao lại gọi bằng “Ông”? Đọc từ đầu đến đây, bạn đọc đã biết. Ở vùng quê chúng tôi, mà có lẽ cả nước Việt Nam cũng vậy, vật gì nó có thể hại mình được thì gọi bằng “ông”, vật gì nó to hay sống lâu năm thì cũng gọi bằng “ông”.

Con cọp ăn thịt mình được, gọi bằng “Ông cọp”, con khỉ phá hoa màu mình được, gọi bằng “Ông trưởng”, con chuột, cắn quần áo của mình được, gọi bằng “Ông tí”. Cái đầu rau, dùng năm mười năm mới thay cái khác, gọi bằng “Ông núc”, cái che, đường kính của nó có khi gần đến một mét, gọi bằng “Ông che”. Người Việt Nam về sau thế nào chưa biết, chứ về trước, hễ vật gì làm hại được hoặc lớn hơn, hoặc nhỏ, vật gì sống lâu và to xác thì gọi bằng “Ông” để tỏ lòng tôn kính, sùng bái.

Tôi có phạm một cái tội hồi mười tám tuổi, bây giờ tôi xin kiểm thảo và thú nhận.

Năm tôi mười tám tuổi, tôi không tin nữa. Một đêm mùa hè, gió Nam như bão, sáng trăng mờ mờ, tôi rủ mấy thằng bạn cùng lứa tuổi với tôi đi chơi dọc đường cái làng, đi qua đình và chùa, bao nhiêu “Ông bình vôi” thờ trên tường thành chúng tôi đều hất một loạt xuống đất cả. Sao lại làm như thế? Chúng tôi cứ làm như thế, không cần có lý luận. Nhưng, vài hôm sau, trở lại xem, không biết là do tay ai, thấy đều đặt lại tề chỉnh trên tường thành.

Tuy vậy, đó không phải cái tội riêng một mình tôi. Bấy giờ bọn thiếu niên chúng tôi hầu như đứa nào cũng có thể làm như thế được cả. Nếu ngày tôi phải tự kiểm thảo, thì lũ thiếu niên ấy, bạc đầu rồi, cũng phải tự kiểm thảo như tôi.

Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng, miệng nó bít lại, ngồi cú rũ trên trang hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà gọi bằng “Ông”.

Tôi viết cái bài khảo cứu nhỏ nầy cốt để cắt nghĩa mấy câu thơ của Lê Đạt:

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại.

Phan Khôi
(Trích Giai phẩm mùa Thu, tập I) 

_______________________

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: