483 – Dạ tiệc quỷ – chương 8: Gầm bàn thờ

daohaitrieu_niemtin.jpg

Tranh: Đào Hải Triều

Dạ tiệc quỷ – chương 8: Gầm bàn thờ

hao.jpg Võ Thị Hảo

Chiếc ô tô Mercedes màu đen, biển số xanh trờ tới, ghé êm ru trước thềm nhà.

Bà Cả đưa hai tay che mắt kèm nhèm nhìn ra.
Bỗng bà giật thót người, quay vào quơ vội mấy cái áo quần vứt lơ vơ trên phản, giấu dưới mặt chiếu, trở mặt vào trong quát:

– Thằng Tám! Xuống ngay chỗ cối giã, ngồi vào xó của mày. Ngồi đâu chết dí đấy! Cấm chỉ mày bộn mảng ra nhà ngoài. Bố mày mang khách về đấy!

Đó là một thằng bé màu vàng nghệ, cao bằng cái kiềng tre trong xó bếp, mắt không lông mi, tròn xoe không chớp, khó đoán biết được nó có nhìn thấy gì hay không. Bốn cái tai mỏng dính, loe ra như bốn cái mộc nhĩ đeo rất sinh động gần má, biết vẫy như tai chó. Cái chân thứ ba thòng xuống chạm đất, nhỏ bằng ngón tay cái, tựa cái đuôi trọc lông nhưng lại kết thúc bằng một chiếc móng guốc. Hễ nó di chuyển một bước thì cái đuôi lại chống xuống đất một nhát nghe cộc một tiếng như móng ngựa.

Nghe tiếng nói của bà Cả, thằng Tám liền cười hềnh hệch. Nó leo tót lên xà nhà. Cái đuôi có móng guốc quấn vào những thanh xà bằng gỗ xoan rồi chốt lại chắc chắn như cái đinh vít. Nó ngồi trên xà nhà, đung đưa hai tay và hai chân còn lại, nhìn bà Cả một cách thách thức.

Tốp người mặc complet đen đắt tiền bước qua hàng rào râm bụt phía ngoài cổng. Đi sau là một người mặc bộ quần áo nâu, chân dép lốp.

Bà Cả hoảng hốt chạy đi lấy cái câu liêm dựng trong góc nhà, chọc lên chỗ thằng Tám đang leo. Chọc chỗ này nó nhẩy vút ra chỗ khác. Bà Cả nhướn đôi mắt kèm nhèm lông quặm lên theo dõi thằng con ba chân cứ leo trèo vun vút, đu từ đòn tay này sang đòn tay khác, mồm nhọn hoắt hết nhệch sang bên phải lại sang bên trái theo nhịp tay. Bà mỏi rã rời vẫn không thể chọc trúng thằng con ngỗ ngược.

Tiếng chân đã gần đến thềm. Bà Cả càng hoảng hốt, vứt cây sào nhìn lên, chắp hai tay khóc mếu ngước nhìn thằng Tám:

– Tao lạy mày! Mày xuống cho tao nhờ! Cái thằng oan gia oan nghiệt kia! Bố mày nhiều lần suýt giết mày rồi đấy! Mày còn chưa tởn à, của nợ kia. Tao lạy lục mãi, bố mày mới để mày đến bây giờ đấy con ạ. Xuống ngay! Mẹ giấu mày vào ổ, rồi chốc bố mày đi, mẹ cho ăn bỏng nếp.

Thằng bé liền cười lên sằng sặc, nhảy vút từ trên xà nhà xuống tay bà Cả. Bà lật đật bế thốc thằng Tám chạy xuống chái nhà, giấu nó vào sau cối xay và cối giã gạo, trong cái ổ lót chăn bông của nó, dài vừa bằng một cái dậm xúc tép và có cạp tròn như một cái thuyền thúng.

Bà rủa:

– Ngồi đây! Thằng chó con! Mày mà ra ngoài đó, bố mày biết lại đánh tuốt xác cả mẹ lẫn con!

Bà cẩn thận tròng cái dây xích vào cổ chân thằng bé, đặt vào dậm cho nó mấy quả khế rồi đi lên nhà.

Bà chỉ kịp vấn lại tóc, thay chiếc áo lụa đã rung rúc bằng chiếc áo gấm hoa đỏ treo trong buồng, chỉ mặc mỗi khi có khách ở tỉnh ở huyện về thăm. Bà có tới năm chiếc áo gấm mới may, từ hồi ông Dậm lên làm cán bộ lãnh đạo trên tỉnh. Nhưng bà tiếc của, nhớ lại những ngày khố rách áo ôm buộc vạt váy thành một nùi trước bụng, theo chồng đi đánh dậm, nên nhiều lần cứ mặc vào, lại tấm tắc ngắm nhìn, lại cởi ra, treo lên mắc. Bà nói với thằng Tư:

– Thế này là đẹp lắm rồi. Còn đẹp hơn cả áo con mụ Cử thời Cải cách…

Ông Dậm bước vào nhà.

Quần áo bà ba nâu, guốc mộc, phong thái ung dung đủng đỉnh, trông ông Dậm bây giờ thật là hiền lành đức độ, khác hẳn với ngày xưa, hễ mở mồm ra là chửi bới hàng xóm, nhiều lần trói vợ ngoài gốc cau và hơi chút là đá đít tạt tai con cái, thậm chí còn dùng gạch đập đầu chúng chảy máu luễ loã.

Ông Dậm bây giờ là một người không tuổi. Tất cả những gian giảo thâm hiểm của ông nếu trước đây lồ lộ trên mặt, thì nay, sau rất nhiều dụng công tập tành lại chịu khó học bình dân học vụ, đã lùi vào ẩn sâu dưới đáy mắt.

Chỉ thỉnh thoảng, từ đáy mắt, một tia độc ác lại trồi lên, thè ra khỏi mắt như nọc độc trên lưỡi rắn, loé chớp vào người đối diện, rồi lại ẩn đi ngay. Khi kẻ đối diện giật mình trước chớp loé đó mà nhìn lại, thì đã thấy một ánh mắt hiền từ, một nụ cười bao dung và một phong thái khoan thai.

Bà Dậm lật đật ra đón khách.
Ông Dậm âu yếm nhìn bà Dậm, cười hiền từ:

– Nhà đấy à? Tôi bận việc nước. Lâu không gặp, nhà vẫn khoẻ đấy chứ?

Bà Dậm lúng túng không biết đáp lời ra sao, co rúm lại như con nhái bén trước con rắn, luống cuống đưa hai tay dâng khay nước:

– Lạy các ông, mời các ông xơi nước ạ!

Ông Dậm cau mặt, nhưng vẫn cười khà khà:

– Đấy, nhà tôi được cái cứ giữ nếp chân quê, bao nhiêu năm rồi vẫn cứ thói quen khiêm tốn như thế với các đồng chí của chồng. Này nhà ơi! Tôi đã dặn nhà bao lần rồi! Đó là các đồng chí cấp dưới thân thiết của tôi. Khăng khít môi hở răng lạnh. Cứ bình đẳng mà xưng hô thôi, bà cứ làm như thời phong kiến.

Đám tùy tùng của ông Dậm cười nói rộn ràng. Anh chàng trợ lý kín đáo khuân một bọc quà lớn đặt vào tay bà Cả, thầm nhủ rằng bọc này thì lớn, nhưng bất quá cũng chỉ vài cân kẹo bánh hoa quả và ít tiền. Cái bọc quà mà ông Dậm vẫn nhận hàng tháng, nhất là vào dịp cuối năm thì nhỏ, nhưng lại có thể mua được cả triệu bọc quà này và ông Dậm giấu chúng nhanh như chớp vào những chỗ chỉ có trời biết.

Vẫn ngôi nhà của ông bà Cử xưa. Dù qua bao thăng trầm, vẫn phảng phất không khí thâm u huyền hoặc.

Nhìn bề ngoài, ông Dậm trông khoan thai và oai phong, nhưng hễ vừa bước chân lên nhà, là ông mất ngay vẻ tự tin đắc chí. Trông ông lại như người đến làm công hoặc kẻ hầu người hạ chủ nhà, dù ngôi nhà hiện đã bị thay đổi rất nhiều về cách bày biện đồ đạc.

Những hòn non bộ sơn thuỷ hữu tình giờ khô cạn nước nằm chỏng chơ. Những luống hoa hồng, những khóm hải đường và mộc lan thơm ngát ngày nào, nay đã bị đốn đi và trồng thế vào những luống cà và rau dền. Cỏ gà, cỏ gấu và rau cỏ mực mọc tràn lan. Đám chậu cảnh men lam, được ghi rõ niên hiệu đời Tống thì được hàn xi măng ở lỗ thoát nước dưới đáy chậu làm chỗ trữ nước tiểu hoặc ủ phân.

Cả đám tuỳ tùng của ông Dậm ngồi uống trà một lúc, rồi biết ý vờ ra ngoài cổng ngắm đồng ruộng, ngắm khu phố, kéo nhau sang nhà hàng của đám con ông Dậm để đặt tiệc trước, đương nhiên là do công quỹ chi trả. Họ cố vắt óc nghĩ ra những món thật đắt tiền. Được đi cùng thủ trưởng là một dịp may để tỏ lòng trung thành, phải đến nhà hàng của con thủ trưởng để đặt những bữa tiệc lớn. Sơ suất mà quên không đặt tiệc là sớm muộn cũng có chuyện.

Họ cũng biết, dù là bố con thật đấy nhưng trong số tiền lãi do kinh doanh nhà hàng mà con ông Dậm thu được, đứa con gái ông phải ghi lại thật rành mạch và chi cho bố một phần lớn. Hàng tháng, cô con gái vẫn phải đi lên tỉnh để chuyển số tiền này cho bố, không được phép chậm trễ.

Đám khách đi rồi, ông Dậm bước vào gian nhà thờ.

Nền gạch hoa quý phái trước đây đã bị bóc đi một khoảng bằng chiếc chiếu, thay bằng đất nện. Bàn thờ nhà ông Cử đã bị phá tan, Bài vị đốt làm củi. Gỗ sơn son đem làm chuồng lợn, hoặc thả trôi sông sau khi mẹ trẻ Phượng thắt cổ chết. Thay vào đó là bàn thờ nhà ông Dậm.

Không bài vị. Chỉ có một lư hương. Trên bàn thờ độc một câu khẩu hiệu đỏ rực, căng ngang phủ một lớp bụi dày:

– Kiên quyết giữ vững lập trường cách mạng. Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ.

Bàn thờ này ông Dậm đã nhiều lần phô ra cho nhiều đám khách ở huyện, tỉnh xem để tính điểm lập trường. Câu khẩu hiệu này đã từng làm rạng danh ông, giúp ông thăng tiến trên bước đường hoạn lộ.

Bây giờ thì thời thế đã đổi khác.

Sau ba lần làm lại lý lịch và giấy khai sinh, ông Dậm từ chỗ trình độ văn hoá chỉ lớp bảy bình dân học vụ, đã có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học loại trung bình, rồi có bằng đại học Luật hệ chính quy loại khá, mua với giá chỉ ngang một con trâu.

Tuổi cũng vậy, sau ba lần khai lại tuổi, ông Dậm trẻ đi chừng mười lăm tuổi. May mắn là trước đây bố mẹ ông đi đánh dậm, đẻ ông ngoài hốc cây, túp lều bên sông, không ai để ý, không có giấy khai sinh gốc, mà người làng cũng không ai để ý biết ông bao nhiêu tuổi, nên những lần làm lại giấy khai sinh lộ liễu, không bị ai phát hiện. Cái anh văn thư tình cờ phát hiện ông Dậm khai man tuổi đã trót lỡ lời thì đã bị ông đầy đi B và đã mất tích từ bao nhiêu năm nay.

Ông Dậm bỏ guốc ra, bước vào mảnh đất nện bằng chiếc chiếu giữa nền gạch hoa.
Mười ngón chân của ông như mười con đỉa trâu to bự bám vào nền đất nện.

Đôi ngón chân cái ông choãi ra, bám chặt lấy nền đất.
Ông cảm thấy một luồng mát rượi chạy suốt từ gan bàn chân, mát lên tận óc.
Tôn giáo của ông là đất.

Cứ mỗi khi mệt mỏi, cảm thấy có nhiều điều lo lắng, ông Dậm lại trở về cái bàn thờ này, mảnh đất nện bằng chiếc chiếu này và ông nhớ lại những ngày ông đi chân đất lội ruộng.

Ông nhớ lại những cực nhục ngày xưa, bụng đói mắt mờ, trời rét căm căm dầm mình đánh dậm, bị người đời khinh miệt vì bán tép đong gian cho người ta.

Mảnh đất này nhắc ông nhớ lại những ngày đó. Và ông lập tức lấy lại được nghị lực, chí kiên cường. Đi ra ngoài, dù có thế nào, vẫn không cực nhục bằng cái thời ông còn đánh dậm ở mảnh đất này.

Ông Dậm nằm úp sấp xuống, đưa lưỡi liếm vào đất, miệng lẩm nhẩm vài lời khấn.
Bỗng ông Dậm nghe một tràng cười khành khạch từ trên cao.
Ông giật mình nhìn lên, đã thấy thằng Tám đang đu ngất ngưởng trên xà nhà. Ba cái chân cùng vẫy chào ông, nước da màu vàng nghệ càng vàng ệch dưới ánh tranh tối tranh sáng của gian nhà thờ.

– Cha cha!

Thằng Tám gọi, đôi mắt không con ngươi, to tròn không lông mi nhìn ông không chớp.

Ông Dậm tức tối đứng dậy. Đôi mắt ông vằn tia máu:

– Con mụ ngu xuẩn kia! Tao đã bảo bao nhiêu lần rồi mà vẫn cứ khu khư giữ cái thằng oan gia này trong nhà à?

Bà Cả lật đật chạy lên:

– Ơ kìa, trước lúc ông về, tôi đã xích nó vào trong xó của nó rồi mà, đâu dám để phiền đến ông!
– Mày là cái thằng quái thai, thằng oan gia. Mày ám quẻ tao cả đời!
– Cha cha!

Thằng Tám vẫn cười, nhìn ông không chớp.

Ông Dậm điên tiết vớ lấy cái câu liêm, dùng hết sức của đôi cánh tay vạm vỡ chọc lấy chọc để lên xà nhà để truy đuổi thằng Tám. Ông hùng hổ chọc cho kỳ trúng thằng bé.

Thằng bé lúc đầu còn chuyền đi chuyền lại từ đòn tay này sang đòn tay khác, chạy quanh trên nóc nhà. Ông Dậm càng điên tiết.

Ông gằn giọng:

– Lần này, tao sẽ cho mày chết luôn! Mày làm tao cứ nhớ đến con mẹ trẻ Phượng và những đứa thắt cổ ở nhà này. Đêm nào tao cũng cứ thấy chúng đung đưa trên đầu dây thòng lọng. Đích thị là nòi oan gia nhà mày!

Bà Cả ngạc nhiên, van vỉ:

– Kìa ông! Doạ cho con nó sợ thôi, đừng chọc nhiều thế làm nó đau! Giọt máu của ông mà!

Ông Dậm quay sang tát vào mặt bà Cả:

– Chỉ tại mày! Trăm sự chỉ tại mày. Lúc nào cũng như trái cau điếc. Sinh ra một lũ oan gia! Hôm nay tao phải đập chết thằng này.

Cơn điên của ông Dậm càng nổi lên. Ông không chọc nữa, ông dùng câu liêm lia ngang lia dọc trên xà nhà.

Giờ thì thằng Tám không thể chạy nổi nữa.

Thân mình nó rớt máu ròng ròng vì lưỡi câu liêm sắc lẻm va phải. Nó cố đu bám xà nhà một chốc, nhưng rồi yếu sức dần dà, cái chân thứ ba rã rời, buông ra. Thằng Tám rớt bộp ngay xuống chân ông Dậm.

Ông Dậm tóm lấy nó, giơ cao lên như giơ một con mèo, đập thằng bé xuống chân bàn thờ.

Bà Cả rú lên một tiếng.
Thằng Tám giẫy dụa vài cái, miệng thều thào:

– Cha cha!…

Rồi thở hắt ra. Nó nằm im lìm trên mặt đất, sau một cái giẫy mạnh.
Máu thằng Tám chảy ướt cả mặt đất nện trước bàn thờ.
Hoá ra đó là một dòng máu đặc quánh, hồng tươi, chiếu rực lên trong ánh tranh tối tranh sáng của bàn thờ.
Gian nhà thờ bỗng rạng lên như nắng chiếu vào.

– Vô… phúc…V… ô…. ô… ph… ú… c…

Một lời nguyền rủa nghe như xa lắm, thoảng như gió thổi, tạt qua, lạnh buốt gáy ông Dậm.

Ông dậm thấy lõng thõng trước mặt hai thây người đong đưa, đôi chân đi hài xinh xắn, muốt trắng thòng trước mặt ông.
Ông Dậm hớt hải dợm bỏ chạy.
Bà Cả ôm lấy xác thằng Tám, khóc không ra tiếng, nhìn ông căm hờn.

Ông Dậm quay lại.
Xử ra sao với xác thằng Tám đây?
Ngoài kia, chỉ ở bên cạnh thôi, trong nhà hàng của con Năm, cả lũ tuỳ tùng của ông đang nhốn nháo chờ ông bên đó.

Ông Dậm nghĩ ra một cách.
Ông thét gọi bà Cả lấy cái cuốc.
Ông hùng hục cuốc lấy một hố sâu chừng một mét rưỡi dưới chân bàn thờ.

Dù đã lâu ngày không đụng đến cái cuốc, nhưng ông vẫn sử dụng thành thạo với sức khoẻ phi thường. Phải làm thật nhanh. Nếu không, sẽ có người biết việc ông giết thằng con quái thai và đem tố cáo!

Ông đào xong cái hố trong vòng mười phút.

Ông vứt thằng Tám xuống hố, rắc túi vôi bột mà bà Cả vẫn đem thả xuống ruộng chống đỉa mỗi khi lội bùn bà luôn trữ sẵn ở xó cối xay. Cuối cùng, ông chèn một cái chiếu rồi một cái cối đá lên trên xác thằng bé.
Rồi lấp đất lại. ông lại chui xuống gầm sập gụ, lấy ra những viên gạch hoa đã bóc ra từ ngày trước, lát lên như cũ.

Nền nhà thờ lại phẳng phiu như chưa từng bị bóc mất mấy viên gạch. Như chưa từng có nền đất nện. Chưa từng có cái xác của thằng Tám nằm dưới lớp vôi bột, dưới một chiếc chiếu bị gập làm tư và một cái cối đá. Cuối cùng là lớp đất thấm máu hồng tươi của nó.

Bà Cả kinh hãi nhìn tất cả những việc ông chồng làm mà chết lặng, không kêu được một tiếng. Mọi việc diễn ra nhanh quá sức tưởng tượng. Chỉ trong vòng ba mươi phút. Không bằng bên nhà hàng của con Năm, người ta dọn một bữa cơm.

Thằng Tám của bà, thằng con có ba chân. Nỗi tủi nhục của gia đình bà. Ai cũng mong nó chết, trừ bà.

Vì bà đã trở nên lạc lõng trong cái thế giới lạ lùng rủng rỉnh tiền của và quyền lực của ông chồng, của những đứa con. Thằng Hai, thằng Ba giờ cũng làm cán bộ trên tỉnh. Bà là con chó giữ nhà, mỗi khi ông Dậm dẫn khách ở trung ương về để trưng ra với thiên hạ rằng ông chung thuỷ, ông dịu dàng, ông giữ nề nếp gia đình đến thế nào. Dù có bà vợ già héo quắt như quả mận khô, ông vẫn có trách nhiệm, vẫn không ruồng rẫy. Vẫn là người đạo cao đức trọng có thể đi dạy dỗ làm gương cho thiên hạ.

Chỉ có thằng Tám.

Dù nó là đứa con quái thai, bị cả nhà ghẻ lạnh. Ông Dậm đã định giết nó ngay từ khi sơ sinh. Nhưng với bà, thằng Tám là người gần gũi bà nhất.

Thằng Lình – đứa con trai cả rất thương bà, vẫn đứng ra đỡ đòn cho mẹ mỗi khi ông Dậm đánh, thì đã ôm con Miên đi biệt tích, không thấy về.

Ông Dậm bước ra chỗ bể nước, lấy xà phòng xát lấy xát để lên đôi bàn tay vấy máu, đưa mắt kín đáo nhìn quanh.

Căn nhà vẫn vắng lặng. Bên nhà hàng của con Năm vẫn huyên náo. Nhưng tất cả thực khách đều đang ở trong những căn phòng máy lạnh kín mít.

Ông Dậm yên tâm dội nước cho đôi tay thật sạch. Đôi tay chuối mắn của ông đã lại trắng trẻo hồng hào như đôi tay của một bí thư, hoàn toàn có đủ tư cách vung lên, chỉ sang phải sang trái để giảng giải và chỉ đạo.

Ông Dậm quay vào, rít giọng với bà Cả đang nằm phủ phục trên nền gạch hoa mới lát – cái mộ phẳng của thằng Tám:

– Câm mồm. Chỉ tao và mày biết việc này! Hở ra thì mày biết rồi đấy. Mày biết tao có thể làm những gì!

Rồi ông đứng dậy, quay ra gọi bà Cả, giọng hách dịch, dặn: Ai hỏi thằng Tám cứ bảo nó bỏ đi đâu không biết. Mà ai quan tâm đến một thằng quái thai!

Rồi ông Dậm khoan thai bước ra ngoài, sau khi đã đứng trước gương xem xét thật kỹ bộ quần áo nâu, mặt mũi chân tay và toàn thân, cố để ý xem có vết máu nào dây ra không.

Ông thở phào yên tâm. Máu của thằng Tám quá ít. Nó quá bé nhỏ.

Ông Dậm bước sang nhà hàng bên cạnh. Nhà của con Năm. Tất cả đều là của ông. Những dãy nhà hàng này, khách sạn này.

Ông nhớ đến số vàng và kim cương mà ông đã tích trữ được trong chiếc két chôn ngầm dưới đất, trong tầng hầm một ngôi nhà nhỏ của ông trên tỉnh.

Không biết để làm gì, thỉnh thoảng ông chỉ giở ra để ngắm.
Những thoi vàng và kim cương chói sáng. Nhiều đến mức ông không biết để làm gì.
Ngày ngày, ông xuống tầng hầm, mở chúng ra và ngắm, như một kẻ thủ dâm phải nhìn thấy một chiếc quần lót của đàn bà thì mới giải toả được cơn thèm khát.
Ông Dậm cũng vậy! Ông thủ dâm bằng vàng và kim cương.

Ông đĩnh đạc bước tới căn phòng lớn nhất, con Năm vẫn dùng để thết khách quan trọng. Không đợi cậu trợ lý mở cửa đón, ông gạt ra, với một phong thái sang cả cố hạ mình tỏ ra bình dân, vẫn trong bộ quần áo nâu, ông nói, giọng sang sảng và hóm hỉnh:

– Anh em chờ có lâu không? Bận rộn quá, lâu ngày không về, cũng phải an ủi bà ấy chút đỉnh.

Ông nháy mắt. Tất cả đám tuỳ tùng bắt được nhịp, cười rộ lên vui vẻ…

© DCVOnline
© danlambao

_______________________

482-Những bất cập của hệ thống bảo vệ công lý ở VN

Vì sao hai nữ sinh vụ hiệu trưởng mua dâm từ chối luật sư?
Từng tham dự phiên tòa xét xử “Hiệu trưởng mua dâm” vào tháng 1/2010 tại Hà Giang, luật sư Trần Đình Triển – Trưởng VP luật sư Vì Dân (Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy) nhận định về việc bị cáo Thúy lại bất ngờ từ chối luật sư bào chữa.
 >>  16 “khách VIP” bị điều tra mua dâm người chưa thành niên thoát án
 
Picture%20040.jpg 
Luật sư Trần Đình Triển. (Ảnh: T.C) 
Sau phiên tòa phúc thẩm (tháng 1/2010), trong quá trình điều tra bổ sung, 2 bị can Thúy và Hằng đã từ chối mời luật sư bào chữa. Ông nhận định thế nào về việc này?
 
Khi trả hồ sơ điều tra lại từ đầu, theo nguyện vọng của gia đình Thúy, Hằng, tôi đã làm hồ sơ và được cấp giấy chứng nhận bào chữa cho các cháu từ giai đoạn điều tra. Sau đó, một thời gian không lâu, tôi nhận được giấy mời của văn phòng cảnh sát điều tra công an tỉnh mời lên làm việc. Tại buổi làm việc đó, cơ quan điều tra đưa ra tờ giấy viết tay của Thúy, Hằng từ chối luật sư giống như ở giai đoạn sơ thẩm trước. Tôi đã đề nghị cơ quan điều tra cử điều tra viên có sự giám sát của kiểm sát viên cùng vào trại giam gặp hai cháu Thúy, Hằng để làm rõ sự việc thật khách quan  nhưng bị từ chối.
 
Trước đó, khi tôi cùng với điều tra viên vào gặp hai cháu Thúy, Hằng thì hai cháu rất phấn khởi và mong muốn được luật sư bào chữa để làm rõ sự việc. 
 
58cPicture%20066.jpg 
Phiên tòa phúc thẩm trước đó đã thu hút rất nhiều sự chú ý của dư luận. 
 
Mới đây nhất, ngày 23/12/2010, mẹ cháu Thúy về Hà Nội đề nghị tôi tiếp tục làm luật sư bào chữa cho cháu. Tôi đã làm đầy đủ hồ sơ gửi cho tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang. Mẹ cháu Thúy cho biết, chị được gặp cháu Thúy một lần và có hỏi tại sao lại ký vào giấy từ chối mời luật sư thì cháu khóc mà nói rằng: “Mẹ không biết đâu. Trong này con khổ lắm…”.
 
Xin luật sư cho biết quan điểm của mình về kết luận mới nhất của cơ quan tố tụng tỉnh Hà Giang về danh sách các “VIP” trong bản danh sách đen đều thoát tội?
 
Bản kết luận điều tra của cơ quan công an tỉnh Hà Giang và bản cáo trạng của VKS nhân dân tỉnh hà Giang lần 2 hầu như không có gì thay đổi so với kết luận cũ. Đây là điều mà tôi cũng đã đoán trước.
 
bi%20cao%20nguyen%20thuy%20hang%20truoc.jpg 
Hai bị cáo nữ tại phiên tòa phúc thẩm tháng 1/2010.  
Cụ thể là: không có bất cứ ai trong bản danh sách đen bị truy tố. Mà điều vô lí là nếu như các đối tượng ấy “không đủ căn cứ khởi tố” thì dấu hỏi đặt ra là tại sao trong cáo trạng lại đề nghị các cơ quan xem xét kỷ luật. Và nếu các đối tượng đó không phạm tội thì hai cháu Thúy, Hằng phải mắc vào tội vu khống chứ.
 
Ngoài ra, truy tố hai cháu Thúy, Hằng tội “môi giới mại dâm” là không đúng vì trong các lần đưa dẫn không bao giờ có quy định giá cả ở hai bên mà mỗi lần như vậy, các vị quan chức tự nguyện khi cho tiền, khi không cho, cho ít hoặc cho nhiều để các cháu trả tiền taxi, mua thẻ điện thoại, mua thuốc tránh thai…
 
Hơn nữa, có rất nhiều hành vi vi phạm tố tụng cấp sơ thẩm đã được làm rõ mà bản cáo trạng không nêu hoặc chỉ lấp liếm. Ví dụ như: việc ép các cháu ký vào bản khai giấy trắng, bút ký phiên tòa sơ thẩm hoàn toàn không đúng với diễn biến phiên tòa thì bản cáo trạng chỉ quy vào lỗi trình độ của người lập mà thực chất đây là sự cố ý làm sai lệch vụ án… 
Luật sư Nguyễn Văn Tú – Giám đốc Công ty luật Fanci, bào chữa bị cáo Hằng tại phiên phúc thẩm cho rằng: Quyền bào chữa của một bị cáo rất quan trọng khi một bên buộc tội và một bên có quyền ngược lại. Tôi cho rằng, nếu không có luật sư bào chữa bên cạnh thì phiên tòa sắp tới mở ra sẽ được xét xử một cách nhanh chóng. Từ khi HĐXX phúc thẩm tuyên trả hồ sơ để điều tra bổ sung, chúng tôi đã không được tiếp xúc với các em

481-Dạ tiệc quỷ – chương 7: Đứa con vàng nghệ

daohaitrieu_khungtroicuatoi.jpg

Tranh: Đào Hải Triều

Dạ tiệc quỷ – chương 7: Đứa con vàng nghệ

hao.jpg Võ Thị Hảo

… đến nỗi tượng đó nói được và giết chết những ai không chịu thờ lạy mình…
(Kinh thánh – Tân ước)

Đến hạn cúng mở cửa mả cho mẹ trẻ Phượng.

Người ta nói rằng, sau những ngày mới chết, xác chôn xuống đất, hồn phách người chết vẫn quẩn quanh lưu luyến quanh mộ, không siêu thoát được. Hồn mà quẩn quanh bên mả, là hồn bị giam cầm. Nếu không làm lễ cúng mở cửa mả, hồn sẽ khốn khổ, không về cõi khác. Mà hồn không về cõi khác thì sẽ ở lại ám quẻ người sống ốm đau tai họa.

Ông Dậm và bà Cả vẫn ăn ngon ngủ kỹ, không nhắc nhở gì đến lễ mở cửa mả.

Thằng Hai, thằng Ba nhà ông Dậm, lúc mẹ trẻ còn sống thì mê mẩn vì sắc đẹp, nay mẹ trẻ chết thì vừa tiếc vừa ngẩn ngơ sợ hãi, khoảng canh ba là cứ mơ thấy mẹ trẻ về đánh đu trên cành tre, rồi trên đầu ổ rơm, xiêm áo rực rỡ tung lên trời như đám mây hồng mây tím, để lộ thân hình nõn nà óng chuốt, đôi chân xinh xinh với những chiếc móng tái nhợt, cổ lằn vệt dây thừng.

Hai anh em không ngủ được, vừa thích mơ thấy mẹ trẻ vừa sợ, đến ngày mở cửa mả không thấy bố mẹ nói gì liền luộc trộm một quả trứng và xới một nắm cơm giấu vào trong vạt áo, mang bát cơm quả trứng ra mộ mẹ trẻ ở góc Cồn Nhà, trong Bụi Thằng Quỷ.

Đến nơi, hai đứa nhìn quanh quẩn, thì thấy đang giữa ban trưa mà rặng ổi dại rậm rì xanh um như màu mực. Những đám cỏ mần trầu, cỏ tranh, cỏ tía ba lá, cây chua me đất, cây bìm dại leo vấn vít, mộ phẳng lì như chưa từng chôn mẹ trẻ Phượng, như không hề có một xác chết nào đã được chôn cách đây ba ngày.

Chỉ có đám ổi rậm rì trong Bụi Thằng Quỷ cứ kẽo kẹt hoài như than như khóc.

Thằng Ba hỏi thằng Hai:

– Mày có biết sao bố lại chôn mẹ trẻ ở đây ?

Thằng Hai mắng:

– Phải gọi tao là anh!

Thằng Ba bĩu môi:

– Xì, anh với chả iếc. Bố bảo đừng bắt chước cái lối điệu đàng của bọn tiểu tư sản.
– Thôi được! Chôn mẹ trẻ ở đây là để trị cái tội dám chống lại bố.
– Mẹ trẻ chết, còn chống cái nỗi gì chứ?
– Mày không biết à, bố hận mẹ trẻ tận xương.
– Vì sao? Bố làm mẹ trẻ khổ thế mà.
– Tao không biết. Chỉ nghe bà Cả Cháy nói làng này xưa nay, ai chết oan, chết vì đẻ, vì hủi, thì chôn ở Bụi Thằng Quỷ.
– Chôn ở đây thì khác gì ở bãi tha ma? Đằng nào cũng chỉ là một nấm đất.
– Đây là nơi ở của giống quỷ. Thế mới gọi là Bụi Thằng Quỷ.
– Có thằng quỷ thật à? Thằng quỷ đỏ hay đen, quỷ có phải đi đánh dậm không?

– Làm sao tao biết được. Chỉ nghe nói ngày xưa có một thằng bé chết đói, chết oan, bố mẹ chết đói cả. Nó lết đi xin ăn, cả làng không ai cho một miếng, thế là nó rúc đầu xuống hầm cá trê mà chết.
– Sao chỗ đáng rúc không rúc lại rúc đầu xuống hầm cá trê?
– Thì nó bé biết gì, thấy con cá, nó nghĩ là ăn được, rúc đầu xuống…
– Khiếp, rúc đầu xuống hầm cá trê thì ngạnh nó đâm cho cũng đủ chết điếng, đau lắm…
– Ừ, chết thảm lắm, chết không ai chôn, mối tự đùn lên, phủ kín xác, chỉ còn hai con mắt cứ mở trừng trừng. Rồi hai con mắt mọc lên hai cây ổi đỏ. Mỗi cành nghều ngào uốn dẻo như tay người.
– Cành ổi đỏ trong bụi này ấy à? Chuyện của mày nghe ghê chết! Thế rồi sao?
– Ừ! Thằng quỷ lúc sống bị người làng bỏ, chết đi, lúc nào cũng khóc. Mà không có ai ôm ấp, chết đành mọc cánh tay để ôm người khác…
– Thế thì có gì mà sợ?
– Mày lại gần đây. Bây giờ bỗng dưng có một mớ cành cây tự dưng quấn lấy người mày, thít chặt vào, mày có nổi gai ốc mà bỏ chạy không?

Thằng Hai nói thế, rồi bất thần giơ hai cánh tay nghều ngào quấn chặt lấy thằng em.
Thằng Ba bỗng nổi gai ốc, hét lên, cố gỡ tay thằng anh, đấm đá lung tung.
Thằng anh cười khanh khách như bị ma cù:

– Thấy chưa! Vì ai cũng sợ, nên mới chôn những người chết oan vào đây, cho Thằng Quỷ giữ chặt lấy họ, không cho ra ngoài lang thang oán trách người sống…

Thằng Ba bực tức càu nhàu:

– Chính mày là thằng quỷ thì có…

Thằng Hai đang co chân định đá phốc vào mông thằng Ba, thì rợn người vì tiếng gió, cẳng chân đang tung cao rơi hẫng xuống.

Tiếng gió đổi chiều, như từ giữa bụi cây vuột thổi ra, nghe như rên như khóc.

Những cành ổi dại màu tím đỏ, màu xanh đen, vỏ bong lở lói, đung đưa như những cánh tay đang vươn dài, vung vẩy, quấn chặt. Táo tợn như thằng Ba mà cũng thấy ghê sống lưng.

Tiếng động xạc xào, kẽo kẹt trong bụi cây càng vẳng ra, choán ngợp cả cánh đồng lêu hêu những xác rạ đen xỉn vừa bị trận lụt nước lợ ăn mòn nổi phập phồng trên mặt nước váng phèn chua.

Bụi Thằng Quỷ nổi rõ lên như một quầng tối thẫm màu đỏ và màu xanh đen, rậm rạp như một khuôn mày rậm cau lại giận dữ và oán hận, như một vết nhức nhối trên cánh đồng sầu thảm chỉ thấp thoáng những bóng người săn bắt vài con cua con ốc, nhặt mót vài bông lúa trời ngoi ngóp. Không thấy bóng người cày cấy. Nông dân còn mê mải đấu tố và chia “quả thực”. Những nhà khá hơn một chút, nghĩa là có vài sào ruộng, thì đang mê mải lấy lòng cán bộ đội để không bị lên thành phần.

Gió từ giữa bụi cây càng xoáy mạnh.
Những cành ổi dại rạp cả xuống mà đung đưa, quạt rạc rài trên mặt đất, xiêu dạt cả đám cỏ dại. Những cành ổi xanh đỏ như những bàn tay quờ quạng tìm kiếm.

Hai anh em lắng nghe, sững sờ nhìn những cành cây, cảm thấy không gian chung quanh như những giọt sương lạnh giá thấm vào tận xương.
Hai đứa xanh mặt nhìn nhau, vừa muốn bỏ chạy, lại cũng không cưỡng lại được ý muốn xem trong bụi cây có gì.

Thằng Hai lẩm bẩm:

– Mả mẹ trẻ đâu nhỉ? Rõ ràng hôm trước mới chôn ở đây, nấm mả còn nổi trên mặt đất, mà giờ không thấy đâu. Hay là ta nhớ nhầm chỗ?

Thằng Ba nói:

– Chắc mả mẹ trẻ trong này. Ta vào đây xem.

Hai đứa lội vào vài bước chân, vạch những cành cây ngó nghiêng.
Bỗng thằng Hai ngã lăn ra đám cỏ, cấm khẩu. Mồm há ra không nói được.
Thằng Ba bạo dạn hơn, cũng sợ đến líu cả lưỡi, tè cả ra quần. Nó cố lôi ông anh ra ngoài, tát vào mặt anh cho tỉnh rồi kéo xồng xộc dậy, chạy bán sống bán chết.

Hai đứa không rõ bằng cách nào, bò hay chạy, mình lấm bê bết, lảo đảo về đến cổng, thấy ông Dậm đang quàng chiếc xà cột vào vai, chuẩn bị đi họp thành phần cốt cán, liền hào hển nói không ra hơi:

– Mẹ trẻ… Mẹ trẻ sống lại không chết. Mẹ trẻ… đang ở trong Bụi Thằng Quỷ.

Ông Dậm cho mỗi đứa một bạt tai, khiến cái xà cột văng ra khỏi vai:

– Lũ mê tín dị đoan. Tuyên truyền giọng điệu phản động. Cấm khẩu chúng mày.

Thằng Hai, thằng Ba hai tay ôm má, miệng vẫn thề thốt:

– Thật mà bố. Chúng con nghe tiếng đưa võng, tiếng than khóc, chúng con mới nhòm vào. Thì thấy mẹ trẻ.
– Láo!
– Thật mà! Mẹ trẻ đẹp lắm. Đang đưa võng. Trên võng có thằng bé có con cu bằng quả ớt. Thằng bé có ba đầu sáu tay, mắt như đèn pha…
– Láo! Nhảm! Chết rấp cái lũ ngu chúng mày!

Ông Dậm lại quát.
Nhưng ông đã run rẩy trong dạ. Mắt ông huơ lên trời:

– Tao đi đốt cái Bụi Thằng Quỷ. Tao băm nát cái gồ mê tín dị đoan…

Ông nhặt xà cột bị văng xuống đất vì đã vung tay bạt tai hai thằng con dám đưa tin dữ. Ông đưa tay phủi bụi, nhổ nước bọt gột sạch chỗ bùn bám trên nắp xà cột, bước ra ngõ.

Đội cốt cán đang chờ ông.
Không có ông Dậm thì họp cũng bằng không.
Đêm nay họp để tố tội, quyết định lên thành phần cho năm nhà trong thôn.

Năm nhà đó cũng chỉ là hạng bán lưng cho trời, bán mặt cho đất, quanh năm quần quật mới có miếng ăn, một năm chỉ được ba tháng không phải ăn rau ăn sắn độn. Nhưng thôn đang thiếu người làm địa chủ. Phải đủ. Nếu không, sẽ bị xếp loại là thôn yếu kém. Đủ cái gì nhỉ…? Ông Dậm lẩm bẩm, mãi không nhớ được cái mà cán bộ đội cải cách vẫn nhấn mạnh.

… À, đủ năm phần trăm. Nhất định phải tìm ra cho đủ năm phần trăm địa chủ để diệt tận gốc. Không đủ không xong, là chưa hoàn thành nhiệm vụ, là mất lập trường vô sản. Là đồng lõa và bao che cho bọn bóc lột, là liếm gót giầy Việt gian và làm ảnh hưởng hòa bình thế giới. Mà những loại bao che bóc lột, liếm gót Việt gian thì sớm muộn cũng bị đưa ra kiểm thảo hoặc đấu tố…

Cuộc lên thành phần đêm nay, dù định bắt đầu từ lúc đỏ đèn, nhưng ông Dậm đến muộn, cũng không ai dám giục họp trước, kể cả cán bộ đội. Cả đám mười hai người ngồi đập muỗi đen đét hoặc gãi lưng, nghe tiếng trâu đói thiếu rơm ăn, húc sừng vào dóng chuồng kêu cồm cộp, sốt ruột mà không dám kêu ca, dù đến nửa đêm vẫn phải chờ ông Dậm.

Nếu không có ông, thiếu những lời đấu tố bịa tạc vu cáo như thật của ông, với một niềm tin đinh ninh rằng ta muốn ai chết, kẻ đó phải chết, thì sẽ không ai đủ máu mặt để quy tội địa chủ cho mấy nhà nghèo lành như đất kia.

Khuya, những người kiên nhẫn nhất cũng đã bắt đầu sốt ruột. Cán bộ đội cải cách đã cau mặt lại, nghĩ rằng cái lão Dậm này càng ngày càng quá mù ra mưa. Bần cố nông đóng khố cởi trần mà lên làm chủ nhân ông được mấy bữa, giết được một số người là đã lên mặt không coi ai ra gì. Cứ đà này, có ngày lão đứng lên đấu tố cả mình là địa chủ cũng nên. Có gì ta phải phòng thân trước. Bây giờ, đâu đâu cũng thấy đấu tố, người ta tranh thủ trả thù nhau. Không biết thế nào mà lần.

Người cốt cán chuyên trông coi cọc trói, súng kíp và dây thừng xoay người nhìn sang chái nhà tối om.

Không nhìn thấy gì trong bóng tối đen đặc. Ngọn đèn dầu lạc đã đốt lên trong cuộc họp chỉ đủ soi chập chờn những mặt người dữ dằn, hốc hác, tội nghiệp, đang hằn lên vệt đỏ bầm hằn học ganh tị, một quyết tâm hừng hực và cả một nỗi hoang mang.

Người cốt cán chuyên trông coi cọc trói và dây thừng không nhìn thấy gì trong bóng đêm nhập nhoà.
Nhưng anh ta đã duyệt lại đủ cả, thấy rõ mồn một trong đầu.

Ba chiếc vồ đập đất nay còn hai, một đã gẫy cán vì cuộc trừng trị tên địa chủ mới lên thành phần cách đây ba ngày. “Lão Uông thật cứng đầu. Đập đến gãy cả cán vồ vẫn còn thoi thóp! Bây giờ thì còn hai vồ, một súng kíp tậm tịt. Súng tậm tịt bắn mấy khi chết ai, chủ yếu để ra oai. Bắn vài phát để chứng tỏ ta đây là quân chính quy, có súng có ống, vũ trang có đẳng cấp quốc gia, bọn phiến loạn và bọn bóc lột, bọn phản động chớ coi thường.

Làm nhiệm vụ xử tử các tội nhân đã có những thứ không tốn kém gì, như vồ đập đất, cuốc và dây thừng hoặc bất cứ cái gì vớ được. Thừng còn tốt. Cọc thì cắm đâu vẫn đấy, không phải trông coi gì. Có các vàng cũng chẳng đứa nào dám sờ vào cái cọc ấy.

Đêm đêm, người trông coi súng và cọc bắn nhìn thấy những cái đầu ngoẹo gục xuống mỏm cọc, nhìn vào tận mặt anh ta mà cười, nhe răng đầy máu đỏ rồi đưa tay vuốt hờ lên mặt.

Có tiếng chân nặng trịch, dội thậm thịch đầu ngõ. Mọi người ngồi thẳng dậy. Không nhìn thấy gì trong bóng tối, mọi người đều biết ai đang đến.

Ông Dậm bước vào. Vai lủng lẳng xà cột. Từng bước chân như những chiếc vồ dận xuống đất. Đôi lông mày chổi xể cau gắt lại. Ẩn dưới đôi lông mày là đôi mắt lộ thần, nhìn bình thường mà như trợn trừng, phát tán một thứ ánh sáng như ánh sáng của mắt con rắn lục.

Mười hai người chờ họp thở phào nhẹ nhõm.

Chủ toạ bỗng trở nên tự tin, đứng lên xoa xoa hai tay, bắt đầu cuộc họp, mắt không rời đôi mày chổi xể của ông Dậm, tinh hoa của cuộc họp hôm nay.

Người trông coi cọc bắn thở dài.

Tối mai, cùng lắm là sáng ngày kia, sẽ phải đụng đến những thứ đang nằm im trong chái nhà.
Sẽ phải đụng đến ít nhất là ba cái đầu.

Rồi xem, sau cuộc họp đêm nay, ngày mai đấu tố, năm nhà kia sẽ phải nhận tội đã ăn xương hút tuỷ của bần cố nông, tội làm tay sai cho giặc, tội đã giàu có, tội độc ác đến mức đổ cả tấn gạo xuống sông trong khi nông dân chết đói.
Cuộc đấu tố sẽ tuyệt hảo, nếu khéo bố trí được vài bà đứng lên tố rằng thằng địa chủ này nọ đã hiếp bà trong đống rơm hoặc đã hủ hoá với chính mẹ mình.

Hôm nọ, chính lão Uông đã bị bà Mạ đứng lên xỉa xói, đập váy vào mặt vì cái tội đã hiếp mẹ bà ta vào tháng bảy năm ngoái.

Khi lão Uông khóc, nói rằng mẹ bà Mạ đã chết từ tháng tư năm kia, làm sao tháng bảy năm ngoái lão có thể gặp người chết mà hiếp được. Đám dân làng đang ngùn ngụt căm thù, nghe thế, cũng không nén được, liền cười ầm lên. Bà Mạ bẽ mặt, nhảy lên vả vào miệng lão, chửi xối xả, cho cả tông chi họ hàng nhà lão ăn đủ thứ bẩn thỉu.

Lúc đó, cán bộ đội thấy tình thế nguy hiểm, không chữa không xong, không đối phó kịp thì công vận động đấu tố bao nhiêu ngày này biến thành công toi, buổi đấu tố đã khởi động được đến thế, mà bây giờ có cơ biến thành trận cười, liền vội bước tới, dõng dạc:

– Chiến sĩ cốt cán Nguyễn Thị Mạ, nói thế đủ rồi. Ở đây không ai không biết tội ác của tên Việt gian địa chủ bóc lột này. Phải không, thưa đồng bào?

Đồng bào ở dưới bớt cười, nhưng không khí xìu hẳn.
Cán bộ đội lại lớn tiếng:

– Cái chuyện lão Uông hiếp mẹ cốt cán Mạ thì dù thời gian có chênh lệch, nhưng bản chất vấn đề vẫn là một. Dù mẹ bà Mạ có chết từ năm kia, nhưng cái chuyện mà hủ hoá thì nó kéo dài, không chỉ một lần là xong, nên chuyện bà Mạ nói vẫn là sự thật thôi.

Lão Uông uất nghẹn, đầu tiên còn tức giận, sau không nói nữa, mở to mắt chằm chằm nhìn người đàn bà trước mặt, nhìn lão Dậm, rồi nhìn cả đám cán bộ đội cải cách đang lãnh đạo đám đông đấu tố rầm rập chửi rủa gào thét dưới kia, thảng thốt.

Khi cán bộ đội cho lão nói lời cuối cùng, lão Uông chỉ nói:

– Ta đã mất một tay, họ hàng và đồng chí của ta nhiều người đã chết để giành đất nước, trao vào tay một lũ bỉ ổi thế này ư?
Thôi, ta chết đi là phải. Hồ Chí Minh ơi! Ông ở đâu?

Rồi lão Uông đập đầu vào cọc bắn. Nhưng sức yếu quá, đập đầu mà không chết, chỉ thấy máu chảy đầy mặt, máu che phủ không còn nhận ra đâu là hai con mắt.

Ông Dậm và cán bộ đội cải cách lập tức giơ vụt nắm tay lên, hô to:

– Đả đảo thằng địa chủ Việt gian phản động bán nước hủ hoá hiếp cả mẹ nông dân lại còn dám khinh rẻ đoàn thể và anh em bần cố nông!
– Đả đảo! Đả đảo

Đám đông như bị thôi miên. Nhiều người ngơ ngác hô vuốt đuôi vì có nhiều tiếng quá, không biết chọn tiếng nào để hô theo cho phải, đành cuống cuồng hô to:

– Hủ hoá! Hủ hoá!
– Khinh rẻ! Khinh rẻ!

Cán bộ đội nghe, nhăn mặt như ăn phải dấm. Nghĩ bụng: Nói nhiều lời với cái bọn này thì coi chừng hố to. Ai lại hô to “Hủ hoá, hủ hoá” bao giờ!

Rút kinh nghiệm, anh ta bèn hô một câu thật ngắn gọn:

– Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ!

Đám đông ở dưới giơ nắm tay lên phản đối rần rần. Người sẵn cuốc giơ cao cuốc. Sẵn liềm giơ cao liềm. Những chiếc cào răng gẫy lỗ chỗ cũng giơ cao.

– Bắn! Bắn chết cái thằng chó Việt gian phản động mà còn già mồm …

Cán bộ đội và ông Dậm cùng thét lên điên cuồng.
Súng kíp nhả đạn. Loạt đạn đầu tiên đi chệch ra ruộng mạ.
Người bắn điên cuồng bóp cò. Người lão Uông giật lên, như đã trúng đạn, nhưng không phải.

– Hồ Chí Minh! Ông ở đâu?

Nghe nói, lão Uông là bạn hoạt động với bác Hồ. Lão là người lập những chi bộ cách mạng đầu tiên thời hoạt động bí mật những năm 29, 30. Nhà lão Uông không đơn thuần như nhà người ta. Trong vườn, dưới bụi tre, là căn hầm bí mật ba tầng mà cả nhà lão đã đào trong bao nhiêu đêm thì không biết, chỉ biết cả bố mẹ vợ con thay nhau đào như chuột chũi, bọc đất vào thắt lưng, gần sáng lẻn ra bờ ao đổ. Đào mãi thành ba tầng hầm, để nuôi giấu cả một tiểu đội cán bộ, sau này là lãnh đạo du kích khắp cả miền. Cơm có ba bát thì mỗi người trong nhà lão Uông nhịn đi một bát để nuôi giấu cách mạng.

“Lão Uông làm thế là ngu hay khôn nhỉ?”

Người trông coi vồ và cọc trói tự hỏi. Suy nghĩ của anh ta bị cắt ngang.

– Vồ đâu! Lập tức sử dụng vũ khí của cách mạng để xử tử tên địa chủ phản động, tên tay sai Quốc Dân Đảng…

Vồ đã ra tay. Vồ đã giơ lên cao. Vồ lại hạ xuống. Đôi mắt lão Uông hiện lên mờ mờ qua làn máu. Không oán hận, không giận dữ, mà thảng thốt ngạc nhiên.

– Nhà Cu Lương đấy ư? Sao con lại giết ta?

Vâng, tao là Cu Lương đây!
Tao không là Cu Lương thì là ai!
Cu Lương này hồi trước đã từng làm liên lạc cho lão Uông một thời gian.

Có lần Cu Lương bị rắn độc cắn, lão Uông, lúc đó đang ở dưới hầm soạn công văn, thấy Cu Lương ôm chân hét lên, thì bỏ bút, nghiêng mắt xem xét vết cắn, rồi bảo Cu Lương cố chịu đau, lão Uông lấy con dao nhíp rạch vết thương, nặn máu ra. Máu vẫn không chảy được. Lão Uông đành cúi xuống, ghé miệng vào, hút nọc rắn ra khỏi vết cắn rồi giở quyển sách chi chít chữ Nho ra đọc, rồi lấy thuốc gì không biết, rịt vào. Cu Lương sốt mấy hôm thì khỏi. Hú vía! Cùng là bị rắn cạp nong cắn, nhà Hoe Chít ở xóm dưới đã chết lăn chết lộn sau ba ngày khi bị rắn cắn cách đây vài năm…

Người trông coi cọc bắn biết rõ những nhà này. Ba người trong năm người là hàng xóm của anh ta. Con anh ta hay vác rá sang vay gạo nhà họ. Cũng có lần họ đã vay gạo của anh ta.

Năm người “được xét lên thành phần” bóc lột hôm nay, chỉ là những người chăm chỉ lam làm, không bị đứt bữa ngày giáp hạt nhưng mở nồi cơm nhà họ cũng chỉ thấy “cơm đỏ cơm xanh” vì độn khoai và rau.

“Ta chỉ làm cố lần này nữa thôi. Vợ đang có chửa. Bao nhiêu người rủa sinh quái thai…”.

Người giữ cọc bắn ngáp ruồi, vờ ngủ gật, nghe câu được câu chăng những lời quy tội lúc sang sảng, lúc ngập nghẹn như hóc xương xung quanh mình…

Hôm sau.

Ông Dậm hối thúc đàn con cùng bà Cả mang liềm hái, dao rựa, cuốc thuổng lao vào gốc ổi lớn nhất trong Bụi Thằng Quỷ.

Ông chọc tiết một con lợn con, đựng vào bát sành, đem giấu vào mớ rơm, nhân lúc không ai để ý, đem bát tiết lợn ra vẩy bốn phương tám hướng rồi lẩm nhẩm khấn.

Chôn cái bát sành xuống đất, nơi mà ông đồ rằng chính đó là cái huyệt chôn mẹ trẻ Phượng. Bây giờ thì chỗ đó phẳng lỳ. Nhưng ông nhớ rõ, mình không thể nhầm được, vì vết cây ổi non ông đạp gẫy trong khi cưỡng hiếp cái thi thể của Phượng vẫn còn ứa nhựa nguyên đó. Mảnh chiếu rách chôn chưa hết cũng nhô một góc lên cạnh gốc ổi.

Làm sao nhầm được!

Hôm đó ta còn lấp đất cẩn thận, nện chân lên khắp cái mả của nó, nhất là vùng đầu và mặt, để cho ngậm chặt cái mồm nguyền rủa nhà ta vô phúc. Làm sao nhầm được! Bóng cái mả còn lùm lùm nhô lên trong bóng tối, trông rõ mồn một sau những bụi cây, khi ta ngoái đầu nhìn lại một lần để chắc chắn rằng không có ai nhìn thấy ta đã hành sự những gì dưới đáy huyệt.

Thế mà bây giờ cả cái mả phẳng lì như chưa từng có Phượng nằm dưới đó.
Ông Dậm lẩm bẩm.
Chả lẽ ông lại đào cái mả này lên để xem thực hư?

– Tao đào cái mả này lên xem con này giỏi làm giống ma giống quỷ nào!

Ông nói thế, rồi nhăm nhăm cầm cuốc, chọn chỗ góc chiếu nhô lên, bắt đầu hùng hục cuốc.

Bà Cả sợ hãi:

– Ông làm cái gì thế? Bây giờ nó chết làm ma nhà ông. Ông đào mả nó lên là động đến cả ông bà tổ tiên nhà ông đấy. Động đến cả mẹ con tôi! Ông không muốn sống thì để mẹ con tôi sống.

Ông Dậm hơi chùng tay, nhưng vẫn nói cố:

– Tao đào để cho thằng Hai, thằng Ba đừng có ngoạc mồm ra mà nói là con mẹ trẻ không chết, đang ru con trong Bụi Thằng Quỷ, không thấy mả nó đâu.
– Chấp gì trẻ con. Tốt nhất là ông đốt quách cái bụi này đi. Hết Bụi Thằng Quỷ, hết tà ma ám quẻ…

Ông Dậm dừng cuốc, nhìn quanh, thấy đâu cũng âm u rờn rợn, chợt nghe lạnh toát hai tai, liền nói:

– Thôi được! Mày đi chuẩn bị mồi lửa vào bùi nhùi rơm. Mấy thằng mấy con kia, cầm thuổng cầm liềm vào chặt hết đám ổi này cho tao.

Ông tự tay cầm thuổng lao vào gốc ổi lớn nhất trong Bụi Thằng Quỷ.

Chợt một trận gió nổi lên từ phương Bắc, trong một tiếng thở dài não nuột đánh sượt xuyên qua bụi cây, trượt hẫng trên gáy những người đang đứng cầm bùi nhùi và cuốc thuổng gậy gộc, đánh thõng một vệt trên cánh đồng Cồn Nhà.

Bà Cả đang cầm liềm bứt những cành cây rậm rạp ven Bụi Thằng Quỷ. Bà lựa những cành và lá khô chất lại, bắt đầu thổi bùi nhùi để đốt. Đang đốt, bà bỗng rùng mình dừng tay:

– Kìa, nghe như có tiếng ai thở dài đánh sượt…

Đàn con cũng bảo nhau, mặt tái nhợt:

– Có tiếng thở dài. Mẹ còn nghe cả tiếng đưa võng chứ?

Bà Dậm hoang mang:

– Không! Tao không nghe tiếng đưa võng. Nhưng tiếng thở dài thì rõ mồn một. Như có ai tóm lấy gáy tao mà vuột một cái xuống tận thắt lưng. Tay lạnh buốt như lườn cá chạch ấy.
– Làm đi! Mẹ chúng mày thần hồn nát thần tính. Mau tay lên không ông đánh cho tuốt xác! Trưa nay đừng hòng có cái bỏ mồm!
– Bố! Có thịt con lợn con bố vừa mới giết mà.

Con Bảy ngây thơ ngước nhìn ông Dậm, chóp chép miệng.

Bà cả lườm:

– Mày giỏi tưởng bở nhỉ! Con lợn ấy chỉ đủ cho bố mày với vài ông hàng xóm nhắm rượu. Trưa nay, mày có khoai khô rồi con ạ.

Con Bảy khóc giẫy đành đạch. Ông Dậm không nói không rằng tiến lại cho nó một bạt tai lăn ra đất. Con Bảy thất kinh táng đởm, ngậm miệng khóc lặng.

Bỗng gió lại nổi. Lại có tiếng thở dài. Lần này tiếng thở dài lớn đến nỗi ông Dậm to gan lớn mật là thế mà cũng dựng gai lưng, mồ hôi vã ra như tắm.
Hình như ông còn nghe cả tiếng đàn bà hát ru con.

Ông Dậm xớn xác rải mớ rạ xung quanh Bụi Thằng Quỷ rồi vẩy dầu hoả, hối hả phồng má thổi cái bùi nhùi rơm cho lên lửa.
Những tia lửa quằn quại bốc lên theo khói. Ông Dậm vứt cái bùi nhùi rơm vào đám rạ ướt đẫm dầu.

Lửa bốc rần rật, vây lấy Bụi Thằng Quỷ.
Bỗng ông Dậm nghe có tiếng cười khanh khách ngay đằng sau lưng.
Ông giật mình ngoảnh lại.
Sau lưng ông không có ai, chỉ lửa và khói.
Tiếng cười khanh khách lại nổi lên ngay phía trước.
Ông lại ngoái đầu nhìn.
Cũng chẳng có ai, chỉ tiếng cười xoáy vào óc.

– Dị đoan. Ma quỷ à? Đứa nào giỏi hù doạ, ra đây tao băm chết.

Bà Cả và lũ con đã chạy bán sống bán chết ngay từ khi nghe thấy tiếng cười. Chỉ còn mình ông Dậm đứng chơ vơ bên Bụi Thằng Quỷ, bên đám lửa khói đã xơ xác tàn.

Cây ổi lớn vẫn đứng trơ trơ.

Tiếng cười lần này sằng sặc, khanh khách như mọc lên từ dưới chân ông.
Ông Dậm bỏ cả liềm hái cuốc thuổng, chạy thốc về nhà.
Trưa ấy lũ con ông Dậm ăn gần trọn nồi thịt lợn con.

Ông Dậm hôm nay chê rượu, nằm lơ mơ nửa ngủ nửa thức, không thèm đụng đũa.
Ngày hôm sau ông mới dậy, đủng đỉnh đi dạo quanh chuồng lợn.
Ngày hôm sau nữa, ông đã đỏ đắn trở lại. Ông lại trở về chỗ ngồi trên chiếc sập gụ khảm trai và chiếc điếu bát cẩn vàng.

Nhưng đêm đêm, cứ sau giờ Tuất, trong xóm lại văng vẳng tiếng than khóc. Quanh nhà ông Dậm thì rõ nhất là tiếng đàn, tiếng ru con và tiếng thở dài.
Tiếng thở dài như rút gan ruột người ta treo lên cây rồi để mặc, thả lõng thõng xuống.

Người trong thôn cả quyết rằng, đêm đêm, mẹ trẻ Phượng mặc yếm đào, áo mớ bảy mớ ba, dạo lướt trên các ngọn tre, vòng tay như ôm con mà trong tay rỗng không, hai trái tai chảy máu ròng ròng.

Mẹ trẻ Phượng đứng lắt lẻo đầu hồi nhà ông Dậm mà nhìn chằm chằm vào cái sập gụ khảm trai.

Láng giềng thì mất ăn mất ngủ nhưng vợ chồng ông Dậm thì trái lại. Họ ăn ngon ngủ yên. Da dẻ cứ đỏ hồng, láng mướt.
Cứ buổi trưa và đêm đêm, phát ra từ trong nhà tiếng rên rỉ khoái lạc của ông Dậm và bà Cả, như tiếng gào của lũ mèo đực và mèo cái động đực trên mái nhà.

Cuối năm ấy, bà Cả như cành cây đã khô nhựa từ ba năm nay, bỗng đẻ ra một đứa con trai. Thằng Tám.
Thằng Tám có một đầu, bốn tai và ba chân.
Cái chân thứ ba thực ra là do đốt xương cụt dài ra, thòng xuống mà thành chân.
Da mặt nó màu vàng nghệ. Đôi mắt to không một sợi lông mi.

Thằng Tám bị bỏ đói ba hôm.
Nó nằm cả ngày trên cái chõng đặt ở góc nhà, không khóc một tiếng. Bà Cả cực chẳng đã, đành ôm lấy nó cho bú sau khi qua cơn sợ hãi.

Từ đó, nó ở với mẹ trong góc buồng, dưới chái nhà để củi và cối giã gạo.
Mẹ con bà không được bén mảng lên nhà trên.

Hôm nào trở trời, khó ngủ, ông Dậm nửa đêm tỉnh giấc, cứ thấy thằng con ba chân màu vàng nghệ, bốn lỗ tai rách đang treo mình trên xà nhà như thạch sùng, nhìn mặt ông chằm chằm.
Ông thất kinh vùng dậy, mồ hôi đầm đìa.
Ông rón rén cầm gậy đi xuống chỗ chái nhà thì thấy nó đang ngủ ngon lành cạnh bà Cả.
Ông Dậm nghiến răng kèn kẹt, tóm gáy thằng con ba chân màu vàng nghệ xách ngược lên, mang quẳng ra ngoài sân.

Đứa con vàng nghệ lặng lẽ nhìn ông, không oán thán. Ánh mắt như cười cợt.

© DCVOnline
© danlambao

___________________

480 – Dạ tiệc quỷ – chương 6: Đường con gái

12ae.jpg

Dạ tiệc quỷ – chương 6: Đường con gái

hao.jpg  Võ Thị Hảo

Một hai ba bốn năm sáu bảy tám.
– Một hai ba bốn năm sáu bảy tám chín mười mười một…

Người đàn bà ngồi đếm những bức ảnh.

– Một hai ba.

Một là gương mặt đàn ông thô thiển, ụ thịt, võ biền, hai lỗ tai xếch ngược. Đôi mắt nhìn bẩn đục như mắt lợn. Bắp tay ụ những thịt.
Ảnh của một Trưởng phòng Công an huyện.
Bây giờ thì vị Trưởng phòng này đã trở thành một người điên lang thang không biết nơi nào là nhà.

Người đàn bà mỉm cười.

Đó là một trong ba gã đàn ông đã hiếp cô bé trên bàn thờ đến chết.

Gã là một trong những kẻ mắc bệnh bạo dâm. Những kẻ có sở thích khủng khiếp là phải cào, cắn, dùng dây điện trói và đánh đập đàn bà khiến cho người đó phải đau đớn lăn lộn rên xiết, vãi máu ra đất rồi mới hành sự trong tiếng rên siết đó để hưởng cực khoái.

Gã là một trong ba kẻ: một trưởng phòng công an, một Giám đốc Sở Văn hoá, một Chánh văn phòng tỉnh uỷ, cam kết với nhau trong một cuộc nhậu, để chứng minh rằng, trên đời, gã đã ngủ với nhiều đàn bà, kể cả gái trinh và gái vị thành niên, nhưng không gì khoái lạc bằng cái việc ngủ với con gái lạ hoắc, mà phải hành hạ cho đến vãi máu, trong khi trói chặt bằng dây điện, rồi đánh đập tuỳ thích. Và đưa lưỡi liếm và mút máu cùng với nước mắt của nạn nhân, rồi trong khi đó, bên dưới thì cho dương vật vào, và hành sự trong tiếng rên xiết đau đớn của nạn nhân.

Bởi vì – gã cả quyết – con người ta khi cười cũng giống như khóc, và khi khóc cũng nhe răng giống hệt khi cười. Vì thế, khi đau đớn đến tột đỉnh cũng y hệt như khi sướng đến tột đỉnh. Nhất là khi ta không phải là người chịu đau đớn, mà ta hưởng cái sung sướng từ bên dưới, từ toàn thân, trong khi tai ta và mắt ta thì nghe cái điệu nhạc rên rỉ và lưỡi ta thì nếm đủ vị vừa máu vừa nước mắt của kẻ mà ta đang làm tình.

Hai gã đàn ông kia há hốc mồm mà nghe, và nuốt nước bọt.
Và một kế hoạch đã được đặt ra.

Bởi vì chúng đã thấy có hai cô bé gái xinh đẹp ngày ngày vẫn qua lại lấy nước gạo và tiếp tế cho ai đó trên con đường đi từ thị trấn tới trại tâm thần. Chúng biết, đó là hai cô bé chuyên bưng bê dọn bàn, rửa bát, chăn lợn trong quán cơm bình dân nhà bà Cả Bát ở ngã ba phía Bắc thị trấn.

Đó là hai con nhỏ duy nhất mà mỗi lần đám thực khách đưa nhau vào quán chè chén nhậu nhẹt, khi đã ngà ngà say, giở giọng nhả nhớt nói năng tục tĩu, cấu véo, hai đứa liền quắc mắt lên vặc lại rồi lẩn đi. Khi bà Cả Bát mắng, bắt phải vào đưa thức ăn cho đám thực khách, hai đứa đành phải vào nhưng nhìn đám người say khả ố đó bằng ánh mắt khinh bỉ và căm hờn.

Chính ánh mắt căm hờn đó đã kích động ba vị khách quen khả kính của bà Cả Bát.

Hai cô gái này gầy guộc, chân tay mảnh mai, chưa phát triển hết, nhưng cô lớn hơn trông đã rất đẹp, với cặp mắt dài xếch buồn thăm thẳm, lóng lánh như kim cương, nhìn ai thì không chớp. Mà nhìn như không nhìn người ta, trong mắt chỉ thấy một vệt xa thẳm của đường chân trời. Đường cong nơi eo và hông lại rất đẹp, như hai nét bút uốn lượn thanh thoát.

Cô bé ít tuổi hơn thì trông còn quá yếu ớt, nhưng trong trắng như một thiên thần. Chân tay cô thô, chứng tỏ con nhà phải làm việc nặng nhọc từ nhỏ.

Hai cô gái nhỏ lúc nào cũng đi cùng nhau. Hai đứa đổi nhau, lúc thì gánh hai thùng nhôm đựng nước gạo, tay luôn xách một cái làn đựng một cái nồi nhọ nhem nhọ thủi, có lẽ là đựng thức ăn cho ai đó trong trại tâm thần và hoa quả, và lúc về, cũng cái làn ấy, nhưng đã nhẹ tênh, đôi khi có một bộ quần áo lính đã cũ.

Xuất phát từ thị trấn vào khoảng sáu giờ chiều, đến trại tâm thần khoảng sáu rưỡi.
Chúng bắt đầu đi.

– Em về trước đi. Tranh thủ trời sáng mà hái mấy quả bứa mới chín. Kẻo tối rồi không biết đường nào, lội vào bụi rắn cắn cho thì khổ.

Miên dặn Hiền.

– Không, em đợi chị cùng về cơ.
– Em cứ về trước đi cho sớm. Chị ở lại đợi anh Lình thay xong quần áo, hôm nay anh ấy lại lên cơn sợ cơm. Chị phải ở lại thêm một chút.

Hiền ngúng nguẩy ra về. Trước khi về còn ôm lấy chị và áp má vào mặt chị.

– Hôm nọ chị nói là sau này chị em ta sẽ giàu à?
– Nhất định thế!
– Sao cái gì chị cũng cứ bảo là nhất định? Bây giờ chị em mình còn phải ở vỉa hè, nghèo rớt mà.
– Chị không biết sẽ giàu bằng cách nào. Nhưng dù có chết, chị cũng phải làm giàu và thoát ra khỏi nơi này.
– Để làm gì?
– Để chị em mình không bị đói, được đến trường như chúng nó, được có quần áo đẹp. Em xinh lắm! Chị sẽ làm cho em đẹp như tiên, để mọi người phải biết là em gái chị đẹp như thế nào. Phải là người như hoàng tử đến hỏi em thì chị mới gả nhé. Không phải ai cũng đến làm quen với em gái chị được đâu. Và cần nhất là chữa bệnh cho anh Lình.
– Nếu thế thì thích thật đấy. Nhưng em chẳng tin đâu. Làm sao mà chị có thể làm giàu được
– Chị làm được! Đã bảo dù phải ăn đất ăn sỏi, dù có phải mất đi một mắt một tay, chị vẫn phải thoát ra khỏi đây. Chị phải giàu. Chị phải đẹp như mẹ Phượng. Vì anh Lình bảo, mẹ Phượng, rồi ông bà sinh ra mẹ Phượng, là người vừa giàu, vừa có học, vừa đẹp. Chị không thể là người kém cỏi. Mẹ Phượng sẽ xấu hổ vì chị.
– Nếu chị giàu, chị có quên em không?
– Không bao giờ, em gái ạ. Ngày nào chị cũng nhớ lại em đã cứu chị khỏi cái ông điên cứ rượt theo chị và đòi ăn thịt chị đêm nào.
– Ừ, cái ông đó thật kinh khủng. May mà em bắt gặp.

Cô bé bật cười khanh khách:

– Em chạy vòng vèo mãi, bẫy cho ông ấy rơi xuống vực. Ông ấy phải nằm dưới vực mà gào thét, mãi sau mới có người đến kéo lên. Ông ấy khoẻ thật. Ông ấy mà đuổi kịp chị, chắc ông ấy ăn thịt thật đấy!
– Đúng là mẹ thương mà đưa em đến cứu chị!
– Thì ngày nào em chẳng phải đi qua đó để lấy nước gạo về cho bà chủ! Em đi lấy vào lúc trại người ta mới rửa bát xong. Muộn mấy cũng phải lấy, nếu để đến mai thì nước gạo thiu mất.

Miên rùng mình:

– Khiếp! Chị nhìn răng ông ấy nhe ra vàng khè mà sợ muốn chết đứng, hai chân cứ bủn rủn bện vào nhau. Này, bây giờ ông ấy vẫn sống trong trại đấy.
– Ôi! Nếu bà chủ của em mà không nuôi lợn, không sai em đi lấy nước gạo của trại, thì làm sao em gặp được chị nhỉ?
– May quá! Mẹ Phượng và ông bà chị run rủi cho em đến cứu chị đấy. Anh Lình nói mẹ và ông bà chị chết thảm lắm. Người ta nói người nhân đức mà chết thảm thì thiêng lắm. Em nhìn bàn tay chị này. Bàn tay gầy, ngón quá dài, lòng bàn tay quá rộng. Ông thầy tướng hôm nọ gặp chị ở chợ, nói rằng con bé này trông lạ quá. Cứ như đức thánh mẫu hiện hình vậy, làm mọi người xúm lại xem, chị xấu hổ gần chết.
– Chị ơi! Chị nhớ là phải thật nhanh giàu vào nhá. Em muốn nhìn thấy chị mặc áo đẹp. Chị đẹp lắm…

Hiền buông tay khỏi người Miên, trước khi đi còn cắn nhẹ chị một cái và cười tít mắt.

Miên nhìn theo bóng Hiền. Cô bé mảnh mai, gầy như liễu, mềm mại, chân tay rất dài, trông tội nghiệp như chú mèo con, như một bông hoa gầy nở trên một đài hoa giản dị vươn dài, đài hoa bạc màu. Cô bé đi tung tăng trong nắng chiều sắp tắt. Gương mặt sáng rỡ ràng.

Không ai nghĩ cô bé xinh đẹp này là con nhà mồ côi, mỗi ngày vẫn dậy từ ba giờ sáng để nhóm lò và rửa bát, đi lấy nước gạo về chăn lợn cho bà hàng cơm ở phố huyện.

Miên thở ra nhè nhẹ. Cô thấy vui vì nghĩ đến bức ảnh chụp hai chị em hôm nọ, cô đang cất ở góc nhà và ngày nào cũng mang ra ngắm. Cô thấy Hiền thật đẹp, và mình cũng thật đẹp. Cả hai chị em đều rạng rỡ cười. Bà chủ hàng cơm cho hai chị em vài đồng bạc nhân ngày Tết Nguyên đán, bảo muốn mua gì thì mua. Thế là hai chị em rủ nhau đi chụp ảnh. Hai đứa chụp chung một kiểu, mỗi đứa lại chụp riêng một kiểu, đem khoe bà chủ nhà, bà bảo:

– Hai đứa mày trông thật ngon con mắt. Cố làm lụng đi rồi lớn tao gả chồng cho, ở luôn phố này!

Lình thay đồ dềnh dàng. Chiều nay Lình nôn oẹ liên tục, cứ luôn miệng kêu: “No quá, no quá!”. Miên giục mãi, Lình mới ăn được chút cháo của trại tâm thần và thay xong quần áo.

Miên hối hả bỏ bộ quần áo bẩn vào làn rồi vội ra về. Nắng chỉ còn là vài tia mong manh như sợi chỉ.

Không biết bé Hiền có nhớ hái mấy quả bứa không. Giờ này chắc cô bé đã về nhà lâu rồi. Hẳn là Hiền đã rửa xong bát đĩa và đang vừa tắm dưới gốc cau vừa hát nghêu ngao…

Miên thấy vui vui. Cô nghĩ đến ngày cô giàu có. Không biết bằng cách nào nhưng nhất định cô sẽ giàu có. Cô sẽ chữa bệnh cho anh Lình. Khi cô có tiền, những y bác sĩ và hộ lý ở bệnh viện sẽ không hắt hủi anh cô nữa. À, mà cô sẽ mua cả cái bệnh viện tâm thần này để chữa cho anh cô. Rồi chữa luôn cả cho cái ông ăn thịt người nữa. Cô sẽ kéo luôn cả những người tâm thần đang lang thang điên dại ngoài đường kia vào nuôi nấng, mặc quần áo cho họ. Trời ơi! Nhiều người điên dại quá. Đi đâu cũng thấy người điên. Anh Lình bảo ở đây mà không điên mới là chuyện lạ.

Miên rảo bước. Nắng đã tắt hẳn, đường thưa thớt người qua lại. Cô cố bước thật nhanh cho tới quả đồi bên đường có bụi cây bứa. Cô nghĩ rằng mấy quả bứa sắp chín đó nhất định phải là của mình, phải thuộc về mình. Hai chị em cô đã để ý đến nó từ lúc chúng còn xanh và giấu chúng vào những túm lá để che những con mắt cũng tinh như mắt sáo sậu của lũ trẻ con khác. Quả bứa phải thuộc về chị em cô. Cũng như nhất định cô phải giàu có.

Miên đến gần cây bứa và nhìn lên.

Ba quả bứa, cô nhìn thấy rõ ràng lúc đi, bây giờ vẫn còn một. Trong bóng tối sẫm, cô vẫn thấy nó đung đưa như mời mọc trong chùm lá, như cảm thấy màu vàng ứa mật chua của nó.

Miên nuốt nước miếng. Cô bước vào, vươn tay định hái nốt quả bứa, trong lòng thầm trách con Hiền đoảng quá. Ba quả bứa, chị em đã để dành mãi, chiều nay trước khi về chị còn dặn là lấy cả ba quả, thế mà chỉ lấy hai, còn để sót một. Ba anh em, chẳng lẽ anh Lình không có quả nào.

Miên vươn tay, kiễng chân níu cành bứa xuống. Cành rung rinh, quả bứa nằm gọn trong tay cô.

Cô mỉm cười, đưa quả bứa lên miệng và lại nuốt nước miếng lần nữa. Cô nhìn xuống chân, thận trọng bước ra để đề phòng gai cào và rắn cắn.

Bỗng cô thấy lăn lóc dưới chân mình một quả bứa chín vàng bị dập nát.

– Trời, con bé này đoảng thật! Đã quên một quả, lại còn để dập một quả nữa.

Thế là ba quả bứa chỉ còn một. Miên nhặt quả bứa lên, xem còn ăn được không, cắn thử cho khỏi tiếc, thì bỗng thấy một quả bứa khác đã bị ai giẫm nát đang lăn lóc trong bụi cây.

Miên thốt kêu lên. Cô bắt đầu thấy rờn rợn khi nhìn thấy dấu giầy chi chít in trên đất đỏ và làm đổ rạp những bụi cây cỏ rậm rạp chung quanh.

Một mùi khai nồng lẫn mùi rượu mang lại vị ghê tởm nồng nặc xông lên đâu đây.

Cái mùi đó Miên biết lắm. Vì cô chạy bàn ở quán phở và cơm bình dân. Những người khách đến ăn, uống rượu, bia, mặt đỏ gay gắt. Họ xếp những thùng bia cao hơn người và thách đố nhau uống bằng hết, vỗ tay tán thưởng mỗi khi có người uống được mấy cốc một lúc, mỗi lần uống lại hét lên “dô, dô…” và văng tục. Họ giật giải vô địch uống bia rượu bằng cách chốc chốc lại đứng lên đi vào toa – lét, có người không thèm vào cao, đứng ngay cạnh hàng rào mà tia ra, bất kể có người nhìn thấy hay không. Thấp thoáng bóng hai chị em hoặc bà chủ đi lại, họ lại còn cố tình quay ra để trêu chọc. Có người còn đưa tay móc họng cho nôn ra rồi lại uống tiếp. Trong những câu chuyện của họ, chỉ thấy sự tục tĩu hoặc mánh mung.

Miên quá biết cái mùi đó.

Cô ghê sợ nhìn quanh. Một linh cảm khiến cô sởn gai ốc khắp cánh tay. Cô nhìn chằm chằm vào quả bứa bị đôi giày của ai tàn nhẫn xéo nát.

Quả bứa đã được hái xuống. Mà chỉ có hai chị em cô biết về những quả bứa này. Thế tức là Hiền đã đến đây. Vậy Hiền đâu?

Cô cuống cuồng dáo dác nhìn quanh.
Cô đi theo dấu giầy, tiến đến lùm cây rậm rạp, nơi có quả bứa nhiều dấu giầy xéo nát.
Bỗng thấy một bàn tay ai đang giơ sững giữa lùm cây, sáng mờ mờ dưới trăng, dưới ánh sao hôm lờ mờ rọi xuống từ trời.

Miên như bị hút vào, bước tới.

Cô nhìn thấy một chiếc áo của ai bị xé rách tơi tả đang lay phần phận trên bụi cây.
Chiều nay, bé Hiền cũng mặc áo màu xanh.

Miên như bị nghẹn thở. Cô không dám kêu lên vì một linh cảm hãi hùng đang bóp chặt trái tim cô.
Chân Miên như bị rút gân. Cô phải lết đi trong đám cỏ tranh và bụi cây.

Chợt cô nghe tiếng thở hồng hộc và tiếng gào rú man dại vẳng đến, rất gần.

Miên chưa bao giờ nghe thấy những tiếng kêu như thế. Những tiếng kêu không phải giống người. Những tiếng kêu không phải phát ra từ mồm miệng người ta, mà từ một chỗ thủng nào đó phụt ra trên cơ thể. Như tiếng kêu đặc quánh của bùn đầm lầy.

Có nhiều người đang quần đảo quanh đây.
Ai ở đây vào lúc này? Một thung lũng hoang vắng, chỉ có những bụi cây lúp xúp và cỏ tranh?

Miên nằm dán xuống mặt đất. Cô căng mắt ra cố nhìn cho rõ đám người đang lố nhố dưới vuông đất trũng mọc đầy cỏ, cách nơi manh áo xanh của Hiền đang bay phần phật trong gió khoảng mươi bước chân.

Miên không thể tin vào mắt mình.

Đó là một đám gồm ba người đàn ông lực lưỡng.
Chúng không mặc quần áo. Mớ quần áo của chúng bị vứt thành một đống bèo nhèo dưới chân.
Hai đứa trong bọn chúng đang lổm ngổm quỳ, mỗi đứa giữ chặt chân và tay một người con gái loã lồ, đang bị dằn ngửa trên đám cỏ, miệng nhét giẻ.
Hai gã đàn ông cố sức căng hai chân của người con gái giang ra, như cách người ta căng một con ếch.

Ở giữa, dưới chân người con gái, giữa hai đùi bị kéo dạng ra như chiếc kéo bị mở căng hết cỡ, là một gã trần truồng đang dập lên dập xuống như điên dại. Cái mông trần truồng và nhọ nhem nhọ thủi của gã nhún nhẩy và rung giật kỳ lạ. Mồm gã không ngớt nhay cắn cặp vú của người con gái.

Cả ba đứa cất lên những tiếng rú như tiếng tru của chó sói.

Rồi một trong hai gã đang giữ chân tay cô gái lao tới, hất văng gã đang nhấp nhổm trên mình cô:

– Mẹ mày! Lần thứ ba rồi đấy nhá. Bây giờ đến lượt ông…

Miên giật mình vì nghe tiếng nói quen quen. Tiếng nói của một trong những thực khách thường đến quán cơm của bà Cả Bát, nơi cô và bé Hiền vẫn đi làm thuê rửa bát, đi lấy nước gạo, chăn lợn để kiếm sống và thăm nuôi anh Lình trong bệnh viện tâm thần.

Gã đàn ông đang nhấp nhổm trên mình cô gái bỗng rú lên thật lớn, ngoác miệng ra cắn nát cả bầu vú bên trái mới nhú như chũm cau của cô gái, rồi mới chịu đổ vật ra bên cạnh, thở hồng hộc.

Gã đàn ông râu rậm lại đã nhấp nhổm như điên dại giữa hai đùi cô gái.

Cái gã đàn ông gầy gò hơn, có vẻ thấp cổ bé họng hơn cả, vẫn phải một tay giữ đùi cô gái, một tay đặt vào dương vật của gã, bàn tay cũng cử động lên xuống như điên loạn, miệng há ra thèm khát nhìn gã đàn ông đang cưỡng hiếp cuồng loạn người cô gái.

Bỗng gã kêu lên:

– Ô, sao tròng mắt nó đảo ngược lên thế này?

Gã buông tay, nhìn tận mặt, rồi hốt hoảng:

– Thôi bỏ mẹ! Nó chết từ lúc nào rồi.

Hai gã đàn ông kia lỏng người, lồm cồm bò dậy.

Trăng soi tỏ mặt cô gái vừa bị hiếp.
Bây giờ Miên mới nhìn rõ mặt cô gái.
Cô rú lên.

Người con gái bị ba gã đàn ông thay nhau hãm hiếp, hai chân bị kéo căng giạng ra như một chiếc kéo, miệng bị nhét giẻ, là bé Hiền và giờ này đã chết cứng đờ.

Tiếng rú hãi hùng và uất hận của cô khiến ba gã đàn ông giật mình nhìn quanh. May mà sức của Miên yếu, lại quá hoảng sợ, nghẹn cả cổ, và cô đang nằm lết trong bụi cây nên ba tên hiếp dâm chỉ cảm thấy nghi hoặc mà chưa kịp trông thấy cô.

Một tên nhìn quanh, mặt căng thẳng, tai vểnh lên:

– Có người đến! Chúng mày à!

Chánh văn phòng tỉnh uỷ – kẻ vừa dập như điên dại giữa hai đùi cô gái, miệng mút máu và liếm lên đôi bầu vú bị cắn nát của bé Hiền, mồm rú lên từng đợt vì khoái cảm như lợn bị chọc tiết, bình tĩnh vừa đứng lên vừa xốc quần:

– Người đâu ra! Chúng mày chỉ thần hồn nát thần tính.
– Nó chết thế quái nào được. Nó đang sướng thì có.

Gã mặc quần, kéo khoá, xơ – vin đàng hoàng, rồi cười hỏi:

– Chúng mày thấy thế nào?

Giám đốc Sở Văn hoá lấm lét nhìn quanh, cũng nhanh chóng kéo phéc-mơ tuya:

– Quá khoái. Chưa bao giờ khoái rợn người thế này. Ông anh thật là số một về thú ăn chơi quái đản trong thiên hạ.
– Chuyện. Tao lãnh đạo chúng mày. Đã lãnh đạo được hồn thì xác cũng phải là số một mới đi cùng được với chúng mày, khiến chúng mày phải quy phục.

Riêng Trưởng phòng Giáo dục huyện thì vừa mặc quần vừa hoang mang ngắm kỹ gương mặt bất động của cô gái. Bỗng gã kêu lên một tiếng thoảng thốt, cúi nhìn tận mặt cô gái, tát vào má, dộng lên chân, thấy vẫn không cử động, lại thấy máu đọng thành vũng dưới thân mình cô, liền hốt hoảng:

– Thôi! Nó chết thật rồi! Mau biến đi không chết cả nút!

Mấy gã kia giật mình, nhìn kỹ. Gã gầy hơn làu bàu:

– Chỉ tại các ông cứ chẹt cổ nó không cho kêu. Hiếp con gái bé thế này, các ông dữ như hùm, nó không chết mới là chuyện lạ.
– Bây giờ làm thế nào đây?

Một gã nói:

– Muốn sướng hơn người thì phải chịu nguy hiểm thôi. Bây giờ mặc quần áo vào, ra xe, rồi ngay tức khắc ra ga lên tàu đi công tác xuống Hải Dương. Ai hỏi thì nói là đến Hải Dương từ lúc 6 giờ tối. Nghe rõ chưa?

Trăng đã lên.

Miên trông rõ một thân hình loã lỗ của Hiền đang nằm trong bụi cây, chiếc quần bị xé rách tơi tả với những mảnh vải bay lật lưỡng chung quanh.
Đôi vú bị cào nát, những vệt máu chưa kịp khô. Đôi vú chỉ vừa mới nhú, như chũm cau. đầy những vệt ngón tay vặn xoắn tàn bạo.
Rõ nhất là đôi chân, dài, đùi chưa nảy nở, trắng muốt, cứng đờ dạng ra hai bên, máu vẫn ri rỉ chảy ra, đọng thành vũng loang lổ dưới ánh trăng.

Ba gã đàn ông mặc xong quần áo. Một gã đã ngồi vào sau tay lái. Một gã đã leo lên xe. Một gã còn đứng tênh hênh vạch quần vào bụi cây, bỗng thấy tiếng sột soạt. Gã giật mình. Vừa kịp thấy một bóng người bé nhỏ đang lồm cồm bò lết gần đó. Gã hô hoán:

– Bắt lấy nó! Giết ngay! Lộ chết mẹ cả rồi!

Và chúng rầm rập đuổi theo.

© DCVOnline
© danlambao

_____________________

479 – Nghiã tình pho mát và mắm tôm

Pho mát và mắm tôm đều là hai chế phẩm từ tôm moi và sữa tươi… qua một qúa trình ủ, lên men, ngả (phơi), khoắng quậy… theo những bí quyết khác nhau để làm nên những món ăn đặc sản riêng của của xứ trời Âu và xứ ta. Cả hai món ăn giầu đạm, pho mát và mắm tôm đều phải tuân thủ đúng kỹ thuật khá nghiêm cẩn thì sản phẩm mới không bị hư thối. Tuy nhiên, môi trường chế biến thực phẩm lại quyết định đến sự an toàn của các sản phẩm đối với người tiêu dùng. Cũng như đã là con người, dù ở bất cứ phương trời nào, khẩu vị và văn hoá ẩm thực có thể rất khác nhau. Nhưng những giá trị chung về quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc… thì đều có mẫu số chung chứ không thể là sự độc quyền của bất cứ sắc dân nào.

Blogger nổi tiếng Hiệu Minh đã rất tinh tế khi mượn hai món ăn đặc sản pho mát và mắm tôm của Thuỵ Điển và Việt Nam để liên hệ tới một sự kiện người Thuỵ Điển vừa phải đơn phương tuyên bố đóng cửa toà đại sứ và rời bỏ xứ ta. Việc này dù với bất cứ lý do gì cũng để lại nỗi buồn đau cho cả hai dân tộc “… rất tiếc phía Thụy Điển đã đóng cửa sứ quán mà tình hữu nghị, quan hệ song phương đã được xây dựng trong 40 năm…”- Đó là lời người phát ngôn Nguyễn Phương Nga thay mặt đảng và nhà nước ta vừa bày tỏ. Còn với người dân đen thấp cổ bé họng như tôi thì chỉ biết nói những lời tri ân, biết ơn nhân dân và chính phủ Thuỵ Điển đã luôn cảm thương và chia sẻ với người dân Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn nhất. Chí nghiã chí tình như thế không dễ gì phai nhạt được. Nhưng đau buồn thay, nay người tốt đã phải rũ áo ra đi… mà không hẹn ngày trở lại! Do đâu? Mấy ai thấu tỏ hết được nỗi lòng …

Gocomay 

embassy_sweden_k8.jpg

Đại sứ quán Thụy Điển ở Giảng Võ (Phố Núi Trúc) Hà Nội – Ảnh: Nhất Đình

*

Cheese Thụy Điển vs mắm tôm Việt Nam

Dân Thụy Điển có món cheese (pho-mat) khá nổi tiếng. Người Việt nếu ăn lần đầu thấy bốc mùi khó chịu. Tương tự, nếu mời món đậu phụ chấm mắm tôm, người Bắc Âu phải bịt mũi. Tuy thế, cả cheese và mắm tôm đều là quốc hồn của mỗi nước.

Có người nói, Thụy Điển giúp Việt Nam về minh bạch và chống tham nhũng cũng khó như bắt dân ta ăn cheese. Có vị quan bên phía ta còn thách, đem mắm tôm cho dân Bắc Âu, liệu họ có dám ăn không?

cheese-the1bba5y-c491ie1bb83n-vasterbotten.jpg

Vasterbotten Cheese. Ảnh: internet

Mỗi lần đi qua Núi Trúc (Ba Đình, Hà Nội), tôi không thể không ngước nhìn khu nhà của Đại sứ quán Thụy Điển lợp tôn mầu đỏ hồng. Sau bao năm, mái nhà ấy vẫn giữ được vẻ tươi tắn như hồi mới xây.

Những người bạn Thụy Điển luôn thủy chung bên cạnh chúng ta trong những năm tháng đen tối nhất của chiến tranh. Tôi chợt nghĩ, mầu đỏ hồng kia chẳng bao giờ phai nhạt như tình hữu nghị 40 năm giữa hai quốc gia này.

Sáng qua, một bạn đồng nghiệp gọi điện báo tin, tòa nhà này sẽ đóng cửa. Lý do chính thức đưa trên thông tin đại chúng như Đại sứ Herrström tại Hà Nội cho biết: “Cắt giảm ngân sách do Quốc hội quyết định đã dẫn tới việc Chính phủ chúng tôi phải đóng cửa các Đại sứ quán, trong đó có Đại sứ quán ở Hà Nội – trong vòng năm 2011”.

Đại sứ gọi là “ngày đen tối nhất trong năm” khi thông báo về thời hạn đóng cửa tòa Đại sứ.

Trong ngoại giao, ý tại ngôn ngoại (ý trong lời ngoài), nói ít hiểu nhiều, nói vậy mà không phải vậy. Ngoại đạo như HM thì càng không hiểu phía bên trong cánh cửa của tòa đại sứ Thụy Điển còn chứa đựng những bộ xương bí mật nào.

Chợt nhớ đến cựu Thủ tướng Olof Palme, người bạn lớn của Việt Nam. Ở châu Âu và đặc biệt là ở Thụy Điển, người ta nhắc đến thế hệ Việt Nam (Vietnam generation), những người lớn lên khi chiến tranh Việt-Mỹ đang ở giai đoạn quyết liệt những năm 1960. Hàng triệu người xuống đường biểu tình vì Việt Nam chính nghĩa, lên án Mỹ xâm lược Việt Nam.

Olof  Palme là một trong những người thuộc thế hệ đó. Chính ông cũng xuống đường phản đối chiến tranh vào những năm 1960-1970 và bị CIA theo dõi từng bước.

Thời gian khó sau chiến tranh, người Thụy Điển đã đến với chúng ta đầu tiên. Hà Nội có bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển, hiện đại vào loại bậc nhất nhì trong khu vực lúc khánh thành. Rồi bệnh viện khác ở Quảng Ninh, nhà máy giấy Bãi Bằng và nhiều dự án hữu ích khác.

Thời hội nhập, nhận thấy Việt Nam bị đánh giá có độ minh bạch thấp, tham nhũng cao, họ đã bỏ ra những khoản tiền lớn nhằm giúp ta xây dựng thể chế tốt hơn, mong muốn giúp Việt Nam vượt qua cái bẫy của nước thu nhập trung bình.

Cái tình của người Thụy Điển đối với Việt Nam kể mãi không hết.

Người bạn chat yahoo messeger với tôi đưa ra vài câu hỏi và anh tự trả lời.

  • Quốc gia phương Tây nào thân nhất với Việt Nam: Thụy Điển
  • Quốc gia phương Tây nào có sứ quán đầu tiên tại Việt Nam: Thụy Điển
  • Dân tộc ở châu Âu nào chống Mỹ mạnh nhất trong chiến tranh Việt Nam: Thụy Điển
  • Nước nào bỏ qua embargo của Mỹ để giúp Viêt Nam xây dựng sau chiến tranh: Thụy Điển.
  • Vân vân và vân vân…

Người bạn có cô người yêu cũ – anh yêu cô ta thì đúng hơn – đang sống với chồng con bên Thụy Điển. Mẹ nàng sang thăm và kể bên đó sướng lắm, bà chưa từng thấy quốc gia nào hạnh phúc như thế. Chủ nghĩa cộng sản của ông Mác-Lê cũng đến vậy thôi.

Sống tại thiên đường mà người ta vẫn nghĩ đến Việt Nam nghèo khổ. Thật kỳ lạ.

Tâm sự với mẹ nàng, người bạn hối tiếc, ngày xưa sao cô bé lại rời bỏ mình. Bà mẹ cười, khi người yêu bỏ thì thường lỗi thuộc về người ra đi, ít ai nghĩ người ở lại cũng có vấn đề.

Ngẫm mà thấy bà nói đúng. Anh ấy già rồi, tầm suy nghĩ rất bảo thủ, không chịu thay đổi. Cô bé kia còn trẻ, anh hơn nàng tới 16 tuổi. Nàng ưa những gì hiện đại, thời cuộc, cell phone đời mới, không thích nghe những điều lão già lẩm cẩm kể lể về thời quá khứ hào hùng, từng đi bộ đội, từng đi tây, có bằng cấp, những chuyện xảy vào lúc nàng chưa sinh ra.

Bà mẹ còn đùa, nếu anh ta thay đổi cho kịp với thời đại thì may ra kiếp sau “em nó” sẽ quay về.

Bỗng nhiên tôi nhớ đến những người bạn Thụy Điển vừa đóng cửa sứ quán. Họ rời bỏ chúng ta như cô người yêu bé nhỏ của người bạn vì lý do…kinh tế.

Có lẽ chẳng có gì hệ trọng ở đây. Đôi khi nguyên nhân đơn giản chỉ là “chuyện nội bộ của Thụy Điển” như bà Phương Nga của Bộ Ngoại giao tuyên bố. Dẫu thế nào chăng nữa thì chúng ta đã mất một người bạn tốt nhất.

Mẹ cô bạn trên còn kể rằng, món cheese của Thụy Điển cũng khó ăn thật. Nhưng ăn lâu thấy ngon và bổ, chống được bệnh loãng xương.

Cheese được sản xuất theo một chuẩn rõ ràng về vệ sinh thực phẩm và có chứng chỉ quốc tế. Nó cũng giống truyền thống minh bạch, chế độ ít tham nhũng nhất thế giới của Thụy Điển có từ 300 năm nay.

