421 – “…Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”?

 1.jpg
Theo dõi cuộc đối thoại của Vương Hàn Lĩnh và với Vietnamnet,…, tôi không thể chấp nhận một con người mang nhãn mác trí thức như Vương Hàn Lĩnh, ông ta xưng danh là Tiến sĩ, nhưng lại phát biểu các ý kiến ngang ngược, hù dọa, thiếu hiểu biết, người Việt Nam gọi là “cùn như các ý kiến đây:
 
 Vietnamnet: – Xin ông cho biết, vì sao phía Trung Quốc vẫn kiên trì với cách tiếp cận song phương đối với các tranh chấp trên Biển Đông?
 
 Vương Hàn Lĩnh (VHL): – Tôi muốn nhắc lại nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh. Điều này không hề tốt cho tương lai.
 
 Vietnamnet: Quay lại chuyện chủ quyền, Trung Quốc nói có chủ quyền và quyền tài phán từ hơn 2000 năm nay. Phía Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và chứng cớ pháp lý, chẳng hạn với quần đảo Hoàng Sa, từ hàng trăm năm nay. Ông nói sao?
 
 VHL: – Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc.
 
 Vietnamnet: Việt Nam đang chuẩn bị Lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (thời điểm diễn ra buổi trò chuyện là vào tháng 8/2010 – pv), với biểu tượng lớn nhất là giữ vững nền độc lập, cũng như đấu tranh giành lại nó trong những khoảng thời gian nhất định trong lịch sử.
 
 Tại sao chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên có luật pháp, công ước quốc tế đàng hoàng, mà ông lại sử dụng cách suy luận mang nặng tính hình thức trong quan hệ nước nhỏ với nước lớn ngày xưa như vậy?
 
 VHL: – Nhưng chúng ta cũng không thể thay đổi lịch sử.
 
 Vietnamnet: Vẫn theo cách lập luận về tính lịch sử của mình, tại sao ông không nhắc tới Hoà ước Pháp – Thanh năm 1887, khi nhà Thanh chấp nhận để người Pháp, nhân danh chính phủ An Nam, thực thi chủ quyền ở những quần đảo này?
 
 (Im lặng).
 
 Thứ nhất, xin hỏi Vương Hàn Lĩnh, một con người được coi là có học, có hiểu biết: Căn cứ vào đâu để ông khẳng định từ trước năm 1885 Việt Nam là thuộc quốc của Trung Quốc? Đúng từ thời Lý, Trần cho đến thời Nguyễn Tây Sơn có duy trí chế độ triều cống đối với Trung Quốc; triều cống không có nghĩa là thuộc quốc mà cái văn hóa ứng xử của nước nhỏ với nước lớn của người Việt Nam; Cái văn hóa này hoàn toàn không phải là cái văn hóa của một quốc gia thuộc quốc của Trung Hoa.
 
 Phải chăng xuất phát từ cái lý cùn này, cái lý cùn mà Hàn đại nhân viễn ra để buộc Việt Nam phải thương thảo với Trung Quốc về chủ quyền biển đảo theo các điều kiện do Trung Quốc đặt ra ư? Nếu không sẽ phảihứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh… ư?
 
 Với loại người như Vương Hàn Lĩnh thì đối thoại với ông ta bất quá đem đầu gối ra mà nói…
 

 

Tranh biện về Biển Đông với “học giả” Vương Hàn Lĩnh

Đinh Kim Phúc

112284c674f1d64ab9.jpg vuonghanlinh1.jpg

Hai học giả VN & TQ: Đinh Kim Phúc (trái); Vương Hàn Lĩnh (phải)

Ngày 11/11/2010, trên mạng VietNamNet (mục Tuần Việt Nam) (1) cho đăng bài “Tranh biện về Biển Đông với học giả Trung Quốc” của phóng viên Huỳnh Phan phỏng vấn một học giả Trung Quốc: Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh từ Viện Luật pháp Quốc tế, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (Bắc Kinh), mà theo phóng viên Huỳnh Phan “người đã trải qua thời thơ ấu ở một địa phương sát với biên giới Việt Nam, nơi xảy ra sự kiện Tháng Hai năm 1979”.

Với câu hỏi: “Quay lại chuyện chủ quyền, Trung Quốc nói có chủ quyền và quyền tài phán từ hơn 2000 năm nay. Phía Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và chứng cớ pháp lý, chẳng hạn với quần đảo Hoàng Sa, từ hàng trăm năm nay. Ông nói sao?”

Vương Hàn Lĩnh đã mạnh miệng trả lời: Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”.

Nhưng Vương Hàn Lĩnh đã im lặng trước câu hỏi “Vẫn theo cách lập luận về tính lịch sử của mình, tại sao ông không nhắc tới Hoà ước Pháp – Thanh năm 1887, khi nhà Thanh chấp nhận để người Pháp, nhân danh chính phủ An Nam, thực thi chủ quyền ở những quần đảo này?”. Và Vương sẵn sàng tranh luận với các nhà nghiên cứu Việt Nam.

Thưa tiến sĩ họ Vương,

Cần nhắc lại cho ông nhớ rằng Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và thương mại (Hiệp ước Thiên Tân) được ký kết ngày 9/6/1885 giữa Lý Hồng Chương và Patenôtre, được quốc hội Pháp thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1885 nhấn mạnh những gì đã ký ngày ngày 11 tháng 3 năm 1884 là đảm bảo Pháp sẽ rút khỏi Đài Loan để có thương quyền ưu đãi và nhà Thanh phải từ bỏ bá quyền lịch sử ở Việt Nam. Trung Quốc phải lập tức rút quân về biên giới Trung Quốc và phải tôn trọng hiện tại và tương lai các hiệp ước đã ký và sẽ ký giữa Pháp và triều đình Huế. Hay nói một cách khác, quan trọng hơn là kết quả Hiệp ước Thiên Tân 1885 và Hoà ước Pháp-Thanh năm 1887 đã xóa bỏ vĩnh viễn cái cái bánh vẽ “thượng quốc – thuộc quốc” giữa Việt Nam và Trung Hoa (2).

Nhìn lại lịch sử Trung Hoa từ xa xưa, những bộ tộc người Hán đang chiếm cứ một vùng rộng lớn ở phía Tây Bắc Trung Quốc hiện nay đã tràn xuống lưu vực sông Hoàng Hà tiêu diệt những người thuộc bộ tộc Miêu sinh sống ở đây, sau đó các bộ tộc người Hán chia nhau chiếm giữ khu vực này. Bộ lạc nào cũng có tộc trưởng làm đầu, cai quản cả người trong họ của khu vực ấy, gọi là hậu 后 tức vua một xứ nhỏ. Những xứ nhỏ ấy đông đảo, có đến cả ngàn, cả vạn cho nên mới gọi là vạn bang 萬邦. Các ông hậu ấy lại chọn một ông hậu khác « có tài, có đức » tôn làm đế 帝. Các nước gọi là nguyên hậu 元后, về sau xưng là thiên-tử 天子. Các hậu gọi là chư hầu, ai ở nước nào trị nước nấy nhưng phải phục tòng mệnh lệnh nguyên hậu và hàng năm phải triều cống (3).

Như vậy đã rõ, quan hệ “thượng quốc-thuộc quốc” theo quan niệm Trung Quốc xa xưa là nước nhỏ, muốn hòa bình để tồn tại phải có bổn phận cống nạp nước lớn.

Điều này còn được thể hiện rất rõ qua tấm bản đồ đầu thế kỷ XVII được Matteo Ricci sáng tác và viên quan nhà Minh tên là Lý Chi Tảo(李之藻) đã dày công vẽ lại thành “phiên bản Lý Chi Tảo” với tên gọi là “Khôn Dư vạn Quốc toàn đồ”.  

untitled.jpg

Nguồn: http://www.hanchinese.net/forum/redirect.php?tid=3503&goto=lastpost  

Dòng chữ Hán được ghi chú trên vùng biển Đông Nam Á ngày nay này có nghĩa là:

“Thanh danh văn vật [triều] Đại Minh thịnh vượng, nhiều nước trong bốn biển – ở khoảng 15 độ đến 42 độ – đều đến triều cống. [bức] tổng đồ này [chỉ] diễn tả chung về núi, sông, tỉnh, đạo. không thể vẽ tường tận cụ thể như [sách] Nhất thống chí, Tỉnh chí ghi chép”

Như chúng tôi đã lý giải trong bài viết “Những phát hiện mới chung quanh tấm bản đồ thế giới của Matteo Ricci”, dòng chữ Hán trên được ghi chú trên vùng biển Đông Nam Á ngày nay có một điểm tồn nghi cần được các nhà ngôn ngữ học phân tích. Bởi vì nếu ghi chú này do người Nhật chú thêm vào bản màu chép lại của Ricci thì có thể hiểu là:

“Đại Minh nghe rằng các nước bốn bể chung quanh từ 15 độ đến 42 độ… đều giàu có và tất cả đều là nước triều cống. Bản đồ tổng quát nầy giản lược không ghi các tỉnh, đạo, núi, sông…. không thể chép hết chi tiết tỏ tường như Đại Minh Nhất thống Chí, Tỉnh chí”

Nhưng dù là những dòng chữ kia do người Hán hay người Nhật viết trong tấm bản đồ như đã nói trên thì câu chữ “tất cả là nước triều cống” là một minh chứng những nơi ấy không phải là “thuộc quốc”, tiến sĩ họ Vương khó lòng mà chối cãi.

Trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, trừ thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc, nhưng kể từ năm 938 Trung Quốc chưa bao giờ có thể can thiệp trực tiếp hay ảnh hưởng vào nội bộ Việt Nam trong tất cả các lãnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… và kể cả mặt ngoại giao.

Quan hệ “thượng quốc-thuộc quốc” giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc như phát biểu của Vương Hàn Lĩnh đã cho thấy trình độ nghiên cứu của một học giả Trung Quốc hiện đại.

Vương Hàn Lĩnh đã hoàn toàn sai.

Nhưng giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam sẽ không phản đối nếu Vương Hàn Lĩnh nói rằng: quan hệ Trung Quốc-Việt Nam từ xa xưa cho đến thời điểm hôm nay khi mà ông sang dự hội thảo về Biển Đông tại Thành phố Hồ Chí Minh (11/2010) là “quan hệ giữa một nhà nước với tư tưởng Đại Hán, bá quyền nước lớn và một nước nhỏ luôn hiếu hòa và yêu chuộng hòa bình”.

Lịch sử Trung Quốc và lịch sử Việt đã thể hiện rõ luận điểm trên.

——-

Ghi chú:

(1) http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-11-tranh-bien-ve-bien-dong-voi-hoc-gia-trung-quoc

(2) Xem L. Eastman, Throne and Mandarins: China’s Search for a Policy during the Sino-French Controversy (Stanford, 1984)

(3) Trần Trọng Kim, Nho Giáo tập 1, NXB Tân Việt in lần thứ 4, Bộ Thông tin NV, Tr37.

* Bài viết do Ông Đinh Kim Phúc gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-Blog.

____

P/S:

KHÔNG NÊN TRỤC XUẤT TS VƯƠNG HÀN LĨNH

462144.jpg

Toàn cảnh hội thảo ngày 11/11/2010. Ảnh: TTD. Tuổi Trẻ Online

Không nên trục xuất TS Vương Hàn Lĩnh ra khỏi VN

Nguyễn Đăng Hưng
Lời dẫn: Trước thềm Hội thảo về Biển Đông được tổ chức tại Sài Gòn (11/11/2010), phóng viên Việt NamNet Huỳnh Phan có phỏng vấn Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh đến từ Viện Luật pháp Quốc tế, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (Bắc Kinh). Ông Tiến sỹ này đã ngang nhiên hăm dọa dân tộc Việt Nam. Đây là lời bình của tôi sau khi đọc bài phỏng vấn này, nhất là trên Blog Nguyễn Xuân Diện anh Hai Xe Ôm đã đề nghị trục xuất ngay ông này ra khỏi Việt Nam.
Ông “học giả” Vương Hàn Lĩnh này thật ra chỉ là một thứ sản phẩm hiện đại (và rẻ tiền) của nền lý luận tuyên giáo Trung Quốc. Các ông quan văn người Tàu thời hiện đại này đã phải qua nhiều thế hệ, nhiều năm, từ 1949 đến hôm nay, học tập, gặm nhấm bài học vỡ lòng của chủ nghĩa bành trướng. Ta biết học thuyết “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” sau thời Đặng Tiểu Bình chỉ còn cái đuôi màu vàng Trung Quốc nước lớn. Khi Vương Hàn Lĩnh đã mạnh miệng tuyên bố: “Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”, – ông ta đã hé mở cho người Việt chúng ta biết não trạng thật sự của cái gọi là “màu sắc Trung Quốc”.
Lời tự thú này cũng là lời tự cáo giác hùng hồn về chủ nghĩa đại Hán thời nay, một thứ chủ nghĩa thực dân mới không hơn không kém. Đức Quốc xã Nazi, tác giả tội ác diệt chủng tại Châu Âu thời thế giới chiến tranh thứ II (1939-1945) cũng bắt đầu bằng cách suy nghĩ như vậy. Trước khi gây chiến, Hitler đã thản nhiên tuyên bố Ba Lan, Tiệp Khắc, một phần lãnh thổ Pháp, Bỉ là lãnh thổ cũ của mình…
Nay Trung Quốc có pha thêm chút Á đông kiểu Tần Thủy Hoàng thâm sâu, độc địa bội phần. Vị “tiến sỹ học giả” người Trung Quốc của chúng ta còn không tiếc lời trực tiếp hăm dọa dân tộc chúng ta một cách vô cùng ngang ngược:
– “Tôi muốn nhắc lại nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh. Điều này không hề tốt cho tương lai”.
Nhà “học giả” này có lẽ chưa đọc trang lịch sử chân thật nào về mối tương quan Việt Trung trong quá khứ, ngay cả mới đây năm 1979. Ông ta chỉ học tập bài học bá quyền, những suy diễn méo mó về lịch sử của chính quyền toàn trị Trung Hoa hiện đại ngày đêm thêu dệt, bắt đầu bằng chính lãnh tụ Mao Trạch Đông. Tôi có nhiều tiếp xúc với giới sinh viên trẻ Trung Quốc sang Châu Âu du học. Số đông họ là như vậy. Họ nào biết đến những sự kiện lịch sử, những thất bại, những bài học cay đắng, nhục nhã mà chính dân tộc Hán phải lĩnh hội khi cố tình gây ra xung đột với Việt Nam, buộc Việt Nam phải tự vệ cứu nước.
Cứ nghe những lời tuyên bố gần đây của các đại diện ngoại giao Trung Quốc thì rõ. Họ được đào tạo từ một lò như vậy.
Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường (7 tháng Giêng 2010 tại Hà Nội) đã thách thức cả dân tộc Việt:
– “Hợp tác (với Trung Quốc) sẽ phát triển, (Việt Nam) đấu tranh sẽ thất bại”.
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì (ngày 25 tháng bảy 2010 tại Hà Nội sau khi nghe lời phát biểu có lý có tình của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton về Biển Đông) đã thốt lên theo phản xạ giữa nghị trường:
– “Các anh là nước nhỏ, Trung Quốc là nước lớn”.
Thú thật, cả đời tôi chưa bao giờ nghe được những lời lẽ ngoại giao trịch thượng, ngạo mạn và ngang ngược như vậy! Sống trong thế kỷ 21 mà nghe họ tôi có cảm tưởng đang ở thời Trung cổ tại Châu Âu hay thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu: Cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua, lấy thịt đè người… Vậy mà Trung Quốc ngày nay, quá say sưa với những thành quả kinh tế, muốn trở thành siêu cường toàn cầu!
Theo tôi, không nên trục xuất ông Vương Hàn Lĩnh ra khỏi Việt Nam làm gì cho rắc rối ngoại giao với “nước lạ”. Ta nên để vị “học giả” Trung Quốc này đến tham gia hội thảo và phát biểu thoải mái. Nếu ông ta tiếp tục những luận điệu trên thì đây chính là những lời tự cáo giác về chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc, giúp cho các nhà học giả quốc tế và Việt Nam thêm hiểu về lập trường này. Và cũng chính những lời tuyên bố hùng hồn ngây ngô này sẽ đem lại vài cái mỉm cười ý nhị lý thú cho các bậc thức giả quan tâm đến Biển Đông Nam Á …
TP Hồ Chí Minh ngày 11/11/2010
Nguyễn Đăng Hưng
Giáo sư Danh dự Thực thụ Đại học Liège, Bỉ.

* Bài do GS. Nguyễn Đăng Hưng gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-Blog. Xin chân thành cảm ơn Giáo sư!

_______

Xem thêm bài cùng chủ đề:

_____________________

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: