399-Chúng tôi cũng chỉ muốn đòi lại nụ cười…

Franz%20Kafka%20Biography%20home%20page.jpg

 FRANZ KAFKA BIOGRAPHY (1883-1924) Jewish Czech-born Writer

Tiền bất kiến cổ nhân / Hậu bất kiến lai giả / Niệm thiên địa chi du du / Độc sảng nhiên nhi lệ hạ” (Trước, không thấy người xưa / Sau, người sau đâu thấy / Nghĩ trời đất thật vô cùng / Riêng mình đau mà lệ chảy). (Trần Tử Ngang)

 … mi hãy nhớ cái limite mà mi phải dừng và cứ giẫm chân qua lại trên đó đủ để gây một áp lực thức tỉnh cho ma nó sợ chứ đừng có hùng hổ và bồng bột khoa đuốc lên làm một ngọn đuốc sống tự đốt cháy mình trong phút chốc… trước mặt mình đoạn đường còn đi được quá ngắn mà bầu trời thì tối đen. Tuy nhiên, sau mấy tiếng đồng hồ nằm thiếp đi, sáng mai thức dậy ánh mặt trời rọi vào mắt lại có sức cứu rỗi mình. Ý thức mất đi và vô thức sống lại. (Huệ Chi)

Nguyễn Huệ Chi – Lá thư giã từ talawas (*)

28/10/2010 | 4:53 sáng | phản hồi

Nguyễn Huệ Chi

Chị T. ơi,

Phải nói một lời chia tay với talawas, nhưng ba câu hỏi Hoài đặt ra đánh đố người ta thì người khác đã trả lời nhiều quá và trả lời nào cũng thâm thúy cả, nên tôi đành thay vào đó bằng lá thư phúc đáp chị mà tôi biết dầu có mượn đăng công khai chị cũng không nỡ giận tôi và chắc bà chủ talawas cũng vui lòng dành cho một chỗ để tôi thổ lộ tâm tình với chị và cả với người tình talawas của không phải chỉ riêng tôi trong suốt chín năm qua. (**)

Những lời chị viết cho tôi ngắn gọn mà sao xúc động thế. Chị là một phụ nữ đẹp và vị tha. Đó là điều quý giá nhất ở phái đẹp trong quan niệm cố hữu của tôi. Vì thế, tôi quý chị ngay trong những ngày mới đến San Jose đầu tháng tháng 9 năm 2001, và cảm xúc này ở lại trong tôi suốt 10 năm nay mỗi khi nghĩ về chị. Gặp lại nhau cũng tại San Jose trong những ngày giữa tháng 10 này tôi càng thấy rõ điều mình đinh ninh đã không lầm. Chị viết trong thư: “Mấy hôm nay nhìn lại mình trong gương tôi chợt nhận ra, tôi đã không yêu tôi tí nào, tôi đã phí phạm thì giờ… Hy vọng sẽ gặp lại anh tại Hà Nội, lúc ấy tôi đã đòi lại được nụ cười rạng rỡ ngày xưa”.

nguyenhuechi.jpg 

Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi. (Hình:SVVN)