Mắm tôm Việt Nam được sản xuất bằng một qui trình không rõ ràng, vì cách làm của nông dân ta, tiện cách nào pha chế cách đó. Chưa ai cấp patent (bản quyền) cho mắm tôm Việt Nam. Vì thế, ăn mắm tôm hay bị đau bụng.

101010%20Chuyen%20la%20Viet%20Nam%201d.jpg

Mắm tôm VN. Ảnh: Wiki.

Nếu cứ khăng khăng mắm tôm của ta ngon hơn cheese của Thụy Điển, thì một lúc nào đó, người ta sẽ bịt mũi bỏ đi.

Rồi đây mái nhà hồng đỏ tại số 2 Núi Trúc sẽ bị phai mầu sau khi đóng cửa. Liệu rằng tình hữu nghị Việt Nam -Thụy Điển có phôi pha theo, dù đã từng thắm thiết trong suốt 40 năm qua.

Hiệu Minh.

________

P/S: “Ý tại ngôn ngoại” dịch chính xác là “ý nằm ở ngoài lời”.
____________________________

478-Dạ tiệc quỷ – chương 5: Bụi thằng quỷ

im12571604135.jpg

 CCRĐ ở miền Bắc 1955 – Nguồn: © The Dmitri Baltermants Collection/CORBIS (Nhiếp ảnh gia Liên Xô)

Dạ tiệc quỷ – chương 5: Bụi thằng quỷ

hao.jpg Võ Thị Hảo 

Ông Dậm cởi nút dây thừng, gỡ xác mẹ trẻ Phượng xuống.

Ông vác thi thể Phượng ra khỏi chuồng lợn, đặt thịch xuống giống cái kiểu người ta ném bao thóc. Thi thể Phượng như duỗi ra, như vươn vai, nằm dài trên mặt đất vương vãi những mớ rơm đã bị xéo nát dưới mấy chục đôi bàn chân tò mò.

Đám người đứng xem đã tản đi.

Bà Cả, thằng Hai, thằng Ba, con Tư, con Năm, con Sáu, con Bảy và đám hàng xóm đã tản đi, ai lo việc nấy dưới cái trừng mắt của ông Dậm.

Còn lại một mình, ông Dậm lom lom ngắm nhìn thi thể Phượng.

Hôm qua Phượng ở trong tay ông. Tưởng đã bị khoá chặt, như con mồi nhỏ bé bị ngậm trong cái miệng rộng ngoác lởm chởm răng của một con cá sấu, không cách gì thoát ra được. Thế mà hôm nay, Phượng đã nằm đó, xa lạ, thây còn tươi như bó lúa trĩu bông vừa cắt khỏi cây.

Ông Dậm nghĩ: Thật phí của! Lúa đã gặt thì có thể đem phơi khô, cho vào cối xay rồi giã ra thành gạo mà ăn. Nhưng người chết thì thật vô dụng. Cái thây không thể đem đi xay giã dần sàng mà nấu thành cơm được.

Nằm đó. Trĩu ghìm cả chiếc lưng ong, cả bộ ngực cũng như bị hút trĩu xuống mặt đất. Vuột khỏi tay ông. Mắt mở lên trời, trêu chọc, thách thức, chơi vơi bên ngoài.

Xa xăm.

Con người đó đã không còn giật mình thon thót trước mỗi giọng e hèm hoặc tiếng khạc nhổ của ông. Cũng không thèm co rúm lại trước những cái vòng tay ôm quàng bất chợt, bị bất thần vít xuống phản, hoặc đè nghiến xuống mặt đất, bất kể lúc nào ông lên cơn. Cũng không thèm nhăn mặt ghê sợ nữa, như những ngày đầu, khi ông hùng hục ụp lên Phượng cái thân mình nồng nặc mùi bùn già, mùi mồ hôi, mùi tỏi, mùi cá mắm mặn chát, mùi chấy rận, mùi khoai sắn, mùi lưu cữu lại từ cơn mây mưa lần trước của ông.

Ông Dậm dường như không bao giờ chán, không bao giờ nguôi vợi cái ham hố sùng sục đổ sập xuống, bất kể lúc nào, lên tấm thân nõn nà, luôn man man mùi thơm dài dại của lá cỏ mần trầu, hoa nhài buổi sáng, hoa hồng ban đêm và mùi ngọt ngào thảm thương của cánh hoa đỗ trun đã rủ xuống cuối ngày.

Cái thân mình đó, từng nằm bất động, mắt nhắm chặt và răng nghiến chặt, không kêu một tiếng, rung chuyển trước những cái dập xuống liên hồi như đập đất từ cái mông đầy sẹo thâm, sẹo lồi, nồng nặc mùi bùn già.

Ông Dậm luôn vừa mê mệt, vừa căm giận trước vẻ mặt câm lặng, làn môi mím và đôi mắt nhắm nghiền của Phượng. Đôi môi chỉ còn là màu tro của cánh hoa hồng đã tái nhợt vì bị giam hãm dưới tấm thân hộ pháp của ông.

Đó là một gương mặt luôn dè chừng, luôn để chịu đựng tra tấn, không hé một tiếng kêu rên, xin xỏ. Một gương mặt mà mỗi lần bị kéo vào cuộc hành lạc của ông là một lần dọn mình để chết.

Có lần, sau khi đã thoả mãn, ông nằm vật ra thở hồng hộc. Ông gác bộ mông nặng lên người Phượng. Ông khoá chặt người Phượng bằng cặp đùi và xoắn chặt bằng đôi cẳng chân dẻo như dây chão. Ông không cho Phượng tuồn ra khỏi chỗ nằm. Khi đã yên tâm, ông lập tức ngáy khò khò. Rồi chỉ trong vòng ăn dập miếng trầu, ông đã tỉnh dậy.

Ông cảm thấy bất an, bất giác cau mày, rồi hấp tấp nhổm người lên, nhìn vào mặt mẹ trẻ Phượng.

Đôi mắt Phượng nhắm nghiền. Câm lặng. Thân thể loã lồ không buồn che đậy. Như một người đã chết.

Ông bỗng thấy nhục nhã. Hoá ra, cái con người đó, dù ông đã cướp về, nhốt trong nhà, dù đã dùng trăm phương ngàn kế, vẫn cách biệt, xa vời, một thế giới khác, dù bị hành hạ khổ hình, mà vẫn thuộc về chính cô ta. Không hoà vào ông. Không thuộc về cái thế giới chấy rận, húp soàn soạt và thô bỉ.

Ông hùng hổ vùng dậy, véo mạnh vào đôi má tái nhợt như đã chết.

Một bên má Phượng lập tức đỏ bầm, in hằn vệt ngón tay ông, còn rõ ràng cả cái vệt ngón tay trỏ ngắn ngủn và thô bằng quả cà trên má. Ông nghiến rít qua kẽ răng:

– Sao mày lúc nào cũng câm như hến?

Mẹ trẻ Phượng vẫn nằm im thít.
Một cái véo chết điếng người nữa. Từ bàn tay trái. Ông Dậm cười gằn:

– Mày vẫn câm! Thì tao cho nốt má bên này vều lên nữa cho xứng.

Một dòng máu ứa ra từ đôi môi đẹp, chảy xuống chiếc cằm nhỏ, trông tội nghiệp như cằm trẻ nít và trông càng nhỏ nhắn, lút đi giữa đôi má đã bắt đầu sưng lên:

– Giết tôi đi!

Ông Dậm cười:

– Tao không ngu. Giết mày, tao ngủ với ai. Ngủ với mày sướng lắm!
– Tôi buồn nôn vì ông!

Ông Dậm cười khằng khặc:

– Mày cứ tha hồ buồn nôn. Mày nói gì cũng mặc. Mày càng cưỡng lại, tao càng hứng.

Ông lại lật người lên, ụp xuống Phượng, vục mặt ngoạm vào đôi môi nhoèn máu:

– Sao mày không khóc đi! Tao thích mày khóc. Mày thật ngang ngạnh quá. Mày khóc thì đẹp hơn. Tao thích thấy mày ướt nhoèn những nước là nước. Nhất là những lúc thế này!

Mẹ trẻ Phượng giọng lạc đi vì làn môi đã bắt đầu sưng lên, ngạt trong những bụm máu tụ trong miệng:

– Tôi sẽ giết ông! Đồ chấy rận!

Ông Dậm cười hân hoan:

– Mày mà giết tao ư? Đồ tiểu thư người mỏng như lá, trói gà không chặt!

Bây giờ thì Phượng nằm đó. Không còn thon thót giật bắn mình trước mỗi cử chỉ và lời nói của ông.

Đôi mắt vô hồn Phượng ngửa lên trời, lòng trắng mắt vẫn xanh biếc, tròng đen in hình bầu trời cao rộng. Những đám mây xanh và mây trắng trên bầu trời rực rỡ, non tơ óng chuốt buổi sáng, nối nhau bay trong tròng mắt xanh lơ, bất động, như một tấm gương thanh thản bao dung tất cả bầu trời xa xăm.

Trong tròng mắt này không có ông.
Chưa bao giờ trong tròng mắt ấy có ông cả. Điều đó luôn làm ông nổi điên.

Phượng lúc sống đã không thèm nhìn ông, dù là nhìn khinh miệt hay căm hận. Ông Dậm biết, trước đây Phượng chưa bỏ trốn hoặc chưa tự tử là vì muốn ông để cho cậu em trai không bị bêu đầu trên cọc bắn. Khi người em trai bỏ trốn, thì Phượng cũng không thể chết vì đang mang cái thai trong bụng. Khi Phượng sinh ra con Miên, đứa con gái là kết quả cuộc hãm hiếp của ông, ông Dậm chắc mẩm rằng từ nay thì khỏi phải lo trông coi Phượng, vì Phượng không thể bỏ đứa con còn đỏ hỏn. Con Miên vừa mới đầy một tháng tuổi, thì Phượng đã thoát khỏi tay ông, bằng con đường đi chơi vơi với một sơi thừng trên cổ.

Con đường đó bà Cử – mẹ Phượng đã đi, để thoát khỏi đau đớn và ô nhục.

Để giữ Phượng, ông Dậm đã công phu đóng mọi cổng ngõ. Cổng ngõ kiên cố nhất là đứa con gái mới một tháng tuổi. Nhưng cánh cổng kiên cố nhất đã phải rụng xuống trước một sợi dây thừng.

Ông Dậm chưng hửng, máu trong người như có ai kề kiềng củi vào mà nung sôi lên.
Ông ngắm kỹ cái xác đang nằm sõng sượt dưới đất.
Ông lật đôi chân lên.
Đôi chân này cũng giống hệt đôi chân ông đã cưỡng hiếp lúc trước, đôi chân lồng trong đôi giầy gấm của bà Cử.

“Quân ăn cắp!”
“Nhà nó có máu thắt cổ!”
“Quân lừa đảo!”

Ông gầm lên, vung tay phải, giáng vào mặt người đã chết những cái tát liên hồi kỳ trận.
Gương mặt người đã chết như phù lên trong một cái nhếch cười. Ngạo nghễ.
Những thớ thịt rung động trên mặt. Đất rung chuyển dưới chân, rơm rạ giật mình như bèo dạt trên mặt nước.

Từ khoé miệng Phượng, như mọi lần bị ông tát vào má, lại ứa ra một dòng máu đỏ bầm.
Dòng máu nhuộm sẫm chiếc yếm, nhuộm sẫm chiếc cổ cao hằn vệt dây thừng khía sâu thành rãnh.
Dòng máu đổ xuống đất, bò dần đến chân ông Dậm.
Máu ướm vào bàn chân to bằng bàn cuốc. Thấm vào ngón chân cái ngoạc ra, như một quả cà dái dê, thò ra khỏi chiếc quần lá tọa bằng lụa, đang bấu chặt lấy mặt đất.

Những ngón chân ông Dậm lúc nào cũng bấu chặt lấy mặt đất, như cách người ta bấm chân để khỏi ngã lúc đường trơn.

Ông Dậm giật mình như phải bỏng. Lùi lại, ông đưa chân dụi lấy dụi để vào đống rơm để chùi vệt máu.
Nhưng vệt máu đã ăn vào ngón chân cái của ông, thành một vệt tím đen như miếng da chó.

Đã rất nhiều lần, ông Dậm muốn giấu đôi chân với hai ngón chân cái to dị dạng, khiến ai cũng phải để ý và không thể không nhấm nháy bình phẩm sau lưng ông. Đến khi ông đã vào ở nhà ông Cử, thừa hưởng toàn bộ quần áo và giầy dép của người đã chết, ông cố bới tìm trong đống guốc mộc và giầy dép một đôi cho vừa chân ông. Nhưng không chiếc nào có thể chứa nổi ngón chân cái của ông, cứ xoè ngang ra, to bè như một quả cà dái dê. Bực quá, ông bèn vứt cả đống giày dép vào xó bếp, đi chân đất cho khoẻ.

Thỉnh thoảng, nhìn đôi ngón chân cái của mình, ông Dậm lại thắc mắc. Ông nhớ lại câu chửi của thằng Chai, lúc hai đứa vật nhau dưới bùn để tranh bắt đàn cá diếc đang cuống cuồng lẩn trốn dưới đám rạ mùa vừa gặt:

– Thằng dái dê! Bố mày hiếp mẹ mày dưới gốc cà dái dê đẻ ra cái giống mày!

Ông Dậm chưa bao giờ nhìn thấy bố. Mẹ đã bỏ ông mà đi, khi ông đã cao chạm cái hốc lớn nhất của gốc đa, và ông đã biết cào vào mặt mẹ khi cả hai mẹ con chỉ có ba củ khoai, bà nhường ông ăn hai củ mà ông vẫn chưa no. Ông đã giẫy lên khóc, đòi nốt củ khoai kia và cào vào mặt bà, hét lên: “Mẹ mày!”.

Thường ngày, mỗi khi có điều gì không ưng ý, hoặc vòi vĩnh cái gì không được, ông vẫn chửi mẹ. Ông chửi hồn nhiên, buột miệng. Một câu đầu lưỡi, như nhiều đứa trẻ con và người lớn xung quanh nhà, hễ mở miệng ra là văng tục, và càng chửi bẩn thì càng được tán thưởng.

Bà mẹ ông đi khập khiễng. Một con rắn cạp nong đã mổ vào chân bà, trong lúc bà đang loay hoay dò bắt chuột đồng. Đầu tiên bà tưởng hang rắn là hang chuột. May mà bà kịp cúi xuống vết cắn, hút nọc nhổ đi, rồi dùng lưỡi liềm rạch cho máu chảy, trôi hết nọc độc, mới thoát chết. Bà mất một tháng nằm liệt với đôi chân sưng vù.

Không đi bắt cua được nữa, bà lê đôi chân khập khiễng, teo lại vì nọc độc, lang thang xin ăn khắp nơi. Xin được cái gì, bà cũng cắp về dành cho con. Bà chỉ ăn rất ít, đủ để có sức lê chân ra chợ.

Nhưng đến khi thằng con đã lớn, cào vào mặt bà, thì hôm sau bà đi không về.
Thằng Dậm không thấy mẹ về. Nó chờ một hôm hai hôm, đói quá, đành ra chợ đi xin ăn.

Rồi một hôm, nó tìm được một cái dậm.
Cái dậm đó để chỏng chơ trên bờ sông. Không biết của ai. Còn mới. Có lẽ đó là của một người đánh dậm nào đó mới lần hồi đến bờ sông này. Xuống sông để làm gì đó và không thấy lên bờ nữa.

Thằng Dậm không biết tên mẹ. Nó cũng không biết tên bố. Nó không bận tâm lắm về tên bố hay tên mẹ. Chỉ có những lúc đói khổ quá, nó hay nhìn xuống ngón chân cái, rồi ngửa mặt lên trời, chửi bâng quơ:

– Tiên sư thằng dái dê đẻ ra ông làm ông khổ!

Vệt máu làm đen thẫm ngón chân cái của ông Dậm. Ông Dậm vội rụt chân lại.

Ông lại nhớ. Lần này thì nhớ đau đớn. Nỗi oán hận về hai cái người nào đó, đã sinh ra ông. Sinh ra không phải trong một chiếc giường, mà sinh ra trong một gốc đa, để làm cái kiếp ăn mày tứ xứ và kiếp đánh dậm.

Ông đã đổi được kiếp đánh dậm. Đổi kiếp túp lều gốc đa. Lại đã có vợ có con. Như thế là ông đã cật lực lam làm. Bây giờ ông đã có nhà cao cửa rộng. Đã có người đẹp trong tay để tha hồ giày vò.

Thế mà Phượng đã thoát khỏi tay ông.

– Quân kẻ cướp!

Con mẹ này, chính nó – người đã bị ông bắt về làm vợ hai, người đàn bà đêm đêm bị ông hãm hiếp, đã bị ông dằn ngửa trên giường, chịu đựng những cơn thú vật của ông bằng một gương mặt hoá đá và cái nhếch mép khinh miệt, đã tự đánh cắp chính nó ra khỏi tay ông!

Ông nhớ mùi thân thể của Phượng.
Đó là một mùi ngọt, đắng và tươi, như mùi phấn hoa đỗ trun. Phấn của những bông hoa màu tím hồng, mọc thành chùm hình ống, khẽ hé những cánh hoa, đung đưa trong gió như những chiếc chuông nhỏ bị đập vỡ, đến mùa lại rủ xuống thành những đường viền màu hồng hoa mỹ bên cổng nhà ông Cử, phủ một làn hương ngọt ngào mênh mang trong không gian.

Phải trả thù này!
Ông cúi sát xuống, nhìn tận mặt Phượng một lần nữa.
Đôi hoa tai vàng lấp lánh trên tai Phượng.
Ông nghiến răng rứt mạnh hoa tai ra khỏi đôi trái tai tái nhợt, mỏng mảnh như lá.
Đôi tai đứt. Máu chỉ rỉ vài giọt đen bầm nơi tai. Hoa tai nằm gọn trong tay ông.

Ông Dậm run lên. Ông vẫn không kìm được những cơn run bắn mỗi khi chạm tay vào vàng. Ông hối hả ngậm đôi hoa tai vào mồm, không để người khác trông thấy.
Ông cảm thấy vị ngọt lờ lợ của máu người còn dính trên đôi hoa tai. Nhưng vị lờ lợ này không khiến nổi ông nhè đôi hoa tai ra. Ông bậm môi lại.

Nhưng rồi ông sực nhớ, nhìn quanh:

– Việc gì phải giấu ai. Giờ tao là chủ. Đố bố thằng nào làm gì được tao.

Ông hất hàm, gọi bà Cả đang chạy tới chạy lui trong nhà. Bà đang hối thúc người mang chiếu rách tới để bó xác Phượng đem chôn mau cho khuất mắt.

– Cái này cho mày.

Ông nhổ đôi hoa tai còn dính chút máu đông của người chết vào tay bà Cả:

– Của nó đấy. Cho mày, đeo đi!

Bà vợ già nhìn đôi hoa tai. Gương mặt nhăn nheo đầy sẹo để lại từ những trận đòn của ông Dậm sáng lên trong phút chốc.
Bà lại nhìn xuống gương mặt người chết.
Bà nhìn thấy đôi trái tai bị rứt đứt. Lẫn trong mớ nước bọt của ông Dậm đang lều phều trong lòng bàn tay bà. Bà hiểu ra.

Mặt tối sầm lại, bà lắc đầu ghê sợ:

– Không!

Ông Dậm lại gầm lên, giật phắt lấy đôi hoa tai:

– Mày chê hả? Chó lại còn chê cứt.

Ông tức tối bước vào nhà, gói đôi hoa tai bằng một chiếc khăn lụa cũng để lại từ thời ông Cử, cất kỹ vào hộc tủ khảm trai, khoá lại.

Mãi đến chiều muộn, xác mẹ trẻ Phượng mới được bó chiếu rách, buộc lại sơ sài bằng lạt tre.
Một chiếc đòn đám ma đẽo vội từ cây xoan còn nham nhở vỏ.
Bốn người đàn ông hàng xóm khiêng thi thể bó chiếu của Phượng ra đồng.
Họ đào một chiếc hố nông choèn ở góc Cồn Nhà, cạnh Bụi Thằng Quỷ, chuẩn bị vùi đất.

Trời đã sắp tối. Mặt trời le lói hấp hối sau rặng cây.

Lúc đó, ông Dậm mới thủng thỉnh đi đến.
Ông thản nhiên ra lệnh cho bốn người đàn ông đang chực hất những xẻng đất xuống huyệt:

– Để đó tao làm cho. Chúng mày về.

Mấy người hàng xóm mừng rỡ, phủi tay vào quần rồi rảo bước, rời khỏi Bụi Thằng Quỷ.

Trời gần sập tối.

Xác mẹ trẻ Phượng bó chiếu nằm bơ vơ dưới huyệt.
Ông Dậm đứng trên miệng huyệt, nhìn xuống, ngần ngừ một chút, rồi cả quyết bước xuống.

Ông cởi bỏ chiếc quần lụa nõn.
Thân hình ông lại tồng ngồng phơi ra. Lần thứ hai trong ngày, như buổi sáng nay.
Ông giật bỏ những nút lạt tre đang bó tròn bên ngoài chiếc chiếu.
Ông cởi bỏ lớp vải liệm. Chỉ là thứ vải trắng nhợt, cứng quèo, đầy nút chắp vá do bàn tay vụng về nào đó dệt nên, phơi nắng lem nhem bán cho người người nghèo mua làm vải liệm.
Bộ váy áo đẹp đẽ của Phượng không biết ai đã lột mất. Có lẽ là bà Cả lột cất đi vì tiếc của.

Dưới lớp vải liệm, là Phượng.
Thân hình Phượng đã chết, cứng ngắc, trần mình phơi ra, dưới sự giằng giật không thương xót của đôi tay ông Dậm.
Một thân hình nuột nà, tái nhợt, vẫn đẹp mê hồn, tội nghiệp đến nao lòng dưới những tia sáng mờ cuối cùng của ban ngày.
Ông Dậm điên cuồng phục xuống, cưỡng hiếp như điên dại.
Những cú đạp chân của ông Dậm khiến đất trên miệng huyệt đổ xuống, trộn lẫn mồ hôi, thành những đám nhão, tuột xuống khỏi lưng sau những rung giật, để lại những vệt vằn vện trên lưng.

Có tiếng chim cô hồn kêu từng chuỗi như tiếng nấc nghẹn, dội lên từng hồi từ rặng ổi xanh um trong Bụi Thằng Quỷ.

Ông Dậm chợt nhìn thấy đôi mắt không nhắm nổi của người chết. Không ai vuốt mắt cho Phượng.
Đôi mắt mở trừng làm ông Dậm xìu xuống.
Ông hậm hực vì chưa đã cơn.
Ông nghĩ ra một cách.
Ông lấy chiếc chiếu rách phủ lên mặt người chết.
Đôi mắt mở trừng trừng bị che phủ. Chỉ còn thân hình người đã chết phơi ra dưới huyệt.

Giờ thì ông Dậm đã lại nổi hứng.
Ông lại phủ sấp mình lên cái thây và cưỡng hiếp điên dại, rồi kết thúc trong một tiếng rú như tiếng tru của chó sói.

© DCVOnline
©Dân Làm Báo

______________________

477 – “Phúc cho những ai không thấy mà tin”?

398px-La_descente_de_croix_Rubens.jpg

Tranh của Rubens -Nguồn: //vi.wikipedia.org/wiki/

Tôi có người bạn vong niên nhà ở trên làng Nghi Tàm. Tôi quen ông nhân dịp cùng tham gia với các bậc cao niên ở Câu lạc bộ Sức Khoẻ ngoài trời Quận Ba Đình đi vãng cảnh đền chùa ở Hà Nội vào dịp đầu xuân hồi cuối thập niên 80. Ông vốn là sĩ quan trong quân đội Pháp đồn trú ở Hà Nội trước 1954. Nhờ có tấm bằng tốt nghiệp ngành luật mà ông không di cư vào Nam. Nghĩ ở lại để phục vụ cho một nước Việt Nam Hoà bình trong độc lập tự do. Gia đình ông vốn là cơ sở nuôi giấu cán bộ Việt Minh, lại rất gắn bó với gia đình bác sỹ Đặng Văn Ngữ (Bố ông nhận bác sỹ Ngữ làm con nuôi). Ông nghĩ, những người “xanh vỏ đỏ lòng” như ông chắc cũng chả ai nỡ hắt hủi… Không ngờ, sau khi tham gia cùng các viên chức lưu dung đào tạo được một đội ngũ công chức tiềm tiệm gọi là tạm đủ cho chế độ mới tiếp quản các cơ sở ngành tư pháp do người Pháp để lại, ông đã phải đi “học tập cải tạo” hết nhà tù này tới nhà tù khác trên miền Bắc suốt hơn chục năm trời.
Những thời gian rảnh rỗi, tôi hay lên thăm ông ở Nghi Tàm, xem ông làm vườn và để nghe ông kể về những kỷ niệm mà ông đã kinh qua những năm ông lao lý ở các trại giam… cho tới hôm nay, Giáng sinh – 2010, lang thang trên mạng thấy câu chuyện nhỏ mà ông cựu đại uý quân đội VNCH – Kiều Duy Vĩnh, hiện đang còn sống ở Hà Nội, kể lại về các vị tu sỹ và giáo dân miền Bắc nhất định bỏ ăn một cách nhã nhặn ôn hoà khi trại tù không cho họ cầu nguyện và làm dấu trước khi ăn. Khiến tôi lại nhớ tới câu chuyện mà người bạn vong niên (nay đã ngót 90) từng kể. Nếu không được nghe từ trước chắc gì tôi đã tin và hiểu hết đức tin của những người có đạo mạnh mẽ như thế nào.
Lại nhớ có lần, cách đây mươi năm, ở gần nhà tôi có một người đi rao giảng tin mừng… dù “không mời mà đến” tới bấm chuông, rao giảng đạo Chúa (cụ thể ở đây là dòng Giehova). Chị ta giở kinh thánh đọc rõ to tới đoạn: “Phúc cho những ai không thấy mà tin…” khiến tôi giật mình vì không thể hiểu tại sao lại như vậy? Đơn giản, theo tôi nghĩ, nếu không thấy mà tin (bừa) thì có khác gì niềm tin mù quáng giáo điều? Khi đã mù quáng, tín điều thì có khác chi dùng thuốc phiện, u mê. Nhưng nay qua câu chuyện thật mà ông Vĩnh kể thì tôi tin rằng, những người tuyệt thực ở trại Cổng Trời năm đó, chắc chắn họ “đã thấy” thì mới có thể mãnh liệt “mà tin” được như thế! Đó chính là “phước” (phúc) thật sự mà người có đạo đã được Chúa ban cho. Đó cũng là thông điệp “mãi mãi xanh tươi” mỗi dịp Giáng sinh về…
Gocomay

TUYỆT THỰC CỔNG TRỜI

KIỀU DUY VĨNH

kieuduyvinh.jpg

Tôi không theo đạo Thiên Chúa, và điều ấy có thể đã làm cho tôi sống được đến hôm nay, năm 1994. Vì những người Cộng Sản căm thù những người theo đạo Thiên Chúa nên tất cả mũi nhọn của nền chuyên chính đều chĩa vào những người con Chúa. Thứ nhất là các vị Giáo sĩ trong Giáo Hội, rồi đến các tu sĩ cả nam lẫn nữ. Trong ngục tù Cộng sản, tôi đã gặp hai bà Sơ bị bắt vào xà-lim, rồi đến các ông chánh trương, trùm trưởng, cả đến những người trong Hội Trống, Hội Kèn Nhà Thờ cũng bị bắt đi tù hàng loạt. Tôi thấy đa số họ hiền lành, ngơ ngơ nói năng chẳng ra sao. Không biết họ mắc tội gì mà bị hành hạ đến như vậy: Họ có mỗi một tội là tin vào Chúa Jê-Su. Thế thôi.

Còn tôi, tôi thiếu đức tin đó, và điều đó đã cứu tôi sống. Nói thế không có nghĩa là tất cả mọi người Công giáo đi tù đều chết hết. Có nhiều người còn sống sau cuộc tù đày, những anh Thi, anh Thọ, chị Diệp, là những người trong vụ nổi loạn ở Ba Làng, Thanh Hóa năm 1954, còn Nguyên Công “Cửa” tức Nguyễn Công Môn, ngư dân vượt biển, còn Nguyễn Hữu Bổn, người thôn Vạn Lộc, Nam Lộc Nam Đàn…

Tôi nghe kể khi đọc lệnh tha anh Thi, anh không chịu ra khỏi tù, họ phải lôi anh ra. Ngay cả giáo dân cũng kiên cường như vậy, thảo nào mà những người Cộng Sản xếp họ lên hàng đầu để tàn sát họ, tiêu diệt họ.

Cho đến hôm nay, một ngày năm 1994, tôi vẫn mong mỏi gặp lại vài người còn sót lại trong số 72 người đầu tiên lên Nhà Tù Cổng Trời mà vẫn chưa gặp lại ai, ngoài 1 người Cộng Sản là anh Nguyễn Hữu Đang.

Khi ở Khu A Trại Tù Cổng Trời chỉ còn thưa thớt người thì tù ở các trại dưới được dồn lên để lấp vào các chỗ trống, nên có sự sắp xếp lại. Tôi được chuyển sang Khu B dưới quyền quản giáo mới tên là Duật, người Nam Hà. Kỷ luật Khu B nhẹ hơn khu A, chế độ ăn uống có hơn đôi chút, tù Khu B được làm lao động nhẹ ở sân trại. Ba tháng được viết thư về cho gia đình một lần, được phép nhận thư . Tôi vừa chuyển sang khu B, chưa được viết thư về nhà thì đã nhận được thư của mẹ tôi gửi đến địa chỉ:

Công trường 75A Hà Nội C65 HE.

Thư đến, mọi người đều ngạc nhiên, tôi là người ngạc nhiên nhất. Lúc đó nhà tôi ở Số 7 Phố Thi Sách đằng sau Chợ Hôm-Hà Nội. Tính từ ngày tôi bị đưa lên Trại Tù Cổng Trời đến lúc này đã được hơn 3 năm, tôi chưa được viết thư về nhà lần nào. Tại sao mẹ tôi lại biết được địa chỉ này mà viết thư cho tôi, tại sao mẹ tôi lại biết tôi đang ở Nhà Tù Cổng Trời, Hà Giang?

Mãi đến khi được tha tù lần thứ nhất,1970, tôi về nhà gặp lại mẹ tôi, tôi mới biết. Thì ra sau khi tôi bị đưa lên Cổng Trời –1960 — gia đình tôi mất hết tin tức về tôi. Mẹ tôi lên trại tù cũ ở Bất Bạt, Sơn Tây để hỏi về tôi. Chánh giám thị trại là Thiếu tá Thanh trả lời mẹ tôi là tôi bị đưa đi đâu ông ta không biết!

Về Hà Nội, mẹ tôi đến Bộ Công An ở Phố Trần Bình Trọng hỏi về anh con bị tù. Gác cửa không cho vào. Nhưng từ nhà tôi ở chợ Hôm ra Hồ Thiền Quang chưa đến 1 Km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi đi đâu là mẹ tôi lại tạt vào Bộ Công An quấy rầy họ. Đến nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp.

Mẹ tôi cứ đến hỏi. Hỏi mãi. Riết rồi họ phải trả lời. Nhưng cũng mất hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ Trại Tù Cổng Trời: Công Trường 75A Hà Nội. Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái Công trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này? Họ bảo họ không biết. Mẹ tôi đời nào chịu. Và cuối cùng họ phải trả lời là tôi đang ở Nhà Tù Cổng Trời ở Hà Giang.

Thế là mẹ tôi đi Hà Giang tìm Nhà Tù đang nhốt tôi. Đi với 2 bàn tay trắng: không có mảnh giấy phép đi tiếp tế cho tù. Quy định đi thăm tù phải có giấy giới thiệu của địa phương cấp, mà địa phương được lệnh không cấp giấy cho mẹ tôi vì thành phần gia đình tôi là địa chủ cường hào đại gian đại ác. Bố tôi bị bắn chết trong cải cách ruộng đất, còn tôi thì đi tù tội phản động nên gia đình tôi là đối tượng của cách mạng cần phải chuyên chính. Mặc, không có giấy giới thiệu, mẹ tôi vẫn cứ đi tìm thăm con. Nhưng lên đến Hà Giang, chưa qua được đèo Quyết Tiến thì mẹ tôi bị Công An đuổi theo, bắt quay về Hà Nội. Mẹ tôi đành viết thơ cho tôi theo địa chỉ trên. Thế là tôi nhận được thư của mẹ tôi.

Cũng có 1 phần do mẹ tôi không chịu mất dấu vết của tôi, làm phiền họ, quấy rầy họ, mà trên Bộ Công An chưa bật đèn xanh cho Ban Giám thị trại xóa tên tôi trong danh sách tù nhân ở Cổng Trời. Đã có lần họ cho người giả làm tù ở cùng trại với tôi về nhà tôi báo tin tôi đã chết. Nhưng mẹ tôi không tin. Mẹ tôi cứ làm tới, sấn tới, và điều đó phần nào đã cứu sống tôi.

Vả lại ở trên Cổng Trời này, đối với các bậc như Cha Vinh, cha Quế, Tu sĩ Đỗ Bá Lang, Tu sĩ Nguyễn Trung Chính tức Nhẫn, tôi là hạng bét so với các đấng Tù ấy nên mũi nhọn của cuộc tàn sát không chĩa vào tôi. Ban giám thị trại đem so tôi với các bậc Thánh đó thấy tôi là một phần tử tốt. Này nhé: Tôi không có đạo, tôi không cầu kinh, không làm dấu thánh, không ăn chay Lễ Phục Sinh, không theo nghi Lễ Giáng Sinh. Như thế là tôi chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Ban Giám thị quá rồi còn gì nữa.

Còn với các đấng Tù kia. Nội qui trại tù cấm tù cầu kinh, các vị cứ cầu kinh, cấm làm dấu thánh trước trước khi ăn, các vị cứ làm dấu thánh. Ngày Lễ Giáng Sinh các vị tự ý nghỉ, không chịu đi làm.

Và, đáng kể nhât là việc tôi ở cùng buồng giam, tôi ăn cùng với các vị nhưng tôi không tuyệt thực cùng các vị khi có lệnh cấm làm dấu thánh trước khi ăn.

Câu chuyện tuyệt thực của một số vị tín đồ Thiên Chúa Giáo ở Trại Tù Cổng Trời xảy ra như sau:

Một hôm, giám thị tập hợp các Tu sĩ Thiên Chúa Giáo, nói:

– Đây là nhà tù, không phải là nhà thờ của các anh, nên cấm mọi hành vi tôn giáo và tịch thu mọi thứ: thánh giá, kinh bổn, tràng hạt. Cấm các anh đọc kinh, làm dấu trước khi ăn.

Tịch thu thì được, còn cấm thì hơi khó, nếu không nói là không cấm được. Cấm cầu kinh các vị ấy cứ cầu, vì làm thế nào mà biết các vị đang cầu kinh? Ăn xong, ngồi, không nói chuyện, không đi lại, thế là các vị đang cầu kinh đấy. Chỉ có đêm đến, lệnh cấm ngồi là có hiệu lực, chứ ban ngày chả nhẽ lại cấm tù ngồi, cứ bắt tù nằm mãi sao!

Không cấm được, Ban Giam Thị uất lắm! Sau vụ Tu sĩ Đỗ Bá Lang công khai chống lệnh, Chánh giám thị Nguyễn Quang Sáng tỏ ra quyết liệt hơn, cứng rắn hơn, dấn tới một bước nữa. Y tuyên bố:

– Cấm triệt để làm dấu thánh trước khi ăn cơm. Anh nào làm dấu thánh sẽ bị tịch thu phần cơm.

Y lý luận:

– Ai cho các anh ăn? Ai cho các anh bát cơm? Chúng tôi cho các anh ăn chứ không có Chúa nào cho các anh ăn cả. Cấm cầu kinh, các anh vẫn lén lút cầu kinh.

Y quyết định:

– Vậy bây giờ trước khi ăn, tôi cấm các anh làm dấu. Các anh phải cảm ơn người cho các anh ăn. Đúng lắm, nhưng người cho các anh ăn là chúng tôi đây, muốn cám ơn các anh phải cám ơn chúng tôi. Không có con mẹ Maria, thằng Jê-su nào cho các anh ăn cả. Nghe rõ chưa?

Nguyên văn như vậy, tôi xin lỗi các vị, tôi phải viết đúng, không dám xuyên tạc, bịa đặt, báng bổ gì.

Và đến bữa ăn, cơm mang vào, Quản giáo vào buồng, đứng đó. Mọi lần thì cửa phòng giam mở, chúng tôi bê thùng cơm vào trong phòng, quản giáo đóng cửa, khóa lại, tù chia cơm ăn, không có cai tù canh trong bữa ăn. Nhưng hôm ấy, bê cơm vào, cửa vẫn mở, Quản Giáo đứng đó kiểm soát và nhắc lại lệnh cấm của Ban Giám Thị.

– Không được làm dấu trước khi ăn!

Tất cả, kể cả tôi, không ai bảo ai, không chia cơm ra ăn. Đứng mãi chán, Quản Giáo đóng cửa phòng giam lại, đi về.

Đến chiều, tù nhà bếp đến lấy thùng cơm. Cơm canh vẫn nguyên. Buổi chiều, đích thân Chánh Giám Thị xuống xem bữa ăn chiều, mọi việc lại diễn ra đúng như buổi sáng. Không ai lấy cơm. Mặt Chánh Giám thị tái đi vì giận dữ. Nhưng người tù không ăn, làm thế nào bắt họ ăn?

Không có khí thế hừng hực đấu tranh, không có hô khẩu hiệu, những người tù không chịu ăn chỉ lặng lẽ, ngồi im.

Không thể dùng lưỡi lê và sức mạnh để nhét cơm vào mồm họ được. Họ không ăn, thế thôi. Không hò reo, không gõ bát, gõ đĩa, không ai diễn thuyết, kích động, yêu sách điều gì. Im lặng, ai ngồi chỗ ấy. Giám thị Sáng đứng đó, không một ai thèm nhìn ông. Giám thị Sáng đành phải đi ra..

Đêm đến. Tôi đói không thể nào ngủ được. Đã một ngày trôi qua, và hai bữa không ăn. Suốt mười năm tù đầu tiên, tôi không bỏ một bữa cơm nào, ngoài hai bữa hôm ấy. Chỉ khi nào đến ngày giỗ người sinh ra tôi bị bắn chết, là tôi khai ốm và báo nhà bếp cho tôi ăn cháo, vì tôi nghĩ: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết.”

Dạ dầy tôi là dạ dày thép, nó ngốn, nó nghiền tất cả mọi thứ mà những người cùng tù với tôi, dù cũng đói như tôi, không sao ăn nổi. Tôi ăn sắn sống, khoai sống, ngô sống, om on sống, cả cây ngô non tôi cũng ăn sống được, khoai hà chỉ có ngỗng đói mới ăn, tôi cũng ăn được, khoai sọ, rong, riềng tôi ăn cả vỏ, có lần đi làm tôi lẩn vào ruộng trồng đỗ Mèo, ních một bụng quả đỗ sống, chiều về say gần chết. Ra suối tắm, thấy quả vả mọc hoang tôi bứt ăn, cũng say gần chết. Chỉ gần chết thôi chứ chưa chết hẳn. Ngất ngư lảo đảo thôi. Sắn sống ăn vào là say, ngày nào tôi chả say sắn, mà theo cái đầu óc ngu dốt của tôi thì có lẽ vì tôi ăn sắn sống triền miên mà tôi còn sống đến hôm nay. Chả là rét, lạnh quá, tôi bị sưng phổi. Tôi ho khặc khặc, sốt, tôi không dám nói láo, cứ cúi xuống ngẩng lên là nghe trong phổi có tiếng óc ách. Ở Cổng Trời tù không phải khai ốm, vì có khai với ai được. Ốm mặc, không có thuốc men gì hết.

Quản Giáo trực thấy tôi nằm mọp, hỏi làm sao? Hỏi để mà hỏi. Rồi thôi. Để đấy. Tôi cứ ăn sắn, say sắn. Và rồi tôi hết sưng phổi, tôi sống. Mãi đến khi tôi về Hà Nội, năm 1970 tôi đi khám ở Bệnh viện A để kiểm tra phổi. Sau khi chụp X quang, kết luận: dầy, dính màng phổi. Bác sĩ Kim hỏi tôi bị sưng phổi bao giờ và y viện nào chữa cho? Tôi trả lời là quên mất tôi bị sưng phổi năm nào nhưng nhớ là không có chữa ở bệnh viện nào cả. Bác sĩ Kim rất ngạc nhiên.

Ở Cổng Trời, khu nọ cách biệt với khu kia bằng một hàng rào bao quanh khu. Cấm tù khu này liên lạc với tù khu kia nhưng khi trả thùng cơm canh, thì tù các khu đem đến một cái sân chung để tù nhà bếp đến lấy. Có lần Khu C tù được mua sắn cải thiện để ăn thêm. Tù Khu C ăn sắn, bị say sắn, chết mất 5 người. Sáng ra, quản giáo trực vào khu thấy tù chết vì say sắn nằm một đống, bèn ra lệnh tịch thu số sắn còn lại, cấm không cho ăn, sai tù đem ra tập trung ở chỗ trả thùng cơm. Hôm ấy đến lượt tôi bưng thùng cơm ra trả. Thấy sắn bỏ đó, tôi lấy ngay mấy cây sắn luộc rồi, dấu vào bụng, đem về buồng ăn.

Các vị tu sĩ bảo tôi: Anh em bên ấy ăn sắn này chết mấy người, anh không sợ chết hay sao mà ăn? Tôi nói: Họ có nhiều họ ăn nhiều quá nên họ mới chết! Chứ tôi cứ củ một, củ một, ăn rồi uống nước, chờ cho tiêu bớt, lại ăn, chết thế nào được. Và tôi ăn. Ăn chầm chậm tùng củ một, thấy đắng quá, cứng lưỡi thì tạm ngừng. Có hơi say một chút nhưng chẳng sao cả. Và những chất độc làm người ăn bị say ở sắn đã làm tôi khỏi bệnh phổi, làm tôi no, và, có lẽ vì nhai dữ quá, hai bên quai hàm tôi to bạnh ra. Say sắn có khổ nhưng không khổ bằng đói: tôi chọn cái ít khổ hơn. Chuyện này là sự thật 100%, cứ ăn sắn nhiều là hai bên quai hàm to bạnh ra. Xin các nhà khoa học giải thích hộ cho. Kể lại với quý vị như thế, để quý vị biết tôi đói đến thế nào. Tôi đói lắm ấy! Được ăn 12kg cả gạo cả sắn một tháng, với sức tôi cao 1m76, nặng 78kg, 30 tuổi thì các vị chắc cũng hiểu tôi đói đến như thế nào.

Nay trở về với chuyện tuyệt thực. Thế là qua một ngày và hai bữa không ăn. Tôi xin phép được nhắc lại, mười năm tù đầu tôi không nhịn ăn bữa nào ngoài hai bữa cơm tuyệt thực đó, và tất nhiên là tôi đói lắm. Ở trong Mein KampCuộc Chiến Đấu Của Tôi – Hitler viết: “Cái đói nó theo tôi như một cái bóng…” tôi xin thêm: “Nó hành hạ tôi khổ sở nữa.”

Tối hôm đó, đã hơn chín giờ, tôi không thể nào ngủ được, cứ trở mình trằn trọc. Tu sĩ Chính tức Nhẫn ở xứ Trung Đồng, Thái Bình, nằm cạnh tôi, hỏi nhỏ:

– Đói không ngủ được à?

– Vâng, đói lắm không ngủ được.

Cha nói:

– Vậy thì ngày mai Vĩnh cứ ăn đi. Tôi sẽ chia cơm để Vĩnh ăn.

Tôi, xin thưa rằng, phần xác tôi nặng, nặng lắm nhưng cơ thể tôi lúc đó thì rất nhẹ. Lúc đó tôi chỉ cân nặng 49 kg. Tôi gầy đến “lõ đít” ra. Tôi xin phép được dùng tiếng “lõ đít”, vì đúng là tôi gầy đến như vậy. Những lúc ngồi xếp bằng, ngồi luyện yoga tôi nhìn xuống đùi, đầu gối ống chân đều trơ xương, khẳng khiu, khô khắc. Trước đó ít hôm ra khênh cơm vào buồng, anh bạn ở nhà bếp khiêng cơm đến nhìn thấy tôi, ra hiệu bằng cách lấy hai bàn tay vuốt vào hai má anh, chúm cái miệng lại ra cái điều là anh thấy tôi gầy quá, má hóp, mồm vêu. Tôi cũng biết vậy, tôi yếu lắm rồi, tay nắm không chặt, cầm vật gì nặng là hay rơi, hai bàn tay xoa vào nhau phát ra những tiếng rẹt rẹt như hai thanh củi khô, không còn cái mềm mại của da thịt. Ở Nhà Tù Cổng Trời này không có gương để soi, xem mặt mũi của mình nó ra sao. Mỗi lần cắt tóc, quản giáo đưa cho một cái tông-đơ, xén tóc, xén râu, thế thôi, không có gương lược, dao kéo gì. Có lần muốn nhìn cái bản mặt mình, tôi bắt chước Nguyễn Tuân đái một bãi xuống đất rồi soi mặt mình lên đó. Nào có thấy chó gì đâu, cái nhà ông Nguyễn chỉ nói ngoa ngôn, phóng đại, xui dại anh em thôi. Vì gầy thế, nên hai cái mông tôi teo lại, cái xương cùng nó thò dài ra, khi đi ngoài, chùi nó chạm, nó đâm vào tay mình. Lúc ấy tôi mới cảm nhận thấy thế nào là “gầy lõ đít.”

Mười năm tù, lúc nào tôi cũng ước có một bữa ăn no, thèm được ngồi trước nồi cơm nóng bốc hơi nghi ngút, muốn ăn bao nhiêu thì đơm bấy nhiêu, và có đầy một bát muối để ăn cơm cho mặn. Cả muối tôi cũng thèm. Tất cả các nhà tù của Cộng Sản miền Bắc mà tôi đã đi qua và sống ở đó tôi đều đói, tôi có thể chết đói ở đấy. Nói cách khác, nếu tôi chết trong những nhà tù đó là tôi chết đói.

Khi ở Trại Tù Bất Bạt Sơn Tây, tôi ở toán kiên giam, biệt lập: phải tự xay lúa, giã gạo trong khu biệt lập kiên giam này. Khi xay lúa, tôi nhớ tới phim “Samson và Dalila,” tôi xem ở Hà Nội năm 1950. Anh chàng Samson mù bị bắt quay cối xay. Chúng tôi cũng vậy. Rào kín và hẹp chả nhìn thấy gì ở ngoài cả. Chế độ ở Khu kiên giam Nhà Tù Bất Bạt cũng học đòi cách quản lý và đối xử với tù của Nhà Tù Cổng Trời, nhưng mà là học trò hạng bét.

Ở Trại Tù Bất Bạt, cũng tù hình sự đem cơm đến để ở cổng khu rồi chạy đi ngay, tù kiên giam cũng không được ra khỏi khu, nhưng tù được viết thư về nhà, còn được gặp và nhận đồ tiếp tế của người nhà đến thăm nuôi. Chứ ở Trại Tù Cổng Trời thì không một người tù nào được thăm nuôi, không một ai được gia đình nuôi trong suốt thời gian 7 năm tôi ở đó.

Khi đói quá, tôi kêu, tôi rên. Tôi kêu đến nỗi Quản Giáo phụ trách Giáo dục tên là Kích, người Liên khu 5 Bình Định đi “tua” nghe tiếng, gọi tôi ra ngoài, hạch hỏi, lên lớp và đe dọa tôi:

– Anh Vĩnh, anh định kích động mọi người, phải không? Cẩn thận. Anh không chịu im là đi suốt đấy.

Tôi nói:

– Thưa ông, tôi đói thật. Tôi kêu vì tôi đói. Phàm cái gì uất ức, đau khổ quá nó phát ra thành tiếng. Có thế thôi.

Tôi vừa lấy hơi vừa cố nói cho rõ tiếng:

– Thứ tôi mà kích động được ai hở ông? Ông xét xem, tôi kích động được ai trong số những người ở cùng với tôi trong buồng này? Tôi nói rất thật, để chứng minh tôi đói thật, ông làm ơn súc cho tôi một bát cám lợn kia tôi sẽ ăn hết ngay trước mặt ông cho ông thấy.

Chả là chỗ nói chuyện gần chỗ nuôi lợn của nhà bếp mà. Chừng quản giáo Kích cũng hiểu ra, nên không trấn áp tôi thêm nữa, cho tôi trở về buồng. Trên đường về, đi qua dàn su-su, quả mới bé bằng ngón tay cái, tôi với tay vặt ngay lấy dăm bẩy quả đút túi về buồng ăn sống.

Người tù Trần Liệu nói:

– Tù được ra khỏi buồng thấy bất cứ cái gì động đậy đều vồ lấy ăn hết, chỉ trừ khi vồ nó mà nó kêu “Ối giời ôi” thì chịu không ăn mà thôi. Hắn ăn giun, ăn dế, ăn gián, ăn cả trứng con bọ hung nữa.

Chúng tôi cùng cười. Trần Liệu cũng đói dữ lắm. Hắn to con gần bằng tôi, vốn là đồ tể Quỳnh Lưu, Cầu Giát, rất thích ăn tiết canh “me”, huyết bê non. Chính vì thế mà tôi thán phục Liệu; hắn cũng chịu được hai ngày không ăn theo các đấng tu sĩ cùng buồng. Trần Liệu là con chiên cực kỳ ngoan đạo.

Ông Chính bảo tôi:

– Mai tôi sẽ chia cơm để Vĩnh ăn. Vĩnh cứ ăn đi. Không sao cả. Tôi sẽ nói với anh em trong phòng để họ cảm thông trường hợp của Vĩnh.

Tu sĩ Chính là người có uy tín nhất trong số tu sĩ bị giam trong buồng. Tôi im lặng. Đối với ông Chính, tôi có món nợ lớn lắm! Lớn mà không bao giờ tôi có thể trả được.

Tôi vốn có duyên nợ với đất Thái Bình, ông Chính là người sinh ra và tu ở Thái Bình. Tôi và ông có rất nhiều điểm tương đồng. Ông hay nói chuyện với tôi. Tôi ở với ông từ ngày đầu đi tù, từ Trại Bất Bạt Sơn Tây lên ở Khu A Cổng Trời, ở cùng nhau cho đến lúc ông bị gọi đi và chết.

Những năm 1950, ở Thái Bình tôi có may mắn gặp Đức Giám mục nguời Tây Ban Nha coi sóc địa phận, tôi gặp cha Chính, cha Trụ ở thị xã, rồi các cha ở Sa Cát, Phương Xá, Bái Bồ Trung, Phù Lưu (ngã ba Đọ) Cao Mái. Những năm ấy tôi hành quân giải vây cho các nhà thờ bị vây hãm. Tôi có nhiều kỷ niệm đẹp về các xứ đạo ở Thái Bình. Tôi nói chuyện với Tu sĩ Chính về những ngày xưa đó, ông và tôi rất tâm đầu ý hợp.

Thấy tôi kêu rên vì đói. Một hôm, tu sĩ Chính nói ông ốm, ốm ở đây ít ai bỏ ăn. Ở Cổng Trời, ốm phải không? Tốt. Tốt lắm! Nếu ốm chết thì rất tốt: Khỏi phải giết! Đỡ mệt. Hôm ấy Tu sĩ Chính bỏ ăn. Ông rất ít khi ốm, từ Bất Bạt tôi thấy ông không ốm bao giờ tuy rằng ông rất gầy và xanh. Nhưng sự chịu đựng gian khổ của ông thì tôi phải ngã mũ kính cẩn vái chào. Lúc nào ông cũng ôn tồn, nhỏ nhẹ, điềm tĩnh cười nói như không cho dù có điều gì xảy ra.

Thấy ông ốm, tôi còn mấy viên thuốc cảm, đưa ông dùng, ông nói không sao đâu, chỉ có miệng ông đắng và bụng ông nó không ổn, thế thôi. Buổi chiều qua đi ông cũng bỏ cơm. Chúng tôi thường ăn vào độ ba, bốn giờ chiều. Cấm nấu nước, đun lại canh, hâm cơm. Với chúng tôi chín giờ đêm là khuya rồi. Tu sĩ Chính lay tôi dậy, nói:

– Vĩnh ăn hộ tôi đi, chứ để mai cơm thiu, bỏ đi. Phí của lắm.

Tại sao tôi lại có thể ăn xuất cơm của tu sĩ Chính như thế được chứ? Tôi từ chối, ông nói như năn nỉ:

– Tôi đắng miệng quá, trong bụng tôi nóng như lửa, quặn đau, không thể ăn được. Vĩnh ăn hộ tôi đi. Nếu Vĩnh không ăn, sáng mai nhà bếp họ lấy cho lợn ăn thì uổng lắm.

Tôi thấy đúng như ông nói. Ở các trại duới, cơm dư tù có thể phơi khô để dành. Chứ ở đây, thì chỉ có đưa xuống nhà bếp cho lợn ăn. Tại sao lại để cơm cho lợn ăn? Trong khi tôi đói quá lắm, tôi thèm ăn quá lắm.

Lúc đó là 10 giờ đêm. Tôi ngồi ăn hai xuất cơm đó. Đọc tới đây, tất có vị sẽ chửi rủa tôi. Xin các vị cố hiểu mà đánh chữ đại xá cho tôi. Tôi ăn cả hai xuất cơm canh trong nháy mắt rồi nằm xuống ngủ ngon lành. Tôi ngủ yên cho đến sáng. Lâu lắm tôi mới được ngủ đêm mà bụng không đói lắm.

Cám ơn Tu sĩ Chính tức Nhẫn. Cám ơn Ngài nhiều.

Sáng hôm sau, như thường lệ, mọi người, cả Tu sĩ Chính, dậy sớm cầu kinh. Ông Chính bảo tôi ông thấy đỡ nhiều. Chỉ đến chiều hôm ấy, tôi mới biết là hôm qua Tu sĩ đã nhịn hai bữa cơm cho tôi ăn.

Xin cám ơn ông. Cho đến tận hôm nay ba mươi năm trôi qua, tôi vẫn còn món nợ ông mà không thể nào trả được. Tôi chỉ biết cầu Chúa, xin Chúa biết đến sự hy sinh cao cả của ông, đến sự vất vả nhọc nhằn của ông khi ông vác cây thánh giá của Chúa theo Chúa đến chết.

Cầu cho linh hồn ông được tới Thiên Đàng.

Sáng hôm sau, tù lại khênh cơm đến. Quản giáo lại vào phòng, đứng xem. Không ai nhúc nhích. Không ai lấy cơm ăn, kể cả tôi. Tu sĩ Chính đứng dậy, cầm bát, lấy cơm canh đem đến để trước mặt tôi.

Ông nói:

– Đây, phần của anh, anh ăn đi.

Một lần nữa tôi lại xin các vị cố hiểu cho tôi và bỏ qua cho tôi. Tôi không theo đạo Thiên Chúa, tôi không làm dấu thánh bao giờ. Tôi ăn. Hà tất gì tôi lại nhịn không ăn? Không có điều gì bắt tôi không ăn cả.

Thấy tôi ăn, Quản Giáo bèn lên tiếng:

– Đấy, các anh thấy không? Anh Vĩnh, ăn cơm không cần làm dấu, làm diếc gì cả. Có sao đâu nào. Anh ấy vẫn ăn ngon lành, thế thì tại sao các anh lại không ăn? Các anh là đồ ngu dốt, cuồng trí, dại dột dám chống lại Đảng và Chính phủ. Các anh chỉ có nước chết thôi.

Không một người tù nào nói nửa tiếng.

Có tôi nói:

– Xin lỗi ông, ông đọc lý lịch của tôi chắc ông đã rõ, tôi không theo đạo nào cả. Phật không, Chúa cũng không, mà lệnh của các ông thì chỉ có cấm làm dấu thánh trước khi ăn. Tôi, tôi từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa làm dấu thánh bao giờ. Vì vậy tôi ăn, có thế thôi.

Đứng cho đến lúc tôi ăn xong. Quản giáo thấy trơ trẽn quá, quay gót, khóa cửa ra về. Đến buổi chiều, cơm đem đến, không thấy mặt ai cả. Cả Giám thị, cả Quản giáo cả lính coi tù.

Tu sĩ Chính chia cơm canh cho một mình tôi. Tôi ăn.

Các đấng Tu sĩ Tù, kể cả Trần Liệu cũng vẫn không ăn.

Hai ngày trôi qua.

Ngày thứ ba, tù khênh các thùng cơm canh nguội lạnh còn nguyên xuống nhà bếp, rồi khênh đến hai thùng cơm canh mới.

Không có giám thị vào phòng. Cửa đóng, khóa lại.

Cơm canh được chia đều. Các Tu sĩ Tù làm dấu thánh trước khi ăn. Chẳng ai cười, nói, hát hò, reo vui gì khi cuộc đấu tranh dành được thắng lợi.

Và cuộc sống tù đày của chúng tôi lại lặng lẽ trôi như thế cho đến ngày tôi được ra khỏi tù.

Và các vị tù ở lại chết hết trong tù!

Viết tại Hà Nội, Ngày 1 Tháng 8, Âm lịch, năm 1994

Kiều Duy Vĩnh

_____

Xem thêm: 418-Có một chữ NHẪN được tặng nhau như thế! http://vn.360plus.yahoo.com/vanph_vanpham/article?mid=5128

___________________________

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