 Những gì chị nói không sai bởi với một con người vị tha thì sống cho người khác và cả cho những giấc mộng không tưởng rằng mình có thể xây dựng một sự nghiệp làm đẹp cuộc đời bằng trái tim nhiệt huyết, đó là bản năng tự nhiên mà chị. Chị đừng vận vào mình về những thất bại mà mình đã vấp. Cứ nhìn cho khắp mà xem trong cả một thế hệ chúng ta ai là người không thất bại đâu, chỉ có người dạng này người kiểu khác mà thôi. Nói gì lớp chúng ta, trẻ trung, xinh đẹp và giọng hát quyến rũ đến như TM mà chẳng mang một khuôn mặt rười rượi về sự tan vỡ mơ hồ đang không tránh khỏi đấy sao? Chị cầu mong cho tôi: “Thân chúc anh thành công trên đường tranh đấu đầy cam go này, Tôi tin anh sẽ thành công”. Lời chúc ấy đối với tôi cao quá. Thú thật, về một phương diện nào đó mà ví von, chúng tôi cũng đang làm những việc cầm chắc thất bại trong tay như chị đấy. Chúng tôi cũng chỉ muốn đòi lại nụ cười rạng rỡ cho một đất nước vốn rất hiền hòa chứ có làm gì bạo liệt đâu. Vậy mà khi cái ác đã công nhiên được chính danh trong bấy nhiêu năm bằng một triết lý ngó như cao thâm “ác cho mục tiêu thiện” thì thực hành điều thiện thiên tính là đối đầu với cái ác-thiện nhân tạo này mất rồi. Một giấc mơ không tưởng như thế mà chúng tôi vẫn cứ lao đầu vào mà không hề nghĩ đến thất bại, bởi lẽ sống của đám người có chút lương thức làm sao mà làm khác được hở chị, nếu không thì mình đâu còn là mình nữa. Có điều trong tình thế hôm nay, khi chúng tôi trước sau chỉ là những ông K đơn độc đứng trước LÂU ĐÀI như F. Kafka từng thủ thỉ kể cho mình từ nhiều thập niên trước, và đi quanh ngả nào thì trước mắt cái lâu đài vẫn cứ hiện ra sừng sững, một kiểu lâu đài ma mà mình tưởng đã nhìn thấu mọi ngóc ngách ma quỷ của nó song rốt cục nó vẫn cứ là một thực thể bất khả giải, chị thử nghĩ, để vững tâm cho được mà không hốt hoảng, phải biết tự chủ đến như thế nào.

Popiersie_Franz_Kafka_ssj_20060914.jpg 

Bronze statue of Franz Kafka in Prague – Nguồn: yahoo.com/images/

Trong tôi bao giờ cũng có một lời nhắc thầm lặng: mi hãy nhớ cái limite mà mi phải dừng và cứ giẫm chân qua lại trên đó đủ để gây một áp lực thức tỉnh cho ma nó sợ chứ đừng có hùng hổ và bồng bột khoa đuốc lên làm một ngọn đuốc sống tự đốt cháy mình trong phút chốc. Ai chê ai khen tôi vẫn cứ phải nghiêm túc nhắc nhủ mình như vậy tuy không dám nói là bỏ ngoài tai mọi sự phẩm bình.

Nhớ lại những ngày được cơ quan chức năng thăm hỏi, tối đến, trở về nhà, anh Phạm Toàn hầu như hôm nào cũng đến, tôi tìm một chai vang cất trên tủ tường, lôi xuống mở ra, vợ tôi thấy thế lặng lẽ đi rang một mớ lạc để vào trong cái khăn mặt để giữ nóng rồi lui ra, mặc cho hai anh em ngồi trầm ngâm nhìn vào bóng tối và cứ ngồi như thế cho tới quá nửa đêm lúc nào không biết nữa. Những thời khắc không bao giờ quên được đó câu thơ của Trần Tử Ngang sao mà cứ chập chờn như một ám ảnh: “Tiền bất kiến cổ nhân / Hậu bất kiến lai giả / Niệm thiên địa chi du du / Độc sảng nhiên nhi lệ hạ” (Trước, không thấy người xưa / Sau, người sau đâu thấy / Nghĩ trời đất thật vô cùng / Riêng mình đau mà lệ chảy). Quả thật, cả tôi và Toàn không ai nói với ai nhưng đều mường tượng trước mặt mình đoạn đường còn đi được quá ngắn mà bầu trời thì tối đen. Tuy nhiên, sau mấy tiếng đồng hồ nằm thiếp đi, sáng mai thức dậy ánh mặt trời rọi vào mắt lại có sức cứu rỗi mình. Ý thức mất đi và vô thức sống lại. Lại bình thản lên xe đi đến một nơi nào đấy để tiếp tục trả lời những câu hỏi như đã được lập trình sẵn và bỗng nhiên lại cảm thấy phấn chấn vì đã quên hết cái giới hạn sinh học ngắn ngủi của đời người thân phận trong hai thằng tôi cụ thể mà suốt đêm hôm qua cùng ngồi thao thức. Thì ra mới biết, mỗi chúng ta sống và hoạt động được là nhờ QUÊN. Nghĩ về Hoài – một người bạn quen biết từ đầu những năm 80 thế kỷ trước đến nay – hình như Hoài cũng đã dấn thân trong triết lý “quên” suốt từ khi đứng ra chủ trương talawas, để rồi sau 9 năm thì bỗng như có một tia sáng rọi vào đầu làm cho nàng chuyển “quên” thành “nhớ” và đấy chính là lúc sinh mệnh talawas chợt điểm. Hoài chấm dứt talawas để lại một sự đơn độc không thể bù lấp cho nhiều người bạn đã từng nhìn Hoài mà dấn bước, đã quen có trong tâm lý cái cảm giác phải có bạn bầu trong cuộc đi vô định, cuộc hành xác vất vả cực nhọc này mà đằng chân trời đã lấp ló một tia sáng nào chưa hay vẫn là một ảo ảnh trên sa mạc? Hình như vẫn chưa ai trả lời được câu hỏi ấy kể cả những người bặm trợn nhất.

Về chị, một trái tim phụ nữ dịu dàng và nồng thắm, những vấp váp trong tình cảm và đời sống là chuyện thường. Như đã nói với nhau tối hôm chia tay, chị hãy làm lại, trở lại với MÌNH. Chắc chắn ngày gặp lại nhau, tôi lại tìm thấy ở chị một khuôn mặt trẻ trung như trước hay hơn trước. Hy vọng chị cũng nghĩ về tôi như vậy.

Hai đêm ở nhà vợ chồng bạn NHL chúng ta hát và ngâm thơ đến 2 giờ sáng là hai đêm tuyệt diệu không một ai thờ ơ không thấy lòng trẻ lại, nó khiến tôi cứ bồi hồi nghĩ đến cái đêm cuối tháng 9 năm 2001 chúng ta hát thâu đêm trước lúc tôi về lại Boston. Tôi lại có thêm nhiều bạn mới TT, M, TM, TA… cũng là nòi tình vì yêu nhạc tiền chiến, say thơ tiền chiến. Đó là một hạnh phúc đối với tôi.

Chị hãy giữ lấy chiếc khăn lụa 10 năm trước như hôm gặp nhau chị đã quàng nó mặc dù nó đã sờn, và đừng bao giờ quên người bạn của chị ở tận bên kia bán cầu lúc nào cũng cầu mong cho chị hạnh phúc.

© 2010 Nguyễn Huệ Chi

 © 2010 talawas

 ————–

 (*) talawas sắp ngừng hoạt động

 Ngày 03/11 sắp tới, talawas sẽ tròn 9 tuổi và đồng thời ngừng hoạt động. Những ngày cuối cùng này, chúng tôi dành để chia tay độc giả, với loạt bài phỏng vấn của talawas và những bài viết, bản dịch mà các cộng tác viên gửi đến tòa soạn như một lời tạ từ. Toàn bộ dữ liệu của talawas bộ cũ cũng như của talawas blog sẽ được giữ nguyên vẹn tại địa chỉ truy cập không thay đổi.

Trân trọng mời quý vị và các bạn cùng chúng tôi hoàn thành chặng đường 9 năm qua.

Ban Chủ nhiệm talawas

 (**) Phạm Thị Hoài

Pham_Thi_Hoai_portrait.jpg

Phạm Thị Hoài sinh năm 1960. Bà là một nhà văn hiện đại, nhà biên soạn và dịch giả có tầm ảnh hưởng. Bà đang sống ở Đức.

Phạm Thị Hoài sinh ra và lớn lên tại tỉnh Hải Dương, miền Bắc Việt Nam. Năm 1977, bà đến Đông Berlin và học ở Đại học Humboldt, nơi mà bà đã tốt nghiệp chuyên ngành về văn khố. Năm 1983, bà trở về Việt Nam, sống ở Hà Nội, làm chuyên viên lưu trữ văn thư rồi bắt đầu viết văn một cách nghiêm chỉnh.

Năm 1988, quyển tiểu thuyết đầu tay của bà được xuất bản tại Hà Nội với tựa đề Thiên sứ rồi sau đó quyển này bị chính quyền Việt Nam cấm lưu hành. Về sau, Thiên sứ được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, ĐứcPhần Lan. Năm 1993, bản dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất” của tổ chức Frankfurter LiBeraturpreis trao tặng hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức. Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt giải Dinny O’Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000 [1]. Cũng trong năm này, Phạm Thị Hoài rời Việt Nam sang Berlin, nơi bà đang sống và làm việc hiện nay. Ở Berlin, bà sáng lập tạp chí Talawas trên Internetcó tầm ảnh hưởng lớn. Trong lời bạt bản dịch Thiên sứ của Tôn Thất Quỳnh Du, ông viết về Phạm Thị Hoài như sau:

“Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến đọc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai. Những viên chức văn hóa của Việt Nam phản đối cái nhìn phê phán của bà về nước Việt Nam hiện tại, bà đã vi phạm bởi sự thiếu tôn trọng truyền thống và phạm phải những điều cấm kỵ của xã hội […] Mặc dù bị công kích trên diễn đàn công khai, Phạm Thị Hoài chưa bao giờ là bị cáo về sự bất đồng quan điểm chính trị. Thay vào đó, những kẻ phỉ báng đã buộc tội bà là có cái nhìn bi quan quá đáng về Việt Nam, bà đã sỉ nhục “sứ mệnh thiêng liêng của một nhà văn”, thậm chí bà còn viết “dung tục” nữa. Nhưng, ngay cả những nhà phê bình mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một nhà văn có con mắt u ám trong việc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hước, song lại có thính giác tốt về nhịp điệu của tiếng Việt” [2].

Ngoài tác phẩm Thiên sứ, được ca ngợi trên bình diện quốc tế, Phạm Thị Hoài còn xuất bản những tiểu luận, hai tuyển tập truyện ngắn. Đó là Mê Lộ (1989) và Man Nương (1995). Ngoài ra, bà còn một tác phẩm khác là Marie Sến (1996). Bà là một dịch giả nổi tiếng về văn chương Đức. Bà đã dịch những tác phẩm của Franz Kafka, Bertolt Brecht, Thomas BernhardFriedrich Duerrenmatt sang tiếng Việt. Bà còn là người biên soạn quyển Trần Dần – Ghi: 1954-1960 (Paris, TD Mémoire, 2001), một tuyển tập các bài báo của Trần Dần. Những tiểu luận và truyện ngắn của bà xuất hiện trong những tạp chí văn chương ở Hoa Kỳ, Úc, Thụy Sĩ và Đức, ngoài ra còn xuất hiện trong một số tuyển tập về truyện Việt Nam đương đại, gồm có: Night, Again và Vietnam: A Traveler’s Literary Companion. Riêng quyển Sunday Menu, một tuyển tập truyện ngắn của bà do Tôn Thất Quỳnh Du dịch sang tiếng Anh, quyển này được xuất bản lần đầu tại Phápnăm 1977 với tựa đề Menu de dimanche, còn bản tiếng Anh Sunday Menu thì do Pandarus Books xuất bản tại Úc năm 2006 và được University of Hawaii Press xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2007.

1.        ^ “Tạm biệt và hẹn gặp lại”. Talawas (3 tháng 11 năm 2008). Truy cập 4 tháng 11 năm 2008.

2.       ^ Mạng văn học Talawas bị tường lửa Việt Nam chặn

800px-Kafka_Museum.jpg

Franz Kafka Museum …-Nguồn: //en.wikipedia.org/wiki/ 

 

(Theo: //vi.wikipedia.org/)

_____

___________________

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Gocomay's Blog

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

%d bloggers like this: