830 – Tâm sự của một người lớn tuổi nơi xứ người

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhâm Vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

Dịch nghiã:

Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ cây tươi tốt thu qua rụng rời

Xá chi suy thịnh sự đời

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành

(Thiền sư Thích Vạn Hạnh)

10389546_1431333540482340_5502003386915386140_n

Cách đây mấy tháng, tự dưng thấy có số điện thoại lạ gọi vào máy ở nhà, nhấc máy lên có một anh xưng tên Ý, được sự giới thiệu của chú Tiến Phú, muốn gặp đề bàn chuyện vận động thành lập hội người cao tuổi ở Landkreis (LK) *.

Thấy lập luận của anh Ý rất thuyết phục, tôi tán đồng ngay và hẹn gặp nhau cùng trao đổi. Lại nhớ cách đây hơn 3 năm, vào ngày 16.07.2011, trong Cuộc biểu tình chống Tàu trước LS quán Trung Quốc tại Hamburg, tôi đã lần đầu nom thấy anh ta từ xa. Hôm đó anh diện giầy giôn thắt cà vạt, khiến tôi cũng như nhiều người cứ tưởng nhân viên ĐSQ VN ở Berlin được cử tới thị sát cuộc BT, hóa ra nhầm to. Anh là kỹ sư, học ngành chế tạo máy từ thời DDR (Đông Đức), nay ở lại định cư, cùng gia đình kinh doanh ngành ẩm thực ở mạn “vùng sâu vùng xa” của Landkreis Harburg, lại khá kín tiếng, nên ít người biết mặt.

Trở lại chuyện vận động thành lập hội người cao tuổi, lúc mới phát động thì gần như 100% bà con nghe tin đều háo hức. Đến khi Ban vận động biểu quyết ấn định ngày ra mắt và bầu ban điều hành hội thì hóa ra ai cũng bận cả. Khách quan mà xét, các cụ chọn “ngày lành tháng tốt” trùng với Đại lễ Vu Lan của nhà chùa. Lại đúng dịp học trò nghỉ hè. Nên nhiều bà con phật tử và các gia đình có kế hoạch Urlaub (nghỉ phép) cùng con cháu là bất khả kháng mất rồi.

Mặc dù vậy, có tới hơn hai chục thành viên tham dự, đại hội đã thành công. Tại đây bà con thảo luận sôi nổi và thông qua bản điều lệ, bầu được Ban chấp hành; các Ban chuyên môn và các Chi hội trưởng ở ba khu vực chính trong LK. Có lúc cả khán phòng tưởng như bế tắc, khi cả hai người khởi xướng (anh Ý và tôi) đều xin rút không tham gia ban chấp hành. Trường hợp của tôi thì ngay từ đầu đã có nhời trước toàn thể anh em Ban vận động (BVĐ) rằng, chỉ dám xin chân “cố vấn” thôi. Qua hai đợt họp trù bị, tưởng đã thoát, phiếu phát ra với 9 đề cử bầu 5, bà con gạch xong và đã nộp gần hết cho Ban kiểm phiếu. Tự dưng tay thư ký đại hội (do bà con bầu) vì vắng mặt trong kỳ họp trù bị gần nhất không quán triệt tinh thần này la toáng lên nói rằng phiếu không hợp lệ bắt hủy phiếu bầu lại. Anh ta yêu cầu phải bổ xung thêm tên của tôi thành 10 đề cử để bà con bầu chọn 5. Đa số thắng thiểu số, hai vợ chồng tôi không thể chống lại đại hội nên đành ôm hận và buộc phải 2 lần phá bỏ lời nguyền. Lần lần thứ nhất là không tham gia là thành viên của bất kỳ hội đoàn nào. Lần thứ hai là không đảm nhận bất kỳ chức vụ nào, cho dù những việc làm mang lại lợi ích cho cộng đồng và xã hội vẫn luôn tích cực tham gia.

Ngay từ thời vang bóng ở nhà, có anh bạn đồng môn biết tính tôi không thích bị ràng buộc đã len lén đi họp lớp cảm tình (Đảng), cho tới khi chi bộ mang ra lấy ý kiến quần chúng tôi mới biết. Có người còn trách tôi: “có chuyên môn giỏi mà thiếu “hồng” thì cũng khó mà tiến xa được”. Những lúc ấy, tôi chỉ cười và tự an ủi mình rằng “nhà mình không có mả làm quan nên vào những chỗ bon chen mà làm gì…”

Nay sống tha hương nơi xứ người, thấy tôi có cảm tình với nhà chùa và những vị tu hành khả kính, có người đã ướm hỏi: “thế bao giờ thì anh qui y tam bảo?”. Những hội đoàn “chính chị chính em” cũng đôi ba lần vận động tham gia. Nhưng tôi nghĩ, cái tâm của mình hướng thiện và luôn trăn trở với quê cha đất tổ là được rồi. Đâu cứ nhất thiết phải “đánh trống ghi danh”.

Thấy tôi thi thoảng bày tỏ chính kiến trên trên blog cá nhân có người cạn nghĩ còn lầm tôi đã viết theo đơn đặt hàng của ai đó. Thực tình tôi chỉ viết cho nhu cầu cá nhân, chỉ với tâm nguyện “gạn đục khơi trong” hay cao hơn “ngăn ác khuyến thiện” mộc mạc như những bức tranh tết dân gian Làng Hồ thôi.

Sống ở xứ người hơn hai chục năm tôi đã đi dự được 5 đám tang thì có tới 4 đám đều chết trẻ (hai đám tai nạn; hai đám bị cảm ban đêm). Nhớ đám của cô Oanh người làng Gối (cách làng tôi đúng một cánh đồng), cô bị hung thủ (người Việt) bắn chết trong một vụ cướp nhà hàng Hồng Kông ở Sittensen. Khi lâm nạn cô mang Quốc tịch và sổ Hộ chiếu Việt Nam nên sở cảnh sát ở Rottenburg đã 3 lần gọi cho cán bộ phụ trách lãnh sự ĐSQ Việt Nam ở Berlin, nhưng cán bộ đùn đẩy nhau và không ai nhấc máy. Nghiã tử là nghiã tận, thương cho hoàn cảnh cô còn con nhỏ và song thân còn đang sống ở quê nhà, tôi đã viết giúp chú Dũng Quách (em họ) lời điếu văn. Đám tang lèo tèo qúa, chả có hội đoàn nào đứng ra lo ngoài nhà quàn ở nghĩa trang Sittensen (đương nhiên) cùng vài bà con thân hữu quanh vùng. May có anh Phạm Công Hoàng thỉnh được hai sư chú ở Chùa Viên Giác Hannover về kinh kệ và làm lễ cầu siêu cho người xấu số. Nay tại nơi mình cư ngụ đã có một hội những người lớn tuổi được thành lập, sao lại không vui mừng? 

Đành 2 lần bước qua lời nguyền để đi nốt chặng cuối của cuộc đời vậy!

Gocomay

_____

PS:

DSCN5570

Hình ảnh “Lễ thành lập Hội Người Lớn Tuổi LK. Harburg” ở đây:

https://www.facebook.com/vanph.vanpham/media_set?set=a.320524494774124.1073741858.100004497270167&type=1

Chú thích:

* Landkreis là đơn vị hành chính ở Đức to hơn cấp quận huyện của VN mình

__________________

829 – Nỗi buồn Ngày Báo chí cách mạng năm nay

Tranh biếm họa của Babui

Tranh biếm họa của Babui

Hôm qua đọc báo mạng thấy tờ Thanh Niên hồn nhiên đăng “Chùm ảnh diễn biến thảm sát đẫm máu Thiên An Môn, Trung Quốc” với chú thích khá đầy đủ lấy từ nguồn Reuters, AFP. Mình đã tấp tểnh khen rằng tờ báo có uy tín này đã dũng cảm “xé rào”, đem đến cho độc giả nguồn thông tin trung thực mà bấy nay luôn được dấu nhẹm. Cho dù cả thế giới đều biết khá tường tận. Ngoại trừ một số nước cá biệt, trong đó có Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Hơn tháng qua, những diễn biến ngoài biển Đông cho thấy, chưa hề có dấu hiệu lắng dịu khi Trung Cộng vẫn kiên quyết không rút giàn khoan về. Chúng cho hơn trăm tàu các loại, trong đó cỏ cả tàu quân sự tới bảo vệ giàn khoan HD 981 đang hoạt động trái phép trên vùng biển EEZ của Việt Nam, hung hăng phun nước và đâm húc làm hỏng hàng chục tàu kiểm ngư và tàu CSB chấp pháp của ta, đâm chìm tàu ngư dân ta. Lại còn tố ngược Việt Nam quấy rối gây bất ổn trên vùng biển lưỡi bò phi pháp của chúng.

Trước hiểm họa mất nước mất biển đã có nhiều cuộc xuống đường bày tỏ lòng yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân ta cả trong và ngoài nước đã tạo được tiếng vang lớn. Khiến kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ta phải khiếp sợ. Ai cũng nghĩ, sau phát biểu mạnh mẽ hợp lòng dân của ông Thủ tướng Dũng ở Philippines: Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông. Thì một chương mới trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc sẽ bắt đầu.

Nay với việc các bài báo đưa tin về thảm sát Thiên An Môn đã bị rút xuống… thì 16 chữ vàng và 4 tốt vẫn ngự trị trong não trạng những nhà quản lý tư tưởng VN (Hiệu Minh). Khiến người dân đừng có “viển vông” mơ rằng, sẽ đuổi được cái giàn khoan khổng lồ của “bạn vàng” ra khỏi lãnh hải của tổ quốc nữa nhé. Nay mai khoan xong ở Hoàng Sa, HD 981 và HD 982; 983 (đã, đang và sẽ đóng) tiếp tục kéo dọc theo lưỡi bò xuống Trường Sa nữa. Còn vị tướng to nhất của quân đội (dù là Phùng đại tướng hay gì đại tướng nào nữa) cũng luôn quán triệt phương châm:

“Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng”. Các “đỉnh cao trí tuệ” của VN coi những “va chạm gây căng thẳng” đó (như vụ HD 981) chỉ ở mức “diễn biến phức tạp” (Lời TBT Nguyễn Phú Trọng). Đã “gây bức xúc cho nhân dân Việt Nam, gây lo ngại cho các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế.” như lời ông Phùng Quang Thanh đã nói (ở đây). Việc tầy đình đang diễn ra sờ sờ trước mắt ngoài biển Đông nghiêm trọng thế mà các bác bê cê tê (BCT) nhà ta còn đơn giản nhẹ tênh được, huống hồ chuyện xe tăng chẹt chết người ở Thiên An Môn cách đây đã 1/4 thế kỷ.

P1150320Trả lời BBC sáng 5/6, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ cho biết “hoàn toàn không có chuyện kiểm duyệt” tin tức trong nước về sự kiện này. Như vậy chuyện rút bài là do Tổng biên tập hay do BTV Hoàng Uy ở báo Thanh Niên nghĩ lại, thấy “nhạy cảm” vì liên quan tới sinh viên, tới giới trẻ… Rồi tự ý rút bài?

Lại nhớ, cách đây hơn 8 năm, lúc cựu Phó Ban Tuyên giáo – Đào Duy Quát chưa bị “cậu đánh máy” làm mất mặt vụ đăng bài ca ngợi Trung Cộng tập trận ở Biển Đông theo quan điểm của Hoàn Cầu thời báo, ông Quát đã lớn tiếng căn vặn các em sinh viên trong một hội nghị (tháng 3/ 2008) rằng: Tôi hỏi các em, nói Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam như thế có lợi hay hại? Lợi hay hại?

Xa hơn, vào dịp đầu xuân Giáp Dần-1974, chính tai tôi được nghe phổ biến: Bạn Trung Quốc đánh Nguỵ Sài Gòn ở Hoàng Sa là đánh giúp ta nhằm tiêu hao sinh lực Mỹ Ngụỵ để giúp ta Giải phóng Miền Nam…

Hồi TBT Đỗ Mười còn trị vì, GS-Bác sỹ Viện Pháp Á – Trần Đại Sỹ (Việt Kiều Pháp) chỉ vì can tội công bố Công hàm (Công thư) của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – 14.09.1958 mà đã bị ông Mười cấm không được về Việt Nam vì can tội “phao tin thất thiệt” (?).

Nhiều thành viên tích cực trong các cuộc biểu tình chống Tàu Cộng thành lập Khu hành chính Tam Sa (vùng HS-TS của VN) từ cuối năm 2007 bị ngược đãi, bỏ tù. Nhiều người (như Anh Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải) tới nay vẫn trong vòng lao lý. Nhiều người nổi tiếng (như Nhà thơ Đỗ Trung Quân) tới nay vẫn bị an ninh sách nhiễu đeo bám không rời.

Xâu chuỗi lại toàn bộ các sự kiện lớn nhỏ, ai cũng thấy dù ưa hay không ưa Tàu Cộng, giới lãnh đạo cao nhất của chế độ đương thời vẫn nuôi ảo tưởng nương nhờ cái bóng của người anh em cùng ý thức hệ để bảo vệ chiếc ghế quyền lực của cá nhân và phe nhóm, bất chấp nguyện vọng chính đáng của ruyệt đại đa số nhân dân, bất chấp xu thế của thời đại.

Cách đây 2 hôm, nhà báo Huy Đức, tác giả của cuốn Bên thắng cuộc vừa viết trên “Phây” cá nhân của mình rằng: Cựu thứ trưởng Bộ Nội vụ đặc trách An ninh, Trung tướng Võ Viết Thanh (1987-1991), kể: “Gặp các vị đương chức tôi hay hỏi: Nếu bây giờ tranh cử với một người chủ trương dân chủ, chủ trương kinh tế thị trường mà quý vị vẫn chủ trương ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’, chủ trương chuyên chính vô sản, chủ trương ‘quốc doanh chủ đạo’, dân có bầu cho quý vị không? Các vị ấy trả lời: Không. Tôi bảo, sao quý vị biết lòng dân như vậy mà vẫn cứ cố tình nói khác, làm khác!”… (Xem ở đây)

Tại Hội nghị Tổng kế công tác Tuyên giáo vào ngày 9/1/2013 ở Hà Nội, ông TBT Nguyễn Phú Trọng đã nói:Thế lực thù địch làm giảm niềm tin của nhân dân vào đảng, âm mưu “Làm xanh hóa cái đầu đỏ!”; “Bây giờ các thế lực bên ngoài thấy chúng ta chăm chút công tác tư tưởng, uốn nắn những tư tưởng lệch lạc, thì họ bảo là bất đồng chính kiến chúng ta lại đi trừng trị, vi phạm quyền con người!…”.

Tại cuộc tiếp xúc cử tri Quận Tây Hồ ngày 14/5/2013, ĐBQH Nguyễn Phú Trọng chia sẻ:

“Vấn đề chủ quyền biển đảo là rất quan trọng cho nên phải gìn giữ, thứ hai là phải làm sao giữ được ổn định hoà bình để phát triển, không xảy ra những cái phức tạp dẫn đến xung đột, không còn điều kiện để mà phát triển”.

Tại cuộc tiếp xúc cử tri Quận Ba Đình chiều hôm 28/6/2013, ĐBQH Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định:

“… phải xử lý làm sao để giữ môi trường hòa bình. Nếu xảy ra va chạm, xung đột thì tình hình đất nước thế nào? Còn môi trường hòa bình mà phát triển không? Nếu không cẩn thận sẽ mắc phải âm mưu kích động”.

Trước đó, trong hai ngày 5 và 6/1/2013, TBT Nguyễn Phú Trọng thăm và làm việc tại tỉnh Lao Cai, ông đã đưa ra ý kiến chỉ đạo, không chỉ riêng cho Lao Cai: “Tiếp tục vun đắp quan hệ láng giềng tốt, xây dựng hòa bình và hữu nghị, chống âm mưu phá hoại từ bên ngoài, ổn định hợp tác phát triển cùng nước bạn!”.

Tới đây có lẽ chẳng cần bình luận thêm điều gì nữa. Bởi nếu không có những “chủ trương lớn của đảng và nhà nước” xuyên suốt chiều dài lịch sử giữa hai đảng CS anh em “môi hở răng lạnh” thì làm sao anh cựu Phó Quát dám mở miệng: “Nói HS-TS của Việt Nam như thế lợi hay hại?”. Nay giàn khoan to như cái sân chơi bóng đá (HD 981) đâu có rễ dàng tiến sâu vào bên trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của VN hơn trăm Km như thế nếu không có những người mẫn cán chăm lo “Tiếp tục vun đắp quan hệ láng giềng tốt, xây dựng hòa bình và hữu nghị” như ông Tổng Trọng. Vụ giàn khoan khủng HD 981 mà báo chí của Trung Quốc không khua chiêng gõ mõ, chắc gì báo chí VN dưới bàn tay sắt của anh Huynh anh Kỷ đã dám đưa tin?!

Đó chính là nỗi buồn lớn của nền Báo chí Cách mạng VN trước thềm dịp kỷ niệm lần thứ 89 này. Nếu cái cam kết hợp tác chặt chẽ về tuyên giáo tuyên truyền kia giữa hai đảng cầm quyền cùng hệ vẫn chưa bị ném vào sọt rác thì việc đưa lên hay rút xuống những bài không có lợi cho sự “ổn định hợp tác phát triển cùng nước bạn” cũng chẳng cần phải bàn nữa. Trừ phi, tất cả các nhà báo xứ này khảng khái như nhà báo (đã mất việc) Nguyễn Đức Kiên.

Xin đừng ai trách móc các cháu học sinh phổ thông tại sao lại thờ ơ với môn sử. Cho dù cách đây 2/3 thế kỷ, tác giả của “Lá Cờ Thêu Sáu Chữ Vàng” (nhà văn Nguyễn Huy Tưởng) đã từng nói “Người không biết lịch sử dân tộc mình như con trâu cày. Mà cày với ai cũng được và cày ruộng nào cũng được”.

Cũng xin đừng ném đá người đẹp Thu Phương trong cuộc thi hoa hậu Đại dương cách đây gần 2 tuần đã hồn nhiên trả lời: “Em muốn người Trung Quốc hãy mở giàn khoan đó ra, và để cho đất nước Việt Nam của em ngày càng xinh đẹp hơn”.

Những ngày qua, nhiều đêm tôi cứ trăn trở với câu hỏi:

Nếu Tổ quốc mai này không còn biển?

Đêm qua, mải chụp bông hoa quỳnh nở đúng lúc khắp hành tinh thắp nến tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn 25 năm trước. Mệt qúa, tôi thiếp đi lúc nào không hay. Trong cơn mơ tuôn đầy nước mắt, tôi giật mình thấy các hồn ma ngư dân biển Miền Trung hiện về khóc than:

Sao lại để con cháu chúng tôi phải mò cua bắt cá ở ven bờ thế này…

Gocomay

____

PS:

Chùm ảnh diễn biến sự kiện thảm sát đẫm máu Thiên An Môn, Trung Quốc

04.06.2014  12:15

(TNO) Ngày này (4.6) cách đây 25 năm về trước, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã dùng xe tăng và binh sĩ tấn công vào những người biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn.

Cuộc biểu tình bùng phát vào tháng 4.1989, với phần lớn người tham gia là sinh viên, theo trang tin tức The Atlantic (Mỹ).

Vào ngày 20.5.1989, tình trạng thiết quân luật đã được thiết lập và quân đội đã được điều động đến Thiên An Môn.

Từ tối 3.6 đến đầu ngày 4.6 (giờ địa phương), PLA đã cho xe tăng vào quảng trường cán một số người biểu tình và binh sĩ cũng đã bắn vào nhiều người khác, The Atlantic cho biết.

Bắc Kinh chưa bao giờ công bố con số thương vong, nhưng theo ước tính của các nhà hoạt động thời đó, đã có từ vài trăm đến vài ngàn người chết.

Được biết, vào hôm 3.6, Trung Quốc đã bắt giữ nhiều nhà bất đồng chính kiến trong nước và tiến hành một chiến dịch an ninh quy mô chưa từng có tại trung tâm Bắc Kinh để ngăn các hoạt động kỷ niệm sự kiện Thiên An Môn lần thứ 25.

Ngoài ra, chính quyền Bắc Kinh cũng chỉ đạo khóa một số trang web của Google tại Trung Quốc, AFP cho hay.

Sau đây là những hình ảnh ghi nhận lại sự kiện Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 được đăng tải trên AFP và Reuters:

1

Hòa cùng khoảng 200.000 người biểu tình tiến vào Quảng trường Thiên An Môn, một sinh viên Trung Quốc giơ cao biểu ngữ kêu gọi ủng hộ một Trung Quốc dân chủ vào ngày 22.4.1989

2

Sinh viên Trường đại học Bắc Kinh tham gia biểu tình tuyệt thực vô thời hạn phản đối chính phủ Trung Quốc tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 18.5.1989

3

Những người biểu tình ủng hộ dân chủ giơ cao nắm đấm và biểu tượng chiến thắng tại Bắc Kinh khi đang ngăn không cho một chiếc xe tải quân sự chở lính tiến vào Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 20.5.1989, ngày cựu Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng ban bố tình trạng thiết quân luật

4

Một chiếc trực thăng quân đội rải truyền đơn tại Quảng trường Thiên An Môn, yêu cầu các sinh viên biểu tình rời khỏi quảng trường này ngay lập tức vào ngày 22.5.1989

6

Một sinh viên khoa mỹ thuật tạc tượng “Nữ thần Dân chủ”, cao 10 m, tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 30.5.1989. Bức tượng này đã được đặt trước Đại lễ đường Nhân dân và trước Đài Tưởng niệm Các Anh hùng Nhân dân để quảng bá cho cuộc biểu tình chống chính phủ Trung Quốc. Trong thông cáo của mình, các sinh viên tạc bức tượng cho biết: “Hôm nay, tại Quảng trường Nhân dân, Nữ thần của nhân dân đứng sừng sững và thông báo với toàn thế giới rằng: Sự thức tỉnh về dân chủ đã trỗi dậy trong lòng người dân Trung Quốc. Một thời kỳ mới đã bắt đầu”

7

Một sinh viên biểu tình chống chính phủ Trung Quốc kêu gọi binh lính trở về nhà trong khi càng nhiều người tràn vào trung tâm Bắc Kinh ngày 3.6.1989

8

Những người lính Trung Quốc chen lấn với đám đông người biểu tình tại trung tâm Bắc Kinh vào ngày 3.6.1989

9

Binh sĩ PLA nhảy qua một hàng rào để tràn vào Quảng trường Thiên An Môn ngày 4.6.1989 để trấn áp người biểu tình. PLA được cho là đã được lệnh quét sạch biểu tình khỏi quảng trường không chừa một ai trước 6 giờ sáng hôm sau

10

Một xe thiết giáp bị người biểu tình đốt cháy gần Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4.6.1989

11

Một cô gái bị thương do xô xát với quân đội đang được cáng ra khỏi Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4.6.1989

12

Một lính lái xe tăng quân đội Trung Quốc được một số sinh viên giúp đỡ sau khi anh này bị đám đông biểu tình tấn công tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4.6.1989

13

Một phóng viên nước ngoài bị thương trong các vụ đụng độ giữa quân đội và người biểu tình đang được cáng ra khỏi Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4.6.1989

14

Binh sĩ Trung Quốc áp giải một người đàn ông bị còng tay tại Bắc Kinh hồi tháng 6.1989 trong giai đoạn quân đội và cảnh sát lùng bắt những người có liên quan đến cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn

15

Một người dân đứng chắn trước hàng xe tăng quân đội Trung Quốc vào ngày 5.6.1989 để phản đối việc chính phủ đàn áp người biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn

16

Đứng cạnh một chiếc xe tăng đậu gần một tòa nhà ngoại giao chính phủ ở Bắc Kinh, một người lính Trung Quốc cầm súng dọa nạt người đi đường

17

Một người dân Bắc Kinh ngụ ở khu vực phía tây Quảng trường Thiên An Môn trưng ra đầu viên đạn đã bay xuyên qua cửa sổ căn hộ anh này

18

Người dân Bắc Kinh đứng nhìn những chiếc xe thiết giáp bị người biểu tình đốt cháy nhằm ngăn không cho quân đội di chuyển vào Quảng trường Thiên An Môn vào hôm 4.6.1989

20

Du khách và nhân viên an ninh tụ tập tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4.6.2012. Rất nhiều camera an ninh được thấy trên từng cột đèn ở quảng trường

21

Cảnh sát kiểm tra hình chụp của một người đàn ông tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4.6.2012, ngay dịp lễ kỷ niệm lần thứ 23 sự kiện Thiên An Môn

22

Tại Công viên Chiến Thắng ở Hồng Kông vào ngày 4.6.2012, hàng chục ngàn người Hồng Kông tham gia vào lễ thắp nến tưởng niệm sự kiện quân đội Trung Quốc trấn áp người biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn hồi năm 1989

23

Người dân Hồng Kông tham gia vào lễ thắp nến tưởng niệm sự kiện quân đội Trung Quốc trấn áp người biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn hồi năm 1989

CHINA-TIANANMEN-ANNIVERSARY

Cảnh sát vũ trang Trung Quốc đứng gác tại Quảng trường Thiên An Môn ngày 4.6.2014

CHINA-TIANANMEN-ANNIVERSARY

Các ngã đường tiến vào Quảng trường Thiên An Môn đều được canh gác nghiêm ngặt từ đầu tháng 6

Hoàng Uy
Ảnh: Reuters, AFP

P1150320

Ảnh Gocomay chụp lúc 04.06.2014  12:15 (giờ VN) – Khi TNO chưa hạ bài…

_____________________

 

828 – Con đường lên cao nguyên Lang Bi-an

tPo4lzTAk3gBfo94aK4OQANhững ngày cuối tháng 4 cách đây đúng 29 năm, nhân có chuyến công cán của bác sỹ Trâm, Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang vào TP Hồ Chí Minh họp, nhóm làm phim dịch hạch được kết hợp theo xe vào Sài Gòn.

Con đường chúng tôi đang đi, thời Ông Năm Yersin mới đặt chân tới Việt Nam, di chuyển đâu có thuận tiện như bây giờ.

Trước khi trở thành một nhà bác học danh tiếng và dành toàn bộ tâm lực cho nghiên cứu khoa học, Yersin đã để nhiều năm lao vào các cuộc thám hiểm.

Những trang nhật ký hiện còn lưu trữ ở Pasteur Nha Trang cho thấy, từ hạ tuần tháng 10 năm 1890, bác sĩ Yersin làm y sĩ phục vụ trên tuyến đường Sài Gòn-Manila. Đến tháng 4 năm 1891, ông chuyển sang làm y sĩ trên tàu “Saigon”, hoạt động trên tuyến đường biển Sài Gòn – Hải Phòng. Cuộc sống trên tàu đối với một y sĩ trẻ, có lẽ buồn tẻ. Để giết thì giờ, Yersin tập làm quen với khoa hàng hải. Ông đặt mua từ Pháp một máy kinh vĩ (théodolite) và trong lúc rảnh rỗi, ông tập sử dụng máy trên bến Nhà Rồng ở Sài Gòn.

Nha Trang là một trong những trạm dừng của tàu “Saigon”. Ngay từ lúc đầu, cảnh đẹp của Nha Trang đã hấp dẫn Yersin. Rặng núi cao ở chân trời phía Tây quyến rũ, khiến chàng bác sỹ trẻ nảy sinh dự định dùng đường núi để đi từ Nha Trang đến Sài Gòn trong vòng mười ngày!

Ngày 29.7.1891, được phép của thuyền trưởng tàu Sài Gòn, Yersin và người hầu bắt đầu chuyến thám hiểm đầu tiên. Nghe lời khuyên của công sứ Pháp ở Nha Trang, Yersin dùng ngựa đi vào Phan Rang. Mục tiêu khám phá là rặng núi cao mây phủ phía tây. Nhưng ông đã phải loay hoay suốt dải đồng bằng hẹp miền trung như thế để dò la và tìm lối đi thuận tiện cho cuộc hành trình.

Chuyến thám hiểm bất thành năm 1891 không làm Yersin nản chí, ngược lại còn kích thích lòng say mê mạo hiểm nơi ông. Cuối năm 1891, ông rời hãng tàu Messageries Maritimes để thực hiện chuyến đi của mình. Ông tiếp tục chuyến thám hiểm như thế kéo dài tới bốn nǎm ở miền trung. Ông đã tìm ra thượng nguồn sông Đồng Nai và khám phá cao nguyên Lâm Viên, nơi ông đề nghị xây dựng một đô thị, đó chính là Đà Lạt ngày nay.

Vào tới Thành Phố Hồ Chí Minh, nhóm chúng tôi được giới thiệu làm việc với bác sỹ Phạm Xuân Long, người trực tiếp theo dõi các phác đồ điều trị và hiện trạng của bệnh dịch hạch của Viện Pasteur Sài Gòn ở các tỉnh phía nam. Thành Phố HCM hồi đó còn khó khăn lắm. Dân chúng vẫn phải ăn bo bo độn cơm. Nghèo đói, dịch bệnh, trong đó có dịch hạch vẫn lẩn quất quanh đây. Tránh gây hoang mang cho dân chúng và du khách dịch bệnh không bao giờ được công bố. Vì thế việc làm phim của chúng tôi không bị cản trở mà cũng chẳng được hoan nghênh.

Trước bế tắc đó, bác sỹ Phạm Xuân Long rỉ tai tôi: “muốn cải thiện được tình hình, các ông nên nên vận động thuyết phục được hai trưởng lão hàng đầu về dịch tễ là Hoàng Thuỷ Nguyên và Đặng Đức Trạch, các ông ấy sẽ bay từ Hà Nội vào dự Hội nghị Tổng kết công tác vệ sinh phòng dịch toàn quốc ở Sài Gòn lần này đấy! Nếu có ý kiến ủng hộ của hai bậc cây đa cây đề đầu ngành, thì đảm bảo các ông sẽ thuận lợi hơn…”.

Tôi liền gặp bác sỹ Trịnh Quân Huấn và bác sỹ Lê Diên Hồng (*) vừa bay từ Hà Nội vào chuẩn bị cho hội nghị để nhờ vả. Đốc tờ Hồng là Cố vấn Khoa học cho phim, nên ông nhận lời ngay. Sau hội nghị, buổi tối hôm đó, bác sỹ Phạm Xuân Long hẹn tôi, Sinh, Khang và Nhung tới chơi ở nhà riêng ở đường Điện Biên Phủ. Vừa trông thấy tôi, Phạm Xuân Long đã lắc đầu buồn rầu nói, trước lúc khai mạc hội nghị, trong cuộc gặp gỡ xã giao giữa các tai to mặt lớn trong ngành thì Lê Diên Hồng có đưa ra bàn việc giúp đỡ cho đoàn làm phim dịch hạch của các ông. Nhưng không hiểu sao cụ Trạch lại vờ như không nghe thấy và đưa chuyện bóng đá ra bình luận sôi nổi. Khiến ông Hồng cụt hứng mà không bàn được câu nào nữa. Sau này tôi mới biết vị GSTS danh tiếng về vi trùng (Đặng Đức Trạch) này lại là bạn rất thân với khắc tinh Lương Đức của tôi. Không biết có phải vì như vậy mà công việc của chúng tôi bị ghẻ lạnh hay không? có lẽ chỉ có các vị ấy mới trả lời được câu hỏi này. Trước tình hình đó, tôi đành phải áp dụng kiểu “chiến tranh du kích” mà “trường kỳ kháng chiến“ vậy.

Càng giáp ngày 30 tháng tư, Sài Gòn bận lo kỷ niệm 10 năm ngày giải phóng, nên chẳng cơ quan nào nhận lời giúp chúng tôi quay phim, ngay cả khách sạn bình dân Bến Nghé, nơi quen thân với hãng phim như người nhà cũng từ chối, vì chật kín khách thập phương. Chúng tôi lang thang các nhà trọ với cơm bụi bà Cả Đọi (32 Ngô Đức Kế) mà chẳng làm được việc gì, đành tính nước “mã hồi“.

Sau khi tiễn chị Nhung, là thu thanh của phim ra Hà Nội nhận công việc mới, chúng tôi theo xe (vừa tan hội nghị) của Viện Pasteur Đà Lạt lên cao nguyên Lang Bi-an. Cảnh quay ở Pasteur Đà Lạt không nhiều. Nhưng tránh Sài Gòn lúc này là giải pháp hợp lý nhất cho tình huống bất lợi đang diễn ra.

Từ Sài Gòn theo quốc lộ 20 chừng 300 cây số là đến Đà Lạt. Con đường hai bên ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Vượt qua mấy cung đường dốc đứng tai ù, xe đã đưa chúng tôi tiến dần vào thành phố. Vào hạ, nắng vàng ươm trên con đường quanh co. Hương thông thơm hăng hắc, những tán thông xanh đu đưa trên nền trời và như nô đùa cùng nắng chiều trên mặt đường lấp loáng xe bon. Xế chiều, Đà Lạt bất chợt hiện ra. Xa xa bảng lảng sương trong ánh hoàng hôn và gió ngàn vi vu. Phố núi thoắt ẩn hiện sau những khúc quanh. Đà Lạt nom như một bức tranh thủy mạc. Mẹ thiên nhiên đã ban tặng cho Đà Lạt qúa nhiều ưu ái hay sao mà nơi đây không khí mát mẻ quanh năm với rừng thông bạt ngàn, những vạt hoa cúc qùy như bất tận hai bên đường đi. Xen kẽ vô vàn biệt thự lô nhô trên các sườn đồi cao thấp theo phong cách kiến trúc của Âu Châu tọa lạc sau các tán thông già.

Hotel  Sofitel Dalat Palace

Hotel Sofitel Dalat Palace

Lên Đà lạt lần này là lần thứ 3, cách đây gần 5 năm, đi chung với đoàn thám hiển Intercosmos tôi đã được ngự trong những Hotel sang trọng nhất – Sofitel Dalat Palace, nằm trên qủa đồi nhìn xuống Hồ Xuân Hương thơ mộng. Lên Đà Lạt lần này, chúng tôi được bố trí ở nhà khách của Viện Pasteur. Để tránh làm phiền, tôi bàn với Sinh và Khang chỉ ngủ trọ tại nhà khách. Còn ăn thì kéo nhau ra chợ Đà Lạt ăn cơm bụi. Vừa rẻ lại vừa hợp khẩu vị. Cũng món rau xanh, mà sao ở đây ăn cảm thấy tươi ngon lạ. Do thiên nhiên cao nguyên trong lành quá, hay món rau ở Đà Lạt hơn hẳn mọi nơi khác. Có lẽ do cái không khi dịu mát và còn cả leo dốc cuốc bộ nhiều, mau đói, nên chúng tôi cảm thấy ngon miệng hơn chăng?

Tranh thủ thời gian lưu lại ở cao nguyên Lang Bi-an chờ cho qua cái dịp lễ lớn 30 tháng tư, tôi lại say mê với các đống tư liệu (có lẽ ít người để ý) mô tả về những chuyến thám hiểm cao nguyên Lâm Viên của ông Năm-Yersin hồi đầu thập niên 90 của thế kỷ 19, được lưu giữ khá đầy đủ ở ngay trong Chủng viện Pasteur Đà Lạt này.

Đây rồi, trong một ghi chép tôi đọc được: Ngày chủ nhật 3.8.1891, Yersin cùng với người hầu và bốn phu khuân vác đi vào vùng núi. Lương thực mang theo chỉ có vài hộp thịt bò muối và vài hộp bánh quy khô, cộng thêm một số lương thực do các quan chức người Việt ở Phan Rí cung cấp thêm. Lúc đó đang vào mùa có gió mùa Tây Nam, mỗi ngày đều có mưa rào lớn. Yersin đi theo đường mòn từ làng Kalon ở chân núi qua Ta Ly đến Ta La (vùng phụ cận Djiring). Nơi đây, ông thấy không thể tiếp tục đi được nữa, vì cuộc hành trình đòi hỏi ít nhất từ 9 đến 10 ngày đi bộ trong khi đã cận ngày ông phải lên tàu đi Bắc Kỳ. Mặt khác, ông đang lâm vào tình trạng khá tồi tệ: giày vớ rách bươm, dáng vẻ mệt mỏi. Do đó, ông quyết định đi đến địa điểm gần nhất là Phan Thiết: từ đó ông trở về Nha Trang bằng ghe và kịp lên tàu đi Quy Nhơn.

Trên thực tế, có một người Việt tên là Nguyễn Thông (1827-1884) và hai người Pháp là Néil và Albert Saptens đã từng đặt chân tới cao nguyên Lang Bi-an, tuy nhiên sự hiện diện của họ không để lại một dấu ấn gì. Chuyến đi lịch sử của nhà thám hiểm trẻ tuổi Yersin vào cuối năm 1891 từ làng Kalon sát chân dãy Trường Sơn Nam (nay thuộc Phan Sơn, Bắc Bình, Bình Thuận) đã băng qua vùng rừng núi đầy hiểm trở Tánh Linh, Phan Rí, Phan Rang… kéo dài nhiều tháng để rồi dừng chân ở mảnh đất đầy thơ mộng Đà Lạt.

Năm 1897, ông đề xuất với Toàn quyền Đông Dương, Paul Dumer, chọn Đà Lạt làm điểm xây dựng trạm điều dưỡng. Sau đó là chuyến đi cao nguyên cùng với vị Toàn quyền Đông Dương, để thành lập trạm điều dưỡng trên cao nguyên Lang Biang – tiền thân của thành phố Đà Lạt sau này.

Ngày xưa bác sĩ Yersin đi bằng ngựa cùng hai người địa phương dẫn đường. Trong hồi ký Bảy tháng nơi xứ Thượng, bác sĩ Yersin có kể lại việc gặp gỡ hai nhóm người Việt trên đất Lâm Đồng. Đó là nhóm của Tong Vit Ca, một người Việt nhận khoán việc thu thuế ở vùng cao nguyên; và nhóm chính trị phạm do Thouk cầm đầu. Tài liệu của Yersin cho thấy người Việt vào thời đó (nhất là những người thu thuế, buôn bán, trộm cướp, chính trị phạm…) vẫn thường xuyên lui tới vùng cao nguyên bên dưới, xung quanh Đà Lạt (với độ cao trung bình từ 900 đến 1000m).Yersin vốn có thói quen viết thư cho mẹ mỗi ngày. Ông kể cho mẹ nghe tất cả những chuyện đang xảy ra, cũng nhờ những bức thư này mà cuộc đời của ông đã được biết đến một cách sống động và chi tiết. Chuyến thám hiểm đầu tiên năm 1891 tìm ra cao nguyên Di Linh cũng đã được lưu giữ từ những lá thư này…. khối núi cao nhất Di Linh, Braian 1.196m và qua thung lũng suối Da Riam nữa là đến bến đò qua lòng hồ Da Riam về thị trấn Di Linh.

Từ 28.3.1892 đến 9.6.1892, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Daklak để đến Stung Treng- nằm bên bờ sông Mékong (thuộc địa phận nước Cam-pu-chia). Cuộc thám hiểm này được thực hiện theo yêu cầu của đại úy Cupet, một thành viên của phái bộ Pavie.

Tháng 10 năm 1892, Yersin đi Paris để đưa các kết quả khảo sát cho đại úy Cupet, đồng thời tìm cách vận động để được tiếp tục thám hiểm. Nhờ sự giúp đỡ của một số người quen (nhất là nhà bác học L.Pasteur và người bạn thân của ông là giáo sư Emile Duclaux), Yersin được Bộ giáo dục Pháp cấp kinh phí để thực hiện một nhiệm vụ khảo sát khoa học.

Từ nước Pháp trở lại Sài Gòn vào tháng 1 năm 1893, Yersin đến gặp toàn quyền De Lanessan. Ông này chính thức giao cho Yersin nhiệm vụ khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng người Thượng và kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Kỳ. Ngoài ra, Yersin còn phải tìm hiểu về tài nguyên trong vùng: lâm sản, khoáng sản, khả năng chăn nuôi v.v… Địa bàn thám hiểm được chỉ định là “một vùng ở Nam Trung Kỳ, nằm giữa bờ biển và sông Mékong, là vùng đầu nguồn của các con sông Đồng Nai và Sé-Bang-Kane”.

Cùng đi với Yersin có ông Wetzel, một trong những người gác rừng giỏi nhất ở Nam Kỳ, cũng là một thợ săn voi và tê giác rất gan dạ. Về phía nhân sự người Việt, có bốn người dân Sài Gòn: Bảy (người đã từng đi thám hiểm cùng Yersin năm 1892) và ba người phụ bếp do chính ông này chọn. Nhưng do chuyến đi quá dài nên sau đó ông Wetzel không thể tham gia, chỉ còn mình ông Năm và các người dẫn đường tiếp tục cuộc hành trình.

Vật dụng được đựng trong nhiều chiếc rương nhỏ, chủ yếu bao gồm những hàng nhu yếu phẩm dùng để trao đổi với ngưới Thượng. Về dụng cụ thám hiểm, Yersin mang theo một máy kinh vĩ (théodolite) và ba thời kế (chronomètre) nhằm để xác định vị trí trong khi đi thám hiểm. Yersin cũng mang theo một số thuốc chủng bệnh đậu mùa (sởi) để chủng ngừa cho dân các vùng ông đi qua.

Ngày 14.4 đoàn rời Lao Gouan tiến về phía Bắc, vượt dòng Da Gnine (tức Da Nhim) – một trong hai nhánh chính của sông Đồng Nai, sau một ngày đi bộ, Yersin đến làng Rioung, nằm gần nhánh thứ hai của sông Đồng Nai: Da Dong (tức Da Dung). Rioung (có thể là làng Riong Bolieng ngày nay) là một làng Thượng chuyên sống về nghề rèn, một điểm giao lưu quan trọng vào thời đó. Cao nguyên xung quanh Rioung trơ trụi, những đàn nai đông đảo thường chạy qua đó. “Nếu từ Rioung, người ta tiếp tục đi về phía Bắc, điạ hình sẽ trở nên rất nhấp nhô và dâng cao dần cho đến núi Lang Bian. Núi này, cao hơn 2.000m, đã được các ông Néis và Humann thám sát. Đó là nơi phát nguyên của sông Đồng Nai”.

Yersin hoãn cuộc khảo sát núi Lang Bian vào giai đoạn sau và tiếp tục đi về phía Tây Nam, với sự hướng dẫn của Tong Vit Ca.

Để đi đến Ta La, đoàn thám hiểm phải đi qua một số làng lớn (Kla Kar, Con Tan và La Ra) – nằm giữa một vùng cao nguyên trơ trụi phủ toàn cỏ tranh.

Một ngọc thác trên thương nguồn sông La Ngà

Một ngọn thác trên thương nguồn sông La Ngà

Ngày 25.4 Yersin đến Ta La, diện mạo của cao nguyên thay đổi. Cao nguyên bao gồm nhiều đồi lúp xúp nhô lê giữa các thung lũng nhỏ. Bên dưới ruộng lúa hoặc thảm cỏ mịn, xanh tốt mặc dù đang là mùa khô hanh. Rừng thông phủ dày trên các ngọn đồi. Làng mạc thưa thớt nằm ngoạn mục ven các sườn đồi. Ông chánh tổng cư trú ở Ta La, nơi có ngôi nhà làng dành cho khách lạ. Cạnh đó là dòng Da Riame, một chi lưu của sông La Ngà. Dòng nước này tưới và làm phì nhiêu các ruộng lúa, chảy quanh co…

Ta La nằm ở vùng phụ cận Djiring (Di Linh) là nơi Yersin đã từng đến vào năm 1891. Người Thượng ở vùng này khá giàu, có những đàn trâu đông đến vài trăm con. Họ có tục lệ đâm trâu vào những dịp lễ lớn, cứ mỗi con trâu bị giết, lại dựng cạnh nhà một cây nêu bằng tre cao khoảng 20 mét, được neo chặt bằng những sợi dây chão làm bằng mây trang trí cờ đuôi nheo. Trong một vài làng, Yersin đếm được tới 30 cây nêu. “Nhìn từ xa, người ra tưởng chừng nhìn thấy cả một hạm đội trong một hải cảng”.

Yersin dừng chân ở Ta La vài ngày và dùng ngựa đi xem vùng phụ cận. Ở gần làng Ia Lane có một mỏ thiếc lộ thiên nằm trong dãy núi Bréan (tức Braian). Sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Đi qua làng Yane – làng quan trọng cuối cùng trên cao nguyên, ông xuống thung lũng sông La Ngà, đến làng Droum (có lẽ là làng Kondroum ngày nay). Đêm hôm trước cọp đã vồ hai người Thượng ngay giữa ban ngày. Từ Droum, ông vượt sông La Ngà để đến làng Tô La, nơi Humann đã đến vào năm 1884. Có một loạt làng mang tên Tô La nằm cách xa nhau. Men theo hữu ngạn sông La Ngà, cuối cùng ông vượt sông một lần nữa ở gần Barth Nui (Bác Nui) để trở về Tánh Linh.

Trước khi thực hiện chặng đường thứ ba, từ ngày 22.5 đến ngày 28.5 Yersin tiến hành khảo sát kỹ vùng hữu ngạn sông La Ngà từ Bác Nui đến Cao Cang để xem xét khả năng mở đường qua vùng này. Ông xác định con đường bộ trong tương lai không thể đi qua vùng này vì cánh đồng nơi đây ngập nước vào mùa mưa và cư dân quá thưa thớt.

Con Voi theo đoàn thám hiểm (Ảnh: A.Yersin )

Con Voi theo đoàn thám hiểm (Ảnh: A.Yersin )

Ngày 30.5.1893, Yersin lên đường thực hiện chặng đường thứ ba: từ Tánh Linh đi Phan Rang bằng một con đường núi khác với chặng trước. Ông đã gửi trả về Phan Thiết con voi, người quản tượng và một người Việt vì những người này bị sốt nặng, không thể tiếp tục hành trình. Khác với lộ trình trước, lần này ông đi theo tả ngạn sông La Ngà để trở lại Droum. Kể từ khi Yersin ghé qua làng Droum lần trước đến nay, tại đây cọp đã vồ ba người Thượng nữa. Từ Droum, đoàn thám hiểm vượt sông La Ngà để trở qua bờ bên phải. Sau khi đi qua một loạt các làng đều mang tên Tô La, đoàn thám hiểm đến Tia Lao, một địa điểm đã được ghi trên bản đồ của Humann. Từ Tia Lao, Yersin đi về phía Bắc, hướng đến núi Tadoum (tức Tadoung).

Ngày 11.6, ông đến Bross, nằm ở đáy một thung lũng sâu có sông Đồng Nai chảy qua, phía Bắc là ngọn núi Tadoung. “Ngọn núi này nhìn từ xa tựa như một chiếc mũ lớn nhọn đầu đặt trên cao nguyên, nằm cạnh một thứ mê lộ gồm các đỉnh cao và các thung lũng sâu, dưới đáy các thung lũng là những dòng nước lạnh ngắt. Người ta tưởng chừng đang ở vùng núi Alpes”. Yersin đã băng qua mây mù và mưa để leo lên đỉnh núi cao nhất. Rừng khá rậm, ông phải trèo lên cây để quan sát, nhưng những màn mưa dày đặc không cho phép ông định vị một cách chính xác.

tAHXlFhWuz_Oozdme8zcNATừ Rioung, Yersin đi đến bờ sông Da N’Tâme (tức Da Tam), một chi lưu của sông Da Nhim. Ngược dòng Da Tam, ông đi đến các làng Kréan (gần núi Mnil), Brenne (tức Prenn, gần thác Prenn); sau đó đi về phía Tây-Bắc, rồi bắt đầu leo núi. Sau gần một giờ leo núi, ông bước ra khỏi rừng thông và phát hiện ra cao nguyên Lang Bian. Lúc này là 15g 30 ngày 21.6.1893. Trong nhật ký hành trình, ông ghi vắn tắt “3h 30: grand plateau dénudé mamelonné (3g 30: cao nguyên lớn trơ trụi, nhấp nhô gò đồi).

Trong hồi ký, ông mô tả như sau:

“… Khoảng 15 đến 20 km trước khi đến chân núi chúng tôi ra khỏi rừng và thấy mình đang đứng trước một vùng đất hoàn toàn trơ trụi, phủ toàn cỏ. Mặt đất như những lượn sóng dài làm cho ta có cảm tưởng đang đi trên một đại dương bị xao động bởi những đợt sóng khổng lồ. Dãy Lang Bi-an sừng sững ở giữa như một hòn đảo và dường như càng lùi xa khi ta đến gần. Trong những cánh đồng bao la ấy, ta dễ tính sai cự ly. Dưới đáy thung lũng, đất màu đen và có than bùn. Những đàn nai lớn cho phép đến gần khoảng một trăm mét, rồi vụt bỏ chạy ra xa, ngoái đầu lại nhìn chúng tôi một cách tò mò”… .

Ở một đoạn khác, Yersin mô tả về cao nguyên Lang Bian như sau:

“Vùng đất này cư dân thưa thớt, một vài làng của người M’Lates (…) được tập trung ở chân núi; nơi đó họ làm những ruộng lúa nước rất đẹp (…). Người M’Lates nói tiếng Chăm cũng thạo như tiếng Mạ. Phụ nữ xoi vành tai thật rộng để nong vào đó những vành tròn hay treo vào đó những ống thiếc hình xoắn ốc rất nặng. Người ta tiếp tôi trong căn nhà làng. Mỗi già làng mang tới vò rượu cần của mình. Có đến sáu vò rượu xếp hàng dài trước mặt tôi; may thay người ta không yêu cầu tôi phải thưởng thức hết”…

Sau một đêm nghỉ lại ở Dankia, sáng hôm sau Yersin vượt dòng Da Dung để trở lại Deũng, sau đó đến làng Ankroêt. Bằng một lộ trình khác với lộ trình đến, ông rời Lang Bian trở lại Rioung. Cơn mưa lớn làm cho các con dốc trở thành trơn trượt, các dòng suối nhỏ trở thành sông lớn, rất nguy hiểm khi vượt qua. Trong khi ông vắng mặt, ở Rioung, cọp suýt vồ mất một con ngựa ngay giữa nơi cắm trại.

Yersin rời Rioung đi đến thung lũng Da Nhim để trở về Phan Rang…. Trong lần trở về này ông suýt mất mạng vì một toán cướp có vũ trang khiến ông bị thương, được những người Thượng hộ tống khiêng bằng võng về Phan Rang ngay trong đêm. Trên đường đi, ông bị tên cướp đầu sỏ hung tợn nấp trong rừng bắn hai phát súng lục nhưng không trúng. Vào khoảng 7 giờ sáng hôm sau, nhóm người khiêng ông lại lọt vào giữa một đàn voi rừng. Một con voi cái và một con voi con nhắm vào họ lao tới. Các phu khiêng võng hoảng sợ bỏ chạy. Bỏ Yersin nằm lại trong võng, Yersin suýt bị voi dẵm, nhưng may thay, vào phút chót, con voi mẹ lại đi chệch ra khỏi đường mòn.

Ngày 26.6 Yersin đến Phan Rang với thương tích đầy mình.

Sau khi bình phục, từ 19.7 đến 19.8, Yersin đến thăm M’Siao, một tù trưởng người Bih ở vùng Daklak mà ông đã quen trong chuyến thám hiểm năm 1892. Ngày 8.9 ông rời Nha Trang, theo đường cái quan trở lại Phan Rang. Từ nơi đây, ông lên vùng cao nguyên để kiểm tra lại kết quả khảo sát, sau đó trở lại Tánh Linh. Từ Tánh Linh, ông trở lại Biên Hoà, kết thúc chuyến thám hiểm dài bảy tháng. Con đường mà Yersin khảo sát đã được thi công xong vài kilômét đầu tiên.

Sáng kiến thành lập các trạm nghỉ mát vùng núi ở Đông Dương bắt nguồn từ toàn quyền Paul Doumer (cha đẻ của Cầu Long Biên) khi ông này đến nhậm chức vào năm 1897. Doumer đã học kinh nghiệm này từ những người thực dân Hà Lan ở Indonesia và nhất là từ người Anh ở Ấn Độ.

Hồi ký của Doumer cho biết nhiều cuộc tìm kiếm công phu và kéo dài ở nhiều địa điểm đã không thành công; nhưng có một địa điểm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặt ra, nhờ sự chỉ dẫn của Yersin: đó là cao nguyên Lang Bi-an.

Thành công của chuyến thám hiểm đã góp phần nâng cao uy tín của Yersin. Ngày 28.12.1893, Hội đồng Thuộc địa đã thuận cấp kinh phí cho ông thực hiện chuyến thám hiểm thư ba: từ Nha Trang qua vùng Tây Nguyên, Hạ Lào đến tận Đà Nẵng (từ 12.2. đến 7.5.1894).

Đến Đà Nẵng vào thượng tuần tháng 5.1894, Yersin được biết trong thời gian ông vắng mặt, chính phủ Pháp đã ra lệnh cho Toàn quyền Đông Dương cử ông đến Vân Nam để đối phó với bệnh dịch hạch. Yersin đã phát hiện ra vi trùng bệnh dịch hạch vào đêm 20.6.1894. Phát minh này đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Yersin. Những yêu cầu cấp bách của y học đã buộc ông phải từ bỏ lòng say mê phiêu lưu mạo hiểm. Thay vào đó là một sự say mê bền bỉ đối với công tác thực nghiệm khoa học mà ông đã nuôi dưỡng cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.

Từ một vùng rừng núi cư dân thưa thớt, còn đang ở trình độ thấp kém của thời kỳ công xã nguyên thủy, Đà Lạt đã phát triển một cách nhảy vọt thành một đô thị hiện đại. Có thể nói nếu không có nhu cầu xây dựng trạm điều dưỡng của người Pháp để từ đó phát triển dần thành một thành phố du lịch và nghỉ dưỡng nổi tiếng thì Đà Lạt ngày nay có thể cũng chỉ là một vùng quê hẻo lánh hoặc một thị trấn thuộc loại trung bình như thường thấy ở các vùng rừng núi nước ta.

Bước phát triển nhảy vọt của cao nguyên Lang Bi-an bắt đầu từ ngày 21.6.1893. Đó cũng là điểm khởi đầu của quá trình hình thành đô thị Đà Lạt, trong đó nổi bật lên vai trò của ông Năm Yersin, người đặt nền móng quan trọng đầu tiên từ những nỗ lực lớn lao như thế. (**)

Hồ Xuân Hương - Nguồn: Wiki.

Hồ Xuân Hương – Nguồn: Wiki.

Sau mỗi đêm ngon giấc, chúng tôi đi dạo một vòng quanh Hồ Xuân Hương, đôi khi qúa chân còn sang cả Hồ Than Thở ngút ngàn sương khói. Đà Lạt đã hết mùa hanh khô, nên ban đêm thường có mưa. Sau mưa, không khí như mát dịu hơn, những làn hơi nước sương bảng lảng trên những con đường, tán thông, bên những hàng rào quanh các biệt thự lớn nhỏ. Mà cũng lạ, ở thành phố này trăm căn biệt thự là trăm hình thái khác nhau, mà tổng thể vẫn hài hoà. Những cổng cửa đa dạng. Những lối vào lên xuống. Cả những hàng rào cũng vậy, dù gỗ ván ghép, là cây xén tỉa, vài khóm hoa, dù rào sắt, cọc xây, cọc cắm hay xếp đá. Không có cái nào giống cái nào. Nhờ được tô điểm bởi những hàng rào với không gian và thiên nhiên uyển chuyển kỳ diệu ấy mà đường nét, hình khối kiến trúc không bị khô cứng. Làm sang và làm nổi bật các toà nhà toạ lạc bên trong. Nhìn mãi mà không chán mắt. Chỉ tiếc thời gian như vô tình, con người cũng vô tình, đã làm phôi pha phần nào chút hào quang rực rỡ vang bóng một thời ấy của nhiều công trình.

Nhớ lại chuyện “Tái Ông mất ngựa“ của người tàu, sau mỗi khám phá mới về ông Năm Yersin, trong tôi thấy thèn thẹn với bậc vĩ nhân. Thấy những khó khăn của chúng tôi hôm nay, thấm tháp gì so với những khó khăn nguy hiểm mà bậc ân nhân của nước mình đã kinh qua. Ông đã tạc vào lịch sử những dấu ấn không bao giờ phai, ở cái tuổi cũng chỉ bằng tuổi đời của chúng tôi lúc bấy giờ.

nPLIjNUcOY7_yNHhKAiPLACon đường lên Lang Bi-an của ông Năm cách nay đã 123 năm. Ông người gốc Pháp, gia đình Yersin phải lánh nạn sang Thụy Sĩ và cậu bé Alexandre chào đời tại đây, một vùng quê miền núi hẻo lánh xứ người. A. Yersin theo học ngành y tại Lausanne (Thụy Sĩ) và Marburg (Đức). Sau đó nhận bằng tốt nghiệp y khoa tại Đại học Paris. Trước khi dừng chân ở mảnh đất hình chữ S xa xôi, trong ước muốn thám hiểm những vùng đất mới, ông từng có những năm miệt mài nghiên cứu tại viện Pasteur Paris, đã có những thành công ban đầu khá ngoạn mục và được trao huân chương danh giá nhất của Pháp (Bắc Đẩu Bội Tinh), được trở lại quốc tịch Pháp năm ông 27 tuổi. Song định mệnh đã đưa ông tới Xứ An Nam nghèo khó và giữ chân ông ở lại cho tới lúc mãn chiều xế bóng. Cuối đời mặc dù yếu phổi, ông vẫn tận lực làm việc cho tới hơi thở cuối cùng. Ông ra đi thanh thản và để lại cho đời nhiều nhớ thương tiếc nuối. Thông điệp để lại trong di chúc của ông: Được chôn tại Suối Dầu Nha Trang thì không có gì thắc mắc. Nhưng không cho phép đọc điếu văn và đặt thi hài nằm sấp hẳn còn nhiều uẩn khúc chăng?

Chỉ còn ngót hai tháng nữa là nhân loại sẽ kỷ niệm tròn 120 năm, ngày Alexandre Yersin tìm ra con vi trùng nguy hiểm đã gây nên những trận đại dịch hạch cướp đi sinh mạng của hàng trăm triệu người: “Yersinia pestis“!

Tên con vi trùng dịch hạch đã được đặt theo tên của người tìm thấy nó đầu tiên.

Con người của ông còn mang nhiều bí hiểm. Ông rất yêu quê hương, yêu nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời, nhưng lại tình nguyện sống và chết tha hương. Ông rất có hiếu với các bậc sinh thành (thân mẫu) nhưng lại chọn cuộc sống độc thân không con cái suốt đời. Ông rất ghét thói xa hoa và ghét ách đô hộ của Thực dân Pháp ở Đông Dương. Nhưng lại lợi dụng tiến trình khai thác thuộc địa của Pháp để cứu giúp người nghèo khó và canh tân những vùng đất lạc hậu tối tăm. Bản tính ông giản dị mà lại luôn tiên phong trong những phát minh mới của công nghệ. Ưa thám hiểm mà từ bỏ hết cả tương lai ở Paris hoa lệ. Niềm đam mê thám hiểm chưa thỏa, định mệnh lại cuốn ông trở lại “thiên chức thầy thuốc“ cao qúi của mình. Ông đòi an giấc ngàn thu theo tư thế nằm sấp như lời trăng chối của Trạng Quỳnh xưa, nhằm chống lại cái ác, cầu mong cho nhân loại sớm thoát khỏi ách hà khắc của đám bạo chúa hôn quân?

Xin các bậc cao minh chỉ dạy cho đầu óc còn u tối được thông tỏ!

Gocomay

___

* Cả hai vị này sau leo tới chức Thứ trưởng Bộ Y Tế trước khi nhận sổ hưu. Hồi đó, TS Lê Diên Hồng là Vụ Trưởng Vụ Vệ Sinh Phòng dịch; còn BS Trịnh Quân Huấn là thư ký cho ông Hồng

* * Bài này có tham khảo và trích dẫn nguồn tài liệu của Hội Ái Mộ Bác sỹ Yersin…

__________________

827 – Thiên chức lương y của Yersin gửi người đời!

Alexandre Yersin (1863-1943)

Alexandre Yersin (1863-1943)

Vào tháng 4 năm 1985, Sau một năm làm việc cật lực, phim “Thuỷ điện nhỏ” đầu tay của tôi không bị đổ như ai đó mong đợi. Được xếp loại khá. Có lẽ do sự hiện diện của rất nhiều ngọn thác lớn và đẹp bậc nhất Tây Nguyên đã làm cho người xem phải trầm trồ. Theo đúng luật, vượt qua ải “vũ môn”, tôi đương nhiên được công nhận chức danh đạo diễn của hãng. Biết không thể cản được quyết tâm vươn lên của tôi, Chef Lương Đức mời tôi lên quán nước ông Chiu, cổng hãng, gọi kẹo lạc nước trà, dùng tình cảm thuyết phục!

Kết thúc tuần trà đầu, “chàng” ân cần bảo tôi:

- Phim đầu tay của cậu không tồi. Nhưng tớ thấy cậu lãng phí thời gian vào nó quá. Nếu không làm đạo diễn, cậu có thể làm quay phim cho 4, 5 phim như những năm trước… chắc chắn cả công và tư vẫn có lợi hơn không?

Từng cộng tác và học hỏi ở “Chef Lùn” trong nhiều phim mấy năm qua, thoáng nghe, lời “chàng” không phải không có lý. Ngay cả thời các Chef tiền nhiệm như: Quốc Ân; Như Ái; Nguyễn Thiệu và Lê Quốc còn trị vì, cái tên Lương Đức vẫn là một tên tuổi lớn trong làng điện ảnh Tài liệu Khoa học. Huống hồ bây giờ “chàng” lại quyền sinh quyền sát. Một lời nói tựa như trái núi, ai mà không ngán. Biết khó có thể chống lại ý muốn của chàng khổng lồ, tôi bèn đưa ra đề nghị “hai bên cùng có lợi”. Tôi vẫn chấp nhận quay phim cho “chàng” và “nàng” (Lệ Mỹ). Nhưng đổi lại cứ sau hai phim quay xong, tôi được tự quay và làm đạo diễn một phim cho mình.

Thấy khó lay chuyển cái quyết tâm làm đạo diễn của tôi, sau phim “Cá Trôi Ấn” quay ở Từ Sơn Bắc Ninh xong, Lương Đức phải giao phim “Bệnh Dịch Hạch” cho tôi. Đề cương của phim này do Lại văn Sinh chắp bút, được duyệt đã lâu, nhưng không ai nhận. Nay “bắn” cho tôi gọi là “thử tay nghề đạo diễn mới”! Thật là “nhất cử mà tam, tứ tiện”!

Chưa có nhiều kinh nghiệm, nhưng đổi lại tôi có sức trẻ và ý chí rất mạnh nên cứ nhận bừa. Khi bắt tay vào cuộc mới thấy thâm ý của các bậc tiền bối thật khôn lường. Cỗ xe tam mã lại từ từ chuyển động vào Miền Trung, để lại phía sau bao nhiêu bề bộn của đời thường.

Vào Nha Trang, có lẽ đó là thời điểm khó khăn nhất của Viện Vệ sinh Dịch tễ, nên ngoài việc giúp chúng tôi vài cảnh cảnh quay sơ sài ở phòng thí nghiệm và các di tích cũ của Yersin ở xóm Cồn, cầu Bóng và Suối Dầu, viện cũng “lực bất tòng tâm” chẳng giúp chúng tôi được như mong đợi. Mặc dù nơi đây là chiếc đầu cầu lây lan bệnh dịch hạch ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ 19.

Những ngày làm việc tại Khánh Hoà, được tiếp cận nhiều tài liệu về Yersin, về 3 đợt đại dịch hạch khủng khiếp diễn ra trên thế giới, với con số tử vong bởi “thần chết đen” mỗi đại dịch từ 50 tới 100 triệu người. Trong tôi luôn cộm lên một câu hỏi:

- Tại sao một nhà bác học lớn tầm cỡ như thế, mà lớp hậu sinh như chúng tôi hầu như không hay biết?” Không một bệnh viện nào, không một trường học nào mang tên của ông. Ngay các đường phố ở Hà Nội, Nha Trang và TP Hồ Chí Minh tên của ông cũng được Việt hóa thành: “Y Éc Sanh” nên nhiều người còn nhầm ông này là ông tổ của nghề mổ lợn.

Thắng bệnh dịch hạch, ân nhân của nhân loại, vị tha, quên mình, Yersin là người đã chiếm trọn tình cảm của người dân thành phố biển Nha Trang một cách êm thấm. Đi trước thế kỷ của mình, ông là người mở đầu trợ giúp cho các xứ nhược tiểu, phát triển về trồng trọt, chăn nuôi và y tế.

Nhiều buổi chiều lang thang bên những xóm chài nghèo dưới chân Tháp Bà và cầu Bóng, lắng nghe những người đánh cá già kể với một tấm lòng rất thành kính nhiều kỷ niệm không bao giờ phai về người bác sỹ rất thân thiện với bà con cư dân nơi xóm Cồn.

Họ kể, ông Năm (bác sĩ Yersin) rất cởi mở, gắn bó với người dân Nha Trang, rất yêu quý trẻ em. Ông hay cho chúng tôi kẹo, tiền lẻ để mua quà. Thời bấy giờ, ngư dân tránh được tai họa do bão cũng là nhờ bác sĩ quan sát thiên văn, nghe thời tiết mà báo trước cho họ. Ông Năm thường khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân nghèo.

Ngư dân có thói quen hay uống rượu say, kình lộn, gây gổ, chửi nhau, thậm chí ẩu đả. Bác sĩ lặng lẽ lấy máy quay phim, ghi lại những chuyện không hay ấy. Sau đó, mời dân xóm Cồn đến xem phim, hỏi họ có hay không, đẹp không? Ai nấy đều xấu hổ. Nhờ đó mà xóm Cồn thời ấy gần như hết nạn say rượu, đánh chửi nhau.

Ngày ông mất, rất nhiều người dân ở xóm Cồn, ở Nha Trang thương khóc như cha mất. Họ để tang và đoàn người tiễn đưa ông dài hơn ba cây số. Có ở đâu như ở Nha Trang, người dân địa phương thờ cúng ông – một người nước ngoài – như một vị thánh nhân đức!

Trong thư tịch ở tủ lưu niệm tôi còn được biết, lúc sinh thời, một số đồng nghiệp không đồng quan điểm với ông tại viện Pasteur Paris và những người Pháp tại Đông Dương thấy Yersin phân tán tri thức lấy làm gai mắt, cho ông là một người kỳ dị.

Song chính nhờ sự “kỳ dị” đó mà ông đã thành công trên nhiều phương diện, luôn đi tiên phong trong những lãnh vực mới, với nhiều phát minh sáng giá như:

  • Máy phát thu bằng chữ morse để liên lạc Nha Trang, Suối Dầu, Hòn Bà
  • Máy thu thanh tân tiến, bắt được các đài bên Pháp
  • Kính thiên văn

Dù chiếc xe đạp là phương tiện được ông ưa chuộng. ngay từ năm 1910, ông đã muốn tậu một chiếc phi cơ, nhưng vì Đông Dương không có sân bay, ông đành bỏ dự định này.

Trong khi viên Công sứ tại Nha Trang chưa có xe nhà thì Yersin đã gởi mua tại Pháp chiếc Serpollet năm mã lực, chiếc xe Clément và một thuyền máy.

Hai năm sau, ông bán lại chiếc Serpollet năm mã lực cho viên Công sứ Nha Trang, rồi sang Paris tậu chiếc xe Serpollet sáu mã lực đem ra Hà Nội làm lác mắt chẳng những dân cư Hà Nội mà cả chính giới. Viên tướng chỉ huy quân đội Pháp còn nhờ ông đưa xe đi diễu hành qua cầu Long Biên.

Tháng Giêng năm 1905, Yersin bán chiếc Serpollet sáu mã lực, tậu chiếc Serpollet mười một mã lực. Năm 1907, ông mua một chiếc Alcyon. Năm 1912, ông mua chiếc Clément Bayard mười lăm mã lực. Đến năm 1925 ông lại tậu chiếc Zèbre vừa mau vừa êm để tiên cho việc đi lại làm việc giữa Nha Trang, Hòn Bà, Dran và Djiring. Nhưng khi cần tiền cho các công trình nghiên cứu hay giúp người nghèo, ông bán ô-tô và dùng lại xe đạp. Trong các đợt thám hiểm ông dùng ngựa, voi hay đi bộ chứ không dùng võng hay kiệu như các quan lại Pháp hay Việt thường dùng khi đi kinh lý.

Năm 1943, vì phổi yếu, ông dùng xích-lô. Nhắc đến Yersin, ai cũng hình dung một ông cụ già khiêm tốn ăn mặc xuềnh xoàng đi chiếc xe đạp cũ kỹ, quên rằng Alexandre Yersin đã làm bực mình các quan chức chính quyền thời bấy giờ với những chiếc ô-tô tối tân.

Tiên phong trong những lãnh vực mới, năm 1932, khi chuyến bay đầu tiên của hàng không Pháp nối liền Sài Gòn – Paris thì ông dùng máy bay để di chuyển. Tháng 3 năm 1940, Yerin bảy mươi bảy tuổi, lấy máy bay về Pháp để dự buổi họp hằng năm của viện Pasteur Paris. Một cuộc hành trình rất gay go. Ngày 30 tháng 5 năm 1940, chuyến máy bay cuối cùng đưa ông về Việt Nam, trước khi quân đội Đức vào Paris.

Mặc dù vậy, Yersin lại thích sống chung với người dân nghèo chài lưới và đã bỏ tiền tậu lại cái lô-cốt hai tầng lầu bỏ hoang gần xóm Cồn và cửa sông Cái. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí quyển XI về Khánh Hoà, đó là một đồn biên phòng rất lâu đời.

Ngư dân xóm Cồn thường gọi tòa nhà này là “Lầu Ông Tư”, nơi bác sĩ A. Yersin sống và làm việc ngay giữa làng chài bên cửa sông Cái, Nha Trang. Năm 1977, tòa nhà đã bị đập bỏ để xây dựng nhà nghỉ 378 của Bộ Công an hiện nay.

(Tư liệu của PĐQ)

Nhà riêng của A. Yersin bên cửa sông Cái - Nha Trang

Nhà riêng A. Yersin bên cửa sông Cái – Nha Trang

Từ năm 1895, Yersin đã tạo lập cho mình chỗ ở tuyệt vời để hằng ngày quan sát và hoà nhập với thiên nhiên.

Lô-cốt mỗi bề khoảng 7m 50. Mỗi tầng có hành lang rộng bao bọc. Có thể đi dọc hành lang để quan sát. Ông bố trí tầng trệt là phòng ăn, tầng một là phòng làm việc và tầng hai là phòng ngủ. Về sau, nóc nhà làm thêm một vòng tròn để dựng kính thiên văn.

Có người cho ông là con người lập dị, một người không chạy theo danh vọng, quyền lợi cho riêng mình. Một đoạn thư ông viết cho mẹ năm 1890 khi ông hai mươi bảy tuổi: “Mẹ hãy tưởng tượng xem ông Pasteur đã xin được cho con huân chương của Hàn lâm viện. Các thành viên của Viện Đại học Pháp rất mong muốn có được tấm huân chương màu tím này, song bản thân con lại không hề thấy mình xứng đáng được nhận”. Tháng 12 năm 1927, khi nhận giải thưởng Leconte của viện Hàn lâm Khoa học, ông tuyên bố: “Giải thưởng nầy là vinh dự cho viện Pasteur và số tiền nhận được sẽ giúp cho các cuộc thí nghiệm trồng cây quinquina (Canhkina). Ông đầu tư nguồn tiền thưởng hậu hĩnh từ các phát minh vào các công trình đang thực hiện. Tiền từ Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh; Giải Audiffret của Hàn lâm viện Tâm lý và Chính trị có kèm theo 15.000 quan Pháp. Ông dùng số tiền này tiếp trợ cho nền tài chánh Suối Dầu. Giải thưởng Lassen đem lại cho ông 8.000 quan Pháp. Ông dùng ngay tiền đó vào việc mở đường mòn nối liền Suối Dầu – Hòn Bà.

Khi vua Bảo Đại trao tặng Bội tinh Kim Khánh (Long Bội tinh) cho ông, vì phép lịch sự ông buộc lòng phải cho vua Bảo Đại đeo Kim Khánh vào cổ mình, nhưng khi vừa bước xuống, ông đã e lệ dùng chiếc mũ ép lên ngực che hết chiếc huân chương. Năm 1938, trường trung học Đà Lạt muốn có một bức tượng bán thân của Yersin, ông cương quyết từ chối làm mẫu.

Khi toàn quyền Decoux muốn biết tên những người quyền quí, danh tiếng mà Yersin đã gặp, ông trả lời: “Ở Đông Dương tôi ít giao thiệp với những hạng người ấy.”

Thật ra Yersin đã có lần gặp nhiều người danh tiếng. Năm 1896, thống chế Lyantey (lúc bấy giờ là thiếu tá) đến Nha Trang có ghi vào sổ tay: “Vị bác sĩ trẻ này tận tụy với vi trùng học, nghiên cứu, chế tạo “vắc-xe” với một niềm tin tưởng, ý chí đam mê của một nhạc sĩ cao siêu. Những giờ thăm viện của ông làm phấn khởi tinh thần, mặc dầu viện còn thô sơ.”

Bác sĩ Yersin và căn chòi lá, nơi ông tìm ra vi trùng dịch hạch ( (Yersinia pestis) tại Hong Kong năm 1894 - Ảnh tư liệu

Bác sĩ Yersin và căn chòi lá, nơi ông tìm ra vi trùng dịch hạch (Yersinia pestis) tại Hong Kong năm 1894 – Ảnh tư liệu

Sống tha hương, dù ở Pháp, Việt Nam hay Trung Quốc, hầu như tuần lễ nào ông cũng viết thư cho mẹ. Tính đến khi mẹ ông mất, năm 1905, ông đã gởi ngót 1.000 bức thư, cho bà biết sức khỏe và công việc hằng ngày của mình.

Khi mẹ mất rồi, Yersin tiếp tục gởi thư cho người chị ruột, bà Emilie.

Trong thư nhiều khi đầy vẻ hài hước, như khi ông ở Hồng Kông viết cho mẹ: “Con còn nhiều điều nữa muốn thưa với mẹ, nhưng có hai xác chết đang chờ con. Họ muốn ra nghĩa địa cho sớm. Tạm biệt mẹ thân yêu. Mẹ rửa tay sau khi đọc thư này kẻo bị lây dịch hạch, mẹ nhé.”

Noẽl Bernard viết về A. Yersin có câu: “ít có người không vụ lợi như Yersin. Khiêm tốn, giản dị, lịch sự”.

Ông ăn mặc xoàng xĩnh bộ đồ kaki bạc màu cũ kỹ, áo khoác bốn khuy ba túi, áo sơ-mi vải trắng hở cổ, quần kaki trên rộng dưới hẹp giặt sạch mà không bao giờ ủi. Giày vải bố. Trong túi ngực bên trái đựng một cái đồng hồ trái quít đeo bằng một sợi dây gai đỏ. Phải nói rằng Yersin không thiếu đồng hồ. Năm 1945, người ta tìm thấy trong tủ sắt của viện Pasteur Nha Trang rất nhiều đồng hồ trái quít chế tạo tại Thụy Sĩ, phần lớn bằng vàng, dây đeo cũng bằng vàng, bên trong cái nắp đều có dòng chữ: Chế tạo riêng cho Bác Sĩ Yersin.

Ngày 22 tháng 11 năm 1920, ông đáp tàu Paul Lecat đi Marseille. Một phục vụ viên trẻ của tàu không biết ông, cương quyết không cho ông vào phòng ăn. Nội qui của tàu bắt buộc phải thắt cravate khi bước vào phòng khách. Yersin trở về cabine. Sau đó, ông quay lại phòng ăn nói với phục vụ viên: “Chiếc cravate nầy cậu có chấp nhận không ?” Vừa nói ông vừa chỉ tay xuống chỗ hở ở cổ áo nơi ông vừa đút tấm huân chương “Bắc Đẩu Bội Tinh” vào.

Năm 1925, một buổi sáng ông đến hãng xe gặp một người khách sang trọng từ Pháp mới tới. Người nầy thấy ông ăn mặc xoàng xĩnh buột miệng kêu lên: “Tên bụi đời lang thang này làm gì ở đây ?

Bữa ăn của ông thường đạm bạc. Món ăn ông ưa thích thường ngày chỉ là món xúp rau cải ăn với bánh mì hoặc biscotte. Trong thời gian chiến tranh ông phải ăn bánh tráng thay cho bánh mì. Ông thích ăn cá hơn là thịt. Các loại cá được ông ưa chuộng là cá thu, cá mú.

Món rượu khai vị của ông thường chỉ là thứ nước có bột quinquina do ông tự chế. Nước uống đôi khi ông dùng nước lá sả mà ông bảo rằng dễ tiêu hoá. Có lần đi thám hiểm vùng cao nguyên, ông chỉ ăn cơm không trong hai tháng.

Làng chài xóm Cồn (xóm Bóng) nhìn ra Hòn Đỏ.

Làng chài xóm Cồn (xóm Bóng) nhìn ra Hòn Đỏ.

Vì Nha Trang thường có bão táp, Yersin nghiên cứu về khí tượng, thời tiết để giúp ngư dân.

Ông cho làm hai cái bồ to, có đường kính một mét, trên sơn màu đen. Khi có bão, hai cái bồ được kéo lên hai cây cột bằng phi lao trên núi Sinh Trung để báo hiệu.

Tháng 11 năm 1939, đoán biết rằng một cơn bão lớn sẽ đổ vào bờ biển Nha Trang, Yersin vội tập trung tất cả ngư dân xóm Cồn vào trong nhà mình. Cơn bão biển dữ dội đêm ấy đã cuốn trôi nhiều nhà cửa xóm Cồn, nhưng bà con vẫn an toàn.

Từ hôm ấy, Yersin được nhiều người dân xóm Cồn tặng cho biệt hiệu “người đã trị cơn sóng thần”.

Viết về Yersin, và viện Pasteur Nha Trang, Henri Jacotot đã có những lời ca ngợi tốt đẹp:

“Trong những thời điểm quan trọng, Yersin luôn luôn sống trong tình trạng báo động thường trực cả ngày lẫn đêm.” (Yersin et son temps, H. Jacotot-1937)

Chẳng những lo bảo vệ dân chúng tránh tai nạn bão lụt, Yersin còn luôn luôn tỏ ra nhân ái đối với người dân ở Nha Trang, nên ông được người Việt yêu chuộng và kính phục. Ông tự coi mình như một người dân trong làng, một người có phần may mắn hơn người khác, vì vậy ông thấy có bổn phận an ủi và giúp đỡ thuốc men.

Một hôm đi xe đạp từ nhà đến sở, ông bị một tài xế bất cẩn đụng ngã. Không nói một lời nào, ông vội vã dựng xe đạp lên, rồi đi đến viện để băng bó, không đả động gì đến người tài xế có lỗi.

Lần khác ông gặp người nông phu nằm ngủ trong xe bò dưới gốc cây bàng. Mặt trời lên cao, bóng mát thay chiều, ông bảo những người phụ tá đẩy xe bò vào chỗ mát.

Ông rất thương yêu trẻ con xóm Cồn, thường chiếu phim cho chúng xem. Một hôm, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông bảo người giúp việc: “Đừng rầy đánh, người ta sợ.”

Ông thường đọc báo chí Việt ngữ. Một hôm đến viện ông trao cho ông Bùi Quang Phương, người cộng sự từ năm 1897, bài thơ “Năm Cụ Ông” chép trong báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng nói về năm bộ trưởng đương kim bị cách chức và thay thế bằng năm người khác do Pháp chỉ định. Bài thơ khó hiểu vì có nhiều nghĩa bóng.

Yersin rất nhẫn nại tử tế với những người cộng sự bản xứ, không bao giờ to tiếng, không bao giờ thị oai.

Người dân Nha Trang gọi ông là Ông Tư (theo cách gọi của người đàng trong, chỉ ông là con thứ ba). Hay Ông Năm vì theo ngạch nhà binh ông là Đại tá quân y. (Một tác giả Pháp Elisabeth Duclosel ghi ông là Nam, bác sĩ Annam, là sai.)

Ông không lấy vợ. Sống thanh đạm độc thân, tiết chế xa hoa nhục dục.

Elisabeth Duclosel thêu dệt cho ông một quan hệ tình ái giữa ông và một công chúa của bộ lạc Rhadé, là hoàn toàn không có cơ sở.

Yersin đến với người Việt Nam bằng một tấm lòng chân thật. Đó là chìa khoá kỳ diệu đã mở cửa cho ông đi vào tình cảm của người Việt Nam.

Ông ra đi rất thanh thản, ngày 01 tháng 03 năm 1943 vào lúc 01 giờ sáng, vừa đúng tám mươi tuổi.

Một ngày trước khi từ giã cõi đời, ông còn ngồi trên ghế xích-đu dùng ống dòm đo mực thủy triều.

Mặc dầu có lời căn dặn của ông trong di chúc muốn được an táng đơn giản, đám tang của ông to lớn chưa từng thấy ở Việt Nam. Ngoài đại diện của chánh quyền còn vô số người Việt, người Pháp, người Chà, người Hoa, người Thượng. Dân chúng bày hương án hai bên đường từ Nha Trang lên tận Suối Dầu nơi ông an giấc ngàn thu. Thể theo chúc thư, đám tang của ông thật giản dị, không có ai đọc điếu văn.

dscn48401Bên cạnh mộ Yersin có xây một cái miếu nhỏ đặt ảnh ông và hương án. Tại chùa Linh Sơn và Long Tuyền có bàn thờ ông bên cạnh bàn thờ Phật, mặc dầu lúc sinh thời, người dân Nha Trang không hề thấy Yersin bước chân vào chùa hoặc nhà thờ.

Mỗi năm đến ngày 01.03 người dân Nha Trang đến đốt hương và nghiêng mình trước mộ Yersin.

Trong năm mươi bảy năm hoạt động khoa học (1886 – 1943) Yersin đã công bố năm mươi lăm công trình và bốn mươi tác phẩm về y học, trong đó có mười ba đề tài chuyên cứu về dịch hạch, và mười lăm đề tài chuyên về nông nghiệp trồng cây quinquina và hévéa (cây cao su).

Yersin mãi mãi đi vào lòng người Nha Trang nói riêng và Việt Nam nói chung. Đó là đền Panthéon của Ông Năm và ông còn sống mãi mãi!

DGku4j7zSI_Saxe9qijHfQBác sĩ A. Yersin đã để lại di chúc: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”

Theo di chúc, khi khâm liệm người ta đặt Yersin nằm sấp, đầu quay về biển để ông mãi mãi ôm mảnh đất Việt, nơi ông đã chọn làm quê hương! (*)

Rời Nha Trang, tuy phim chưa quay được gì nhiều. Nhưng ấn tượng sâu đậm về Yersin cứ day dứt mãi trong tôi. Nung nấu trong tôi một niềm tin, nguồn năng lượng mới. Giúp tôi nỗ lực không biết mệt trong những lúc khó khăn. Có lúc tưởng như đã tuyệt vọng, bế tắc hoàn toàn. Phim “Bệnh Dịch Hạch” đã thành công. Để 3 năm sau, khi phim mang đi dự LHP Việt Nam lần thứ 8 vào tháng 3.1988 ở Đà Nẵng. Bộ phim đã chiếm được trọn vẹn cảm tình của khán giả. Như lời cố Đạo diễn – NSND Ngọc Quỳnh (Thành viên Ban giám khảo Phim Tài liệu – LHP VN VIII) đã phi lộ với tôi: “Phiếu điểm của dịch hạch là cao nhất. Đúng ra phải Bông Sen Vàng. Nhưng có ý kiến cho rằng, đây là phim của một đạo diễn mới, nên hạ xuống Bông Sen Bạc để tác giả đỡ kiêu, mà nỗ lực thêm… “.

Người ta còn cẩn thận với tôi tới mức, giới thiệu Lại văn Sinh lên nhận giải của phim thay tôi. Tấm bằng này khi ra tới Hà Nội thì Sinh đã giao trả lại cho tôi. Nó vẫn theo tôi sang tận xứ người. Với phim này Sinh còn lên bục lần nữa để nhận giải Bông Sen Vàng về Kịch bản. Nhớ hôm trao giải, người đẹp Sơn Thu – Giám đốc Khách sạn Phương Đông ở Đà Nẵng, người rất hâm mộ tôi từ bộ ảnh cưới tôi chụp ngày nàng lên xe hoa từ 5 năm về trước đã mua bó hoa rất to để lên tặng cho tôi. Nhưng tặng hụt. Nàng lủi thủi đem hoa về nhà, rồi kiếm bằng được chai Johnnie Walker (qúi hiếm dạo đó) quay lại lúc tàn cuộc, chả nói câu nào, nàng dúi chai rượu vào tay tôi và biến mất tăm cứ như sợ ai đó trông thấy vậy?

Từ bấy tới nay, đã ngót 30 năm, không gặp lại người đẹp lần nào, chuyện đánh tráo giải thưởng của Trưởng Ban giám khảo Bùi Đình Hạc tôi cũng đã quên. Song những chiếc kéo sắc oan nghiệt của các chức sắc và các bậc đa đề khoác áo Blouse trắng ở Bộ Y tế xứ “thiên đường” đối với những hình ảnh bác sỹ Yersin mà tôi đã đưa vào trong phim thì tôi không dễ gì quên. “Không quá đề cao những kẻ dù có công nhưng đã theo chân tụi Thực dân sang đô hộ đất nước mình…”. Những lời trái tai đó cứ vang mãi trong tôi.

dscn48321Nay thấy xôn xao chuyện dịch sởi chết người. Lại nghe, vào ngày tận tháng tận năm ngoái, các “đỉnh cao trí tuệ” nhà ta, sau bao nhiêu năm quên lãng đã cấp Quốc tịch Việt Nam cho Alexandre Yersin (truy tặng danh hiệu “Công dân danh dự“). Càng mừng hơn, những cái tên “sát sanh eng éc” (Y Éc Sanh) ở khắp Hà Nội, Nha Trang, Sài Gòn và Đà Lạt đều đã được viết lại và đọc đúng với tên mà các đấng sinh thành ra ông đã đặt: Yersin! Các cơ sở nghiên cứu y khoa mang tên người thầy của Yersin là Louis Pasteur ở cả ba miền, một dạo bị đổi thành Viện Vệ sinh Dịch tễ. Nay đã được “trả lại tên cho em” thành Viện Pasteur. Thật cả mừng!

“Con rất vui thú khi tiếp chuyện những người đến hỏi ý kiến nhưng con không muốn hành nghề bác sĩ, nghĩa là con không bao giờ có thể đòi hỏi bệnh nhân trả công khi săn sóc cho họ. Con xem ngành y như là một thiên chức, tương tự vai trò của mục sư. Đòi tiền công săn sóc bệnh nhân, như có phần nào nói với người ấy: tiền hay cuộc sống. Con biết không phải tất cả các đồng nghiệp của con đều chia sẻ những ý nghĩ này, song đấy vẫn là những điều con nghĩ và sẽ khó lòng mà từ bỏ chúng”. Trong một bức thư, A. Yersin viết cho thân mẫu của ông như thế!

Thì ra, “chiếc áo không làm nên thầy tu”. Cũng như chiếc Blouse trắng không thể trở thành lương y khi người thầy thuốc còn mờ mắt vì tiền. Liệu có vị “Thầy thuốc Nhân dân” nào xứ mình đã thực sự xem ngành y như là một thiên chức như A. Yersin?

Sau 1975 “nhà nước ta” đã đập phá ngôi nhà của Ông “Năm Yersin” để xây dãy khách sạn 3 tầng của bộ nội vụ. Người dân Nha Trang ai cũng thương tiếc di tích của một vĩ nhân, một người suốt đời hy sinh cho dân nghèo bản xứ, lúc chết cũng muốn nằm lại nơi này. Vậy mà… bao nhiêu ân… đã biến thành… oán! ”

Giá mà “những đỉnh cao trí tuệ” không… ngu đần… đã phá đi ngôi nhà của Ông “Năm Yersin”, thì biết bao nhiêu đồ đạc, kỷ vật… của ông, sẽ hấp dẫn du khách trên thế giới sẽ đổ đến nghiên cứu và thăm viếng…! Nha Trang nói riêng, và Việt Nam nói chung… sẽ được thơm lây vì có công và có tâm gìn giữ di tích của một vĩ nhân của nhân loại… Than ôi… !!!!!

The former French lycee Yersin - Da Lat, Vietnam

The former French lycee Yersin – Da Lat, Vietnam

Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt – The former French lycee Yersin Da Lat, Vietnam là 1 trong 1000 công trình kiến trúc tiêu biểu của thế giới – thế kỷ XX! Chỉ tiếc năm 1976 người ta đã đổi lại và bỏ mất cái tên cũ đi, thật uổng!

… nếu mộ Bs. Yersin nằm ở Tp. Nha Trang thì có khi Ông bị ghép tội thực dân đế quốc rồi cũng nên. Hồng y Spellman là người Mỹ. Hồi sau 1975 người ta kỵ bất cứ cái gì thuộc về “đế quốc Mỹ”…

Đó là những tiếc nuối của một số độc giả ái mộ Yersin (trích ở đây).

Những người trót phạm sai lầm với bậc ân nhân vĩ đại như A. Yersin mà biết hối cải. Biết “quay đầu lại là bờ” thì nên lấy câu châm ngôn: “Những gì của César nên đem trả lại cho César” nằm lòng. Bằng không cũng chỉ là sự đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi mà thôi!

Gocomay

___

* Bài này có tham khảo và trích dẫn từ nguồn của Hội Ái Mộ Yersin Nha Trang và Thụy Sỹ.

_______________

826 – “Điều trị ngành y tế phải điều trị cả bộ máy”

Tranh minh hoạ của Ba Bui

Tranh minh hoạ của Ba Bui

Điều trị ngành y tế phải điều trị cả bộ máy”! Đó là phương thuốc cho ngành Y tế Việt Nam của tiến sỹ Jonathan London nhân dịch sởi đang diễn biến phức tạp ở nước ta. Tới nay lan ra tới 61/63 tỉnh thành với hàng ngàn ca nhiễm bệnh, trong đó hơn trăm sinh mạng trẻ nhỏ đã bị cướp đi.

Những ngày qua, từng có nhiều khuyến cáo đòi ‘Bộ trưởng Y tế nên từ chức’:

“Tôi chính thc m li kêu gi bà b trưởng Nguyn Th Kim Tiến nên t chc ngay… đ nhng người tht s có kh năng bước vào v trí này đ cu người. T chc vào lúc này đ nhn được s trân trng, và để đánh đng toàn b ngành y dc lc vào s kin đang quá cp bách này.”

(Trích lời của Nhạc sỹ Tuấn Khanh trên BBC tiếng Việt).

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, bà Kim Tiến có phải do dân tín nhiệm đưa bà lên ngồi ở ghế bộ trưởng đâu mà đòi? Ngay Jonathan London cũng nhận định: “Ở phía sau cuộc khủng hoảng bệnh sởi hôm nay là những vấn đề trong ngành y tế mà đã và đang kéo dài từ lâu”. Như vậy, không chữa được cái gốc “cả bộ máy” (thể chế), một ông (bà) bộ trưởng khác lên thay chắc gì đã cải thiện được tình hình.

Kẻ đang viết những dòng này, chẳng nằm trong ngành y, cũng không có chuyên môn gì về y khoa, song nhờ trước đây từng cộng tác làm một số phim với ngành Y tế nước nhà, trong đó có một phim về lĩnh vực dịch tễ nên phần nào cũng hiểu được nguyên nhân sâu xa của vấn nạn đang diễn ra. Đó là thói gian dối, tự phụ và xa dân của những người đứng mũi chịu sào trong trong bộ cánh Blouse trắng. Phải nói ra sự thật này, đau lòng lắm. Tôi cũng xin lỗi trước những người thầy thuốc lương thiện, luôn hết lòng vì người bệnh. Những người đã âm thầm cống hiến, chấp nhận mọi nguy nan để phòng chống hay giành giật sự sống cho đồng loại mà chẳng bao giờ suy bì thiệt hơn.

Trong vô số những người khoác áo Bloese còn tốt đó, có hai người thầy thuốc đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên, cho dù cách nay đã tròn 29 năm. Đó là bác sỹ Phạm Xuân Long (Viện Vệ sinh Dịch Tễ TP Hồ Chí Minh) và bác sỹ Hoàng Thủy Long (Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương). Nếu không có những con người tận tâm với nghề như thế, không biết dịch bệnh sẽ tái oai tác quái tới mức nào. Lúc chúng tôi bắt tay vào làm bộ phim nhựa 35 mm, phim “Bệnh dịch hạch” thì bà Nguyễn Thị Kim Tiến còn chưa bước vào lĩnh vực vệ sinh phòng dịch. Hai năm sau bà Tiến mới vào Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh làm nghiên cứu viên ở Phòng Dịch Tễ. Để từ đó leo dần lên Phó phòng, Phó Viện trưởng. Rồi Viện Trưởng kiêm Trưởng Ban điều hành Chương trình mục tiêu quốc gia tiêm chủng mở rộng… Trước khi nhảy tót lên Ủy viên dự khuyết rồi Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong cương vị Bộ trưởng Y tế đầy quyền lực vào tháng 7/2011. (Tham khảo ở đây).

Phải ngả mũ bái phục con đường quan lộc hanh thông của bà. Không biết bà làm luận án khi nào mà đậu cả tiến sỹ nữa. Chỉ với 4 năm, sau khi tốt nghiệp đại học Y, làm trợ lý giảng dạy và cán bộ giảng dạy ở Đại học Y Hà Nội (10/1982-12/1986) mà nay, bà đã được phong Phó Giáo sư và Nhà giáo Nhân dân.

Không những thế, từ khi ấm ghế Bộ trưởng Y tế, bà Kim Tiến còn nổi tiếng về những phát ngôn “lịch sử” (gây sốc) của ngành Y. Trong lúc đời sống nhân dân đang gặp vô vàn khó khăn, thì bà Bộ trưởng lại cho rằng, việc tăng giá một số dịch vụ y tế là một trong những thành tựu hàng đầu. Ngày 4/1/2013, bà đã ký quyết định công bố 10 thành tựu tiêu biểu của ngành y tế trong năm 2012. Bà Kim Tiến cho biết, mức viện phí hiện nay là quá thấp so với giá thực chi, vô hình trung làm khổ người dân. Nên theo bà, việc tăng giá dịch vụ không ảnh hưởng đến người nghèo mà hoàn toàn ngược lại. Chính vì giá dịch vụ thấp nên chất lượng không thể cao, vừa làm khổ bệnh nhân, vừa làm khổ bác sĩ. (Theo ĐSPL – 14/12/2013)

Những câu nói của bà được nhà báo Hoàng Hường (Vietnamnet) tổng hợp khá chi tiết.

Xin trích:

“S không có bao che, mà công khai, minh bch nguyên nhân. Trách nhim ca ai s x lý người đó. Li ca vc-xin thì x vc-xin; li do người tiêm, x người tiêm; li do k thut x lý k thut..” (Người lao động 24/07/2013)

“Cm cán b y tế nhn phong bì, quà cáp trước và trong quá trình điu tr nhưng không cm bác sĩ nhn quà sau điu tr, vì đó là tm lòng ca người bnh… … Trong min Nam, bnh nhân đưa phong bì cho bác sĩ sau khi đã được điu tr khi và nói “nếu bác sĩ không nhn quà thì bnh ca tôi không khi được. Quà này là quà nghĩa tình”. (Đất Việt 30/12/2013)

“Có tem rau sch ri thì nên có tem tht bò sch, tem cá sch, gà sch. Mun người tiêu dùng thông thái thì nhà qun lý phi lo cho dân”. (Tuổi trẻ 06/01/2013)

“Vic giáo dc nâng cao đo đc ngh nghip cho đi ngũ thy thuc là vic làm thường xuyên ca ngành. Tuy nhiên, sự đơn đc ca ngành y tế trong vic giáo dc và nâng cao y đc s không th xây dng mt đi ngũ cán b thy thuc gii y thut, sáng v y đc” (Tuổi trẻ 31/12/2013)

“Chuyn cán b y tế nhn phong bì t tay bnh nhân là không được phép. Nhưng ở đâu đó, do quá ti, do cht lượng dch v chưa đáp ng, nên người nhà bnh nhân mong mun được khám trước, được khám k hơn thì bnh nhân có đưa tin. Theo chúng tôi quan sát thì không phi là đưa phong bì mà là đưa tin nhét vào túi. Nhưng là điu dưỡng, người thay băng” (Tuổi trẻ 31/12/2013)

“Khám bo him y tế t 5 gi sáng đến 11 gi trưa vn chưa khám bnh cho người già, không thể đ như thế được. T lúc đi khám đến lúc tr tin ri ch nhn kết qu xét nghim cho đến ra ly thuc… sao mà nó kh thế cơ ch. Mt giường bnh t 2 – 3 bnh nhân nm, tôi lúc nào cũng bc xúc v chuyn này.” (Dân trí 14/08/2012)

“Cách đây 5, 10 năm cho đến gn đây, sao bnh vin ca mình không th xanh sch đp, khoa khám bnh cht chi? Bnh nhân phi ch 6-10 tiếng mi đến lượt khám bnh, công ngh thông tin ng dng không đng b. C ra các nước bên cnh như Thái Lan, Singapore thy bnh vin ca h xanh, sch đp ngăn np, nhưng bnh vin nước mình thì không. Cái này ph thuc rt nhiu vào các đng chí lãnh đo bnh vin. Vào đến bnh vin thì kh s, nguyên nhân do cơ chế tài chính, cơ s h tng, qun lý bnh vin chưa hiu qu. (VietNamNet 06/12/2012)

“100% mt các loi ngâm cht ty trng công nghip, gn 50% dng c sn xut bn, 50% nước ung đóng bình nhim vi sinh. Đúng là quá bn, ăn chi toàn là đ bn!”. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhìn nhận thực tế bất cập này tại TPHCM (Người lao động 18/12/2011)

Đứng trước các diễn biến phức tạp của dịch sởi đang diễn ra, Bộ trưởng Tiến nói rằng, sở dĩ Hà Nội dịch sởi bùng lên mạnh cho dù đây không phải thời điểm phát dịch là do 4 nguyên nhân. Thứ nhất là các cháu bé không được tiêm Vắc-xin. Thứ hai là bố mẹ các cháu cứ đưa con đổ dồn đến tuyến trung ương dẫn đến quá tải. Thứ ba là bệnh nhi dồn một chỗ quá đông, gây lây nhiễm chéo, và thứ tư là thời tiết miền Bắc từ sau Tết đến nay liên tục ẩm, khiến virus gây bệnh hô hấp phát triển mạnh, nhiều trẻ vốn bị viêm phổi, sau mới mắc sởi, bệnh chồng bệnh nên nguy cơ tử vong cao. (NĐT – 23/4/2014).

Như vậy theo bà Tiến, dịch sởi vừa giết chết 112 cháu bé không phải tại Bộ Y tế mà… lỗi tại dân và cả trời nữa!

Những loạn ngôn như thế, tự nó đã bộc lộ cái tâm, tầm, bằng cấp, danh hiệu, trách nhiệm của vị “Tư lệnh ngành” đang lâm trọng bệnh và cần phải chữa trị kịp thời. Người cầm lái vĩ đại của chế độ thì đang lo không biết con bệnh nặng (như bệnh của ngành Y là ví dụ) có chịu tự giác uống thuốc không?

Còn người đã và đang nghiên cứu về ngành Y tế cũng như Chính trị – Kinh tế – Xã hội Việt Nam nói chung như Jonathan thì kê toa thuốc hơi nặng. Ông đòi “điều trị cả bộ máy” như vậy, chắc gì đã nhận được sự hoan nghênh?

Thật là:

  • Đối với kẻ tự hại thân dầu nói cũng bằng thừa. Đối với kẻ tự liều thân dầu giúp cũng vô ích. (Mạnh Tử)

Gocomay

________________

 

825 – Đôi điều về chuyện đăng ký giữ quốc tịch VN

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cảm ơn tấm lòng của bà con Việt kiều tại Đức trong công cuộc xây dựng quê hương. Ảnh: Tạp chí Quê hương.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cảm ơn tấm lòng của bà con Việt kiều tại Đức trong công cuộc xây dựng quê hương. Ảnh: Tạp chí Quê hương.

Hai tuần nay thấy ồn ào chuyện hàng triệu kiều bào sẽ mất quốc tịch nếu không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trước thời hạn 1/7/2014 tới.

Trên “Phây” của anh bạn hàng xóm, tôi chú ý đến 2 cái còm của cùng một người, như sau:

- Một kiểu làm tiền hiện đại. Taị sao lại mất quốc tịch? Quốc Tịch cũng phải gia hạn như Hạn Sử dụng của Đồ ăn phải không? Nếu không gia hạn, sợ Quốc Tịch bị Thiu, Ôi, thối rữa phải không nhỉ ?

- Lại thiếu tiền đây, bây giờ cố tìm ra cách kiếm chác, còn chiêu nào đưa ra nốt để bà con sợ 1 thể, bỏ hết về VN, gây loạn rồi lúc đó mới lại sửa sai. Khổ quá, các vị cứ thấy tinh thần bất ổn, đêm qua nhậu về, khó ngủ, hôm sau lại ra 1 luật mới cho dân đen vỡ mật, tài thật…

Nếu không tỉnh táo suy xét, người ta rất dễ cho đó là ý kiến của một tay bất mãn chế độ. Nhưng người phát ra ý kiến trên hoàn toàn không thuộc thành phần ấy. Trái lại, anh còn tự hào cho đến giờ, sau mấy chục năm sống ở nước ngoài có công ăn việc làm ổn định mà anh ta vẫn còn giữ nguyên quốc tịch Việt Nam.

Trên tờ Người Lao động (2/4) cho biết, Đăng ký giữ quốc tịch rất đơn giản, kiều bào chỉ cần nộp tờ khai, giấy tờ tùy thân và giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là được cấp giấy xác nhận đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Trường hợp không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, vẫn được cấp giấy xác nhận này nhưng cần khai lý lịch làm cơ sở cho các cơ quan chức năng trong nước xác minh quốc tịch và ghi vào sổ đăng ký.

Trên thực tế, anh bạn tôi ở Đức, do chót mua một căn nhà ở khu chung cư tại Hà Nội để lấy chỗ đi về của gia đình, nên anh rất sốt sắng trong việc đăng ký giữ quốc tịch. Anh đã năm lần bảy lượt liên hệ với cơ quan đại diện ngoại giao của VN tại Đức. Từ hồi 2009 – 2010, đều được trả lời phải chờ thông tư hướng dẫn của Bộ Tư pháp ở trong nước. Đầu năm nay, anh lại liên lạc với Tổng Lãnh sự quán VN tại Frankfurt/Mainz. Được hướng dẫn chỉ cần điền vào một tờ khai theo mẫu (có sẵn trên mạng) + bản sao sổ hộ chiếu hay chứng minh thư của Đức + giấy khai sinh hoặc CMT cũ do VN cấp (để chứng minh có gốc quốc tịch VN) + 30 € tiền lệ phí + 2 phong bì có ghi rõ địa chỉ và dán sẵn tem đảm bảo để trả lại kết qủa. Tất cả gửi thư bảo đảm về LSQ, sau 1 tuần sẽ xong.

Thư gửi đi, gần 2 tuần sau anh nhận được mấy dòng yêu cầu của LSQ (không ai ký tên), xin trích: Tổng Lãnh sự quán Frakfurt đã nhận được hồ sơ xin Đăng ký giữ Quốc tịch của bà (anh ta được chuyển giới giống bác Huệ Chi ở HN dạo nào, he he – GCM). Tuy nhiên, theo quy định, việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam chỉ áp dụng cho những người mang quốc tịch Đức mà không bị buộc phải từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Đề nghị Bà bổ sung giấy tờ chứng minh chưa bị mất Quốc tịch Việt Nam (ví dụ: Aufenthalbescheinigung trong đó ghi Quốc tịch: Đức và Việt Nam).

Nhận được hồi âm, ngoài chuyện không vui vì bị đổi giới tính. anh ta than phiền với tôi, cả nhà anh ta 5 người, thì 4 người muốn nhận quốc tịch Đức đều bị buộc phải có giấy xác nhận đã từ bỏ Quốc tịch Việt Nam. Riêng anh, từ hơn chục năm trước tụi Đức không bắt nên anh đương nhiên vẫn còn. Luật về Quốc tịch của Đức cũng không chấp nhận song tịch ngoài một số trường hợp cá biệt. Anh bạn tôi cũng may mắn nằm trong số đó. Đã 2 lần xin Visa và Giấy miễn Thị thực ở ĐSQ VN ở Berlin, đã phải trình tất cả các giấy tờ (như giấy khai sinh bản gốc), vậy mà thay vì giở hồ sơ lưu ở ĐSQ ra, cơ quan đại diện ngoại giao của VN lại bắt đương sự phải tự chứng minh qua cái gọi là Aufenthalbescheinigung trong đó ghi Quốc tịch: Đức và Việt Nam là cớ làm sao?

Tôi khuyên anh ta, thôi ông ạ, qua sông thì phải lụy đò, các ông bà nhân viên lãnh sự họ xoay sở để ngồi được vào các ghế đó cũng vất vả tốn kém lắm. Nay họ còn bận bươn chải để gỡ lại vốn và kiếm chút màu mè trước khi hết nhiệm kỳ, họ đâu có thời gian lục hồ sơ lưu (ở Sứ) để xem ông đã mất quốc tịch hay chưa, cho dù ông mới sang Đức định cư chưa lâu. Nghe lời tôi, anh ta lên Gemeide (như UBND Xã bên mình) và xin cái tờ Aufenthalbescheinigung trong đó ghi Quốc tịch: Đức và Việt Nam đó. Nhưng viên phụ trách về thủ tục hành chính nói, hiện ở Đức không có loại giấy thông hành (Aufenthalbescheinigung) kỳ quặc như thế. Khiến anh buồn thiu, về nhà anh cố tìm trong đống giấy tờ ngồn ngộn xem có thứ giấy tờ nào của Đức cấp mà ghi Quốc tịch: Đức và Việt Nam hay không?

Tưởng như gần tuyệt vọng rồi thì anh tìm thấy một tờ giấy của Der Generalbundesanwalt beim Bundesgerichtshof in Bonn (Cục Lưu trữ Hồ sơ của Toà án Liên bang trụ sở ở Bonn) cũ mèm ghi tên và địa chỉ nhà ở của anh ta. Cùng dòng chữ: Staatsangehörigkeit: deutsch, vietnamesisch (Quốc tịch: Đức/ Việt Nam) bên trên dòng chữ: Keine Eintragung (chưa có tiền án tiền sự). Anh liền chụp ra và gửi thẳng tới LSQ. Khoảng 2 tuần sau, nhận được kết qủa. Đó là một tờ giấy xác nhận (giấy đánh máy khổ A4), có chữ ký (đóng dấu) của viên Tổng Lãnh sự: Đã đăng ký giữ Quốc tịch Việt Nam. Anh mừng lắm, khoe với mọi người, anh sẽ dùng giấy này để xin sổ hộ chiếu Việt Nam để sau này có thể về đầu tư và làm ăn như mọi người Việt Nam khác. Nay thấy trên Tiền Phong Chủ nhật số ra ngày 30/3 đưa tin: Giấy xác nhận đăng ký quốc tịch Việt Nam không có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam, cũng không phải là cơ sở để cấp phát các giấy tờ khác như hộ chiếu, giấy thông hành, giấy miễn thị thực, chỉ có giá trị “giữ chỗ” để người Việt Nam định cư ở nước ngoài không mất quốc tịch Việt Nam sau ngày 1/7/2014. Làm anh thực sự thất vọng!

Anh bảo tôi, theo niêm yết tờ giấy này chỉ 10 $ USD (Biểu mức treo ở đây), nay họ yêu cầu nộp lệ phí cao gấp 4 lần mà chả có biên lai ký nhận gì cả. Ba bốn chục bạc mà được việc thì chả tiếc, những đợt quyên góp cho thiên tai và bà con khốn khó bên nhà anh có tiếc gì đâu. Nhưng lừa nhau một cách trắng trợn như thế thì thật qúa thể.

Ông Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn chắc là người được Bộ Ngoại giao phân công trong lĩnh vực này. Ngoài việc ông quảng bá việc sẽ tổ chức cho cả một số Kiều bào thuộc “thành phần cực đoan” ra Trường Sa để cùng làm lễ cầu siêu cho liệt sỹ QĐNDVN, binh sỹ VNCH…, ông còn đang đề nghị với chính phủ và quốc hội sửa luật để việc quy định đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam nên mở không nên đóng đối với Việt kiều.

“Chúng tôi sẽ kiến nghị không nên đặt thời hạn nhất định, mà nên để mở, ai muốn đăng ký thì đăng ký, muốn giữ đến bao giờ thì giữ, không nên quy định thời gian. Điều này cũng phù hợp nguyện vọng của bà con kiều bào”. Đó là lời ông Sơn nói trên TPO chiều hôm qua (5/4).

Ông Sơn còn cho rằng, một số người chưa đăng ký do ngại ảnh hưởng đến việc làm, giấy tờ cư trú, do sự tuyên truyên chống phá của một bộ phận người Việt cực đoan.

Với cáo buộc chuyện đăng ký giữ Quốc tịch Việt nam do “một bộ phận người Việt cực đoan” tuyên truyền chống phá, xin kể lại câu chuyện mà tôi “mục sở thị” để mọi người rộng đường suy xét cho thật công tâm!

Gocomay

__

* PS: Xem thêm:

564 – Đại sứ quán VN ở nước ngoài hành dân đâu có gì là lạ?

________________

824 – Tây Nguyên trước mùa mưa lũ

Thác Đray H'linh (nay đã bị nhà máy thuỷ điện làm đổi dòng)

Thác Đray H’linh (nay đã bị nhà máy thuỷ điện làm đổi dòng)

Lời đầu:

-       Những ngày này cách đây đúng 30 năm, tôi dẫn đầu một nhóm làm phim 4 người lên Tây Nguyên khởi quay bộ phim “Thủy điện nhỏ“. Thời đó “trai 30 tuổi đang xoan“, chúng tôi đều hăng hái lắm. Đây là đề tài do tôi đề xuất với Hãng phim TL&KH và được chấp thuận. Trước đó một năm, khi đi quay bộ phim “Năng lượng gió“ cho Đạo diễn Nguyễn Thiệu, tôi được Bộ Điện lực (nay là Bộ Công Thương) giới thiệu đề tài này. Trộm nghĩ, mình không làm, cũng có người khác. Thử liều một phen xem sao. Đó chính là bộ phim đầu tay của tôi trên cương vị đạo diễn.

-       Mặc dù vậy, tự trong thâm tâm, tôi thấy mình cũng có một phần trách nhiệm (dù nhỏ thôi) trong việc tuyên truyền cổ vũ cho việc phát triển thủy điện nhỏ và vừa ở Việt Nam cách đây 30 năm. Nay mới thấy, khi mà các nhóm lợi ích đã câu kết với nhau làm thủy điện theo kiểu chụp giựt bất chấp những hiểm hoạ to lớn về môi trường. Đã không tính đúng tính đủ các giữ kiện tối quan trọng như các thông số thủy văn đầu vào khi thiết kế để tiết kiệm các chi phí cốt sao mau chóng sinh lợi, chóng hoàn vốn đầu tư cho doanh nghiệp và cá nhân góp vốn. Từ đó dẫn đến việc xả lũ sai qui trình khiến người dân ở hạ lưu lĩnh đủ. Việc phá rừng vô tội vạ để làm làm thủy điện mà không có phương án trồng bù rừng. Là nguyên nhân gây ra các trận lũ quét, sạt lở đất gây hậu quả nghiêm trọng. Khiến cả xã hội phải giật mình về an toàn thủy điện. Tình trạng tiêu cực trong phê duyệt bừa bãi cùng với việc thi công ẩu, chất lượng công trình không đảm bảo đã khiến thủy điện đang trở thành nỗi kinh hoàng của người dân Miền Trung và Tây Nguyên trước mỗi mùa mưa lũ…

-       Trong một entry cách đây hơn 4 năm, như một người trong cuộc, tôi đã nêu câu hỏi: Thuỷ điện ở ta có biết ăn thịt người? (*)

Nay xin post lại một trích đoạn trong “Những chặng đường gió bụi“ (dạng nhật ký cá nhân) của tôi thay cho nhời tạ lỗi muộn mằn này!

*

*           *

Đường lên Tây Nguyên

Đường lên Tây Nguyên

Chiếc xe U-át của Công ty Đìện lực Miền Trung chở 4 thằng tuổi Ngọ chúng tôi đang chầm chậm leo trên quốc lộ 19, nhằm hướng Pleiku băng tới.

Đèo An Khê đây! Anh lái xe giới thiệu với mọi người.

Cảnh núi non trùng điệp vây quanh từ bốn phía. Những đoạn đèo ngoằn ngoèo cứ nối tiếp nhau mà tôi chỉ nhớ được con đèo An Khê nổi tiếng này trên sách vở – một địa danh đã ghi vào lịch sử.

Lên đến đỉnh đèo nhìn xuống, cả một khung cảnh hùng vĩ và mang đầy sự huyền bí của núi rừng. Con đường đã qua giờ nhìn lại trông giống một con rắn đang uốn mình. Bên dưới, vài chiếc xe Reo chuyên dụng cũ của Mỹ, trông dữ tợn như loài bọ cạp khổng lồ đang “trườn” về xuôi, mà từ đây nhìn nó như những chú kiến càng nhỏ xíu.

Tây Sơn Thượng đạo thuộc vùng rừng núi An Khê, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Quần thể Tây Sơn Thượng đạo gồm 6 di tích liên quan đến cuộc khởi nghĩa của người Anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ. Cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại do anh em họ Nguyễn lãnh đạo bùng nổ năm 1771. Vùng núi rừng An Khê của Gia Lai trở thành căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Chính từ căn cứ Tây Sơn Thượng đạo ở An Khê, đại quân của cuộc khởi nghĩa đã tràn xuống đồng bằng. Anh em nhà Tây Sơn đã lập được mối quan hệ gắn bó giữa người Kinh và người Thượng, tập hợp được các dân tộc Bắc Tây Nguyên ở vùng Tây Sơn Thượng đạo như người Ba Na, Gia Rai tham gia cuộc khởi nghiã.

Để có được chuyến đi lịch sử này, tôi đã phải cố gắng rất nhiều. Năm ngoái, tôi phải quay cho xếp Lê Quốc một phim, quay cho xếp phó Lương Đức một phim, cho người đẹp Lệ Mỹ (của xếp phó) một phim và cho cựu xếp Nguyễn Thiệu 2 phim (đó là những tiếng nói sinh sát trong chi bộ). Tất cả nếu không có sự gật đầu của các nhân vật quan trọng ấy thì khó mà có được chuyến làm phim đầu tay (với chức danh đạo diễn) thế này.

Đang mải mê với những dòng suy nghĩ mung lung chen lẫn, đan xen nhau như vậy thì xe đã tiến sâu vào địa phận Gia Lai. Địa bàn dạo đó an ninh, có nhiều vấn đề còn đang nổi cộm. Anh lái xe nói, hay là ông đạo diễn nên thay cái áo khác thì tốt hơn. Nhìn ông to con thế này, lại áo bay Liên xô, đi xe U át, Fullro, nó nhầm ông với cánh chuyên gia Nga lên Tây Nguyên tìm quặng mà để ý thì cũng chẳng hay ho gì!

Lại văn Sinh ngồi băng ghế sau cũng tán thưởng, phải đấy ông đạo diễn ạ! Năm ngoái, đi quay săn voi cùng Phạm Bình qua đoạn này, tôi còn được nghe tụi Fullro còn cướp cả một chiếc xe chở khách loại nhỏ kia. Trên xe, có cả ông mặc áo bộ đội, cũng là mục tiêu tấn công của chúng đó, cẩn thận vẫn hơn! Lần đầu lên Tây Nguyên, nên cảm giác về một vùng đất đầy huyền thoại, khiến tôi háo hức vô cùng. Nghe lời mọi người khuyên, tôi cởi bỏ chiếc áo bay và thay vào bằng chiếc áo kẻ sọc đen, mắt vẫn không rời đoạn đèo quanh co dốc dựng ngược đầy bí hiểm.

Qua suối - (tháng 4.1984: Sơn - Kỹ sư điện lực và Gocomay)

Qua suối – (tháng 4.1984: Sơn – Kỹ sư điện lực và Gocomay)

Càng lên cao, cảm giác về núi rừng trùng điệp tự nhiên như bị mất dần. Xa xa, những vạt luá xanh trải rộng, nom chả kém gì những cánh đồng thẳng cánh cò bay ở miền xuôi. Đã làm tôi thực sự bất ngờ. Ở độ cao như thế này, Tây Nguyên lại như một bình nguyên bao la bát ngát. Ruộng nương đâu có nhỏ vụn như ở vùng núi rừng Tây Bắc mà tôi đã nhiều lần tới đó. Đúng cái tên Cao nguyên có lẽ là như vậy! Những mái nhà rông của người Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ-Triêng cao vút như lưỡi rìu chém ngược lên bầu trời xanh; những ngôi nhà mồ của dân tộc Gia Rai ở rải rắc khắp các buôn làng. Không khí trên cao nguyên dịu mát thay dần cái nóng cháy người ở miền biển. Bầu trời bước sang tháng tư, đầu mùa mưa nên xa xa đã bắt đầu xuất hiện những đám mây sam sám. Nhưng mùa khô vẫn lưu dấu ấn trên những vạt hoa cúc qùi vàng rực. Dọc bên con suối nhỏ ven đường có nhiều rẫy bắp, cà phê của đồng bào dân tộc. Thấp thoáng trước mặt, dãy Trường Sơn hùng vĩ dần hiện ra. Chúng tôi đã đến Tây Nguyên.

Khác với cảm giác vào Đà Lạt, thị xã Pleiku hiện lên từ rất xa. Nếu không có loáng thoáng những chú voi kéo gỗ ẩn hiện trên những con đường đất đỏ gần đó. Thì ta như có cảm tưởng như lạc vào một thành phố nào đó ở vùng trung Âu, chứ khó mà nhận ra đó lại là trung tâm của một tỉnh trên Cao Nguyên của xứ mình.

Theo truyền thuyết, thuở xa xưa ở vùng đất này không có tên gọi. Nhân ngày hội ở một bộ tộc Djarai, đồng bào tụ họp nhau lại ở nhà rông để ông Phaphai Tobal làm lễ. Trong lúc mọi người đang nhảy múa, ca hát theo tiếng cồng chiêng hay trống Paranưng, say sưa bên các ché rượu thơm ngon thì một cuộc xô xát giữa hai người con trai của vị tộc trưởng diễn ra ác liệt. Họ tranh giành quyền lực để kế vị người cha già yếu. Để phân giải, hai người con trai phải dùng sức mạnh bứt đứt đuôi trâu. Kết quả, người con trưởng thắng. Từ đó, người ta đặt tên cho địa danh này là Pleiku!

pleikuphonuiĐêm ở nhà khách chi nhánh điện lực, chúng tôi được đãi món cá quả rán giòn thơm phức. Lại một bất ngờ lớn nữa đến với tôi. Chỉ những khoanh cá to cạng vàng xuộm trên điã, anh phụ trách nhà nghỉ nói:

- Cá quả ở biển hồ đó! Nếu các đồng chí có nhiều thì giờ, tôi sẽ bố trí mời mọi người đi thăm. Lên Pleiku đây mà không ra hóng mát ở biển hồ thì cũng uổng.

Buổi tối tôi ghé thăm bố mẹ cô Lài, giáo viên, người hàng xóm với gia đình tôi cùng trong khu tập thể ở Hà Nội. Bố chị là đại tá, giám đốc công an tỉnh. Tôi mang quà của chị và cũng là để dò la xem tình hình an ninh ở cao nguyên dạo này ra sao? Không gặp được vị đại tá. Nhưng qua lời bà vợ thì tôi cũng tạm yên tâm. Vì sang năm nay an ninh trong toàn vùng đã khá lên rất nhiều. Muối, vải vóc và nhu yếu phẩm được nhà nước cung cấp đầy đủ hơn, người theo Fullro bỏ rừng về buôn làng cũ làm ăn. Nhìn chuồng lợn sau nhà, muời mấy chú ỉn mũm mĩm, bà giám đốc công an nói với tôi, nhờ bắp ở đây rẻ nên chăn nuôi ở trong này là rất phát tài. Một năm cô xuất hai lứa heo thịt cho công ty thực phẩm thị xã, tiền lãi còn bằng mấy lương của chú ấy chứ. Được cái khí hậu trong này dù ban ngày có nắng nóng tới đâu, ban đêm vẫn cứ phải đắp chăn, chăn bông quanh năm. Cháu ra bảo Lài, dịp hè cứ vào đây mà nghỉ. Đà lạt, Sa pa chắc gì đã hơn ở đây.

Ngày hôm sau chúng tôi được đưa tới những ngọn thác dự kiến sẽ triển khai những dự án thuỷ điện nhỏ, nội dung chính mà kịch bản phim của chúng tôi đề cập. Lang thang trên các nẻo đường đất đỏ trên cao nguyên Măng Đen, băng qua những rừng thông bạt ngàn, và những dòng sông đã đi vào huyền thoại như Dah, Bla, Pô Kô… Giữa núi rừng hoang sơ và hùng vĩ là những buôn làng của đồng bào các dân tộc: Ba Na, Brâm, Gia Rai, Xê Đăng, Rơ Măm… Nơi đây vẫn còn giữ nguyên vẹn những phong tục của ngàn xưa, như lễ đâm trâu, lễ ăn cơm mới, lễ tế thần linh, lễ bỏ mả. Họ là những cư dân nông nghiệp trồng lúa rẫy, mỗi năm làm một vụ, phụ thuộc vào nguồn nước trời. Nhà rông là nơi sinh hoạt chung và cũng là nơi diễn ra lễ hội của làng. Làng nào càng đông dân cư, nhiều thanh niên và giàu có thì nhà rông càng to, càng cao. Đi sâu vào bản làng, trẻ con bồng bế nhau kéo ra tròn xoe mắt nhìn những người đồng bằng, như lần đầu tiên chúng được nhìn thấy. Đứa nào nước da cũng sạm nắng, nhưng gương mặt thể hiện nét hồn nhiên của trẻ thơ vùng núi. Chúng tôi gặp rất nhiều già làng với sắc da tím mốc như màu các vỉa quặng bôxít nằm rải rác khắp vùng cao nguyên. Tò mò có đôi lần tôi còn rờ tay vào làn da bụng của vài cụ. Trao ôi, dầy chả kém gì da voi. Tôi xuýt xoa nói với Sinh, có lẽ vòi muỗi có cứng tới đâu cũng khó mà xuyên thủng được lớp “da voi“ này. Chả thế mà đêm ngủ các cụ có cần mùng màn gì đâu. Mỗi chiếc khố đơn sơ vĩnh cửu thế thôi. Nhưng nhiều cụ sống thọ tới hơn trăm tuổi. Chỉ lúc nán lại nghỉ chân trên đường, mới có dịp la cà như thế chứ thời gian nào có phép chúng tôi đi sâu vào các đề xa hơn công việc chính của mình.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên.

Tượng nhà mồ Tây Nguyên.

Không chỉ ở Gia Lai, đến đâu ở Tây Nguyên, chúng tôi cũng bắt gặp những cầu thang đôi bắc lên nhà sàn với những đục đẽo độc đáo. Đặc biệt ở khu các nhà mồ có rất nhiều bức tượng gỗ phản ánh công việc hàng ngày và sinh hoạt của người dân. Người đánh trống, người giã gạo, người trồng lúa, người đi săn, người khóc… nhưng nhiều nhất là nói sự sinh thành, sự ra đời và tái sinh mãi mãi của con người: Tượng những thanh nữ ngực trần phồn thực, người đàn bà chửa, mẹ bồng con, cả những tráng niên lực lưỡng với những khẩu “đại pháo” chỉa ra đầy uy lực. Những tác phẩm ngẫu hứng của những cư dân bản địa chỉ với những nhát rìu thô sơ, phóng khoáng xuất thần… sáng tạo bóc ra từ những thân gỗ đơn sơ mà đầy biểu cảm.

Từ tỉnh lỵ Pleiku theo quốc lộ 14 đi về thị xã Kon Tum, khi đến km 7 thì rẽ về tay phải, theo con đường mòn dẫn đến hồ.

Biển Hồ là tên do người Kinh đặt, còn tên thật của nó là Tơ Nueng, là một miệng núi lửa khổng lồ nằm ở phía bắc thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai quanh năm ăm ắp nước và luôn ngăn ngắt xanh. Như một chiếc gương trên chót vót cao dâng, cho mây trời soi bóng. Xung quanh Tơ Nueng ẩn chứa nhiều huyền thoại khiến Biển Hồ lại càng kỳ ảo trong ký ức của cả dân bản địa và khách vãng lai.

Một cái “ao” khổng lồ giữa lưng trời, đứng ở dưới đồng bằng cách chân núi không xa nhìn lên chỉ thấy mây phủ kín mà hiện hữu một cái “biển” nước như thế thì cũng quá ấn tượng rồi. Đó thực chất chính là miệng một núi lửa nhưng khác là âm sâu xuống lòng đất. Đối diện với Biển Hồ theo trục Bắc Nam khoảng ngót chục cây số là đỉnh Hàm Rồng, cũng là một miệng núi lửa khổng lồ khác. Hàm Rồng là dương, dương từ khí núi, hiên ngang như tấm bình phong chắn gió. (Xung quanh thành phố Pleiku là hàng trăm miệng núi lửa lớn nhỏ, nhưng lớn nhất vẫn là Biển Hồ và Hàm Rồng). Rất đối xứng, một bên nhô lên, bên thụt xuống, khiến có người liên tưởng so sánh nó như Yoni và Linga. Diện tích của Hàm Rồng và Biển Hồ cũng tương ứng nhau, hình dáng cũng trùng khớp nhau. Hồi cuối 1980, khi mang máy quay phim theo đoàn không ảnh quốc tế trên máy bay AN-30, suốt 6 tiếng liền tôi đã thấy như thế. Hình dung, nếu bê Hàm Rồng thả xuống Biển Hồ thì sẽ khít khịt, vừa in. Tạo hoá công mới vĩ đại làm sao?

Biển hồ Tơ Nưng

Biển hồ Tơ Nưng

Nước hồ quanh năm đầy ắp, xanh trong có thể nhìn rõ từng đàn cá bơi lội dưới nước. Hồ có độ sâu từ 20 đến 40m. Ðây là vựa cá, hàng năm cung cấp cho Pleiku hàng trăm tấn cá. Đây còn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước cho cây trồng và vật nuôi cho một vùng rộng lớn. Phong cảnh xung quanh hồ thật ngoạn mục, từ những cây cối và các loài hoa khoe sắc ven hồ. Xa hơn là những cánh rừng bạt ngàn, những ngọn đồi uốn lượn trập trùng. Những chiếc thuyền độc mộc lướt trên mặt nước. Nghe anh phụ trách nhà nghỉ nói, trữ lượng nước của Biển Hồ vào khoảng 25 đến 30 triệu m³, xê dịch giữa mùa khô và mùa mưa chứ nó không “nguyên si, không đổi” như lời đồn. Nhưng nguyên việc có một cái hồ nước vĩ đại đến ba chục triệu mét khối lơ lửng trên tầng trời như thế đã là kỳ diệu lắm rồi…

Ở phía bắc Tây Nguyên còn có dãy núi đá hoa cương với đỉnh Ngọc Linh cao hơn 2.500 m, được coi là “mái nhà của Tây Nguyên”; đỉnh Ngọc Phan hơn 2.000 m, nơi bắt nguồn của những dòng sông chảy về miền Trung, như sông Tranh, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Ba. Những khu rừng nguyên sinh và đặc dụng, như Chưmon Ray, Đác Uy, Sa Thầy. Nhưng tiếc thay đại công trình đường Hồ Chí Minh đang triển khai, còn quá bề bộn, nên chúng tôi không thể bay qua mà tới đó được.

Những dòng sông ở bắc Tây Nguyên đều khởi nguồn từ những đỉnh núi cao đầy truyền thuyết: Ngọc Linh, Kon Ka King, Chưmonay… Chảy qua mỗi địa bàn dòng Ðăc Pla, Sê San hay Kroong Pôkô lại mang một tên gọi khác nhau: đơn giản vì nó xuyên qua nhiều vùng văn hoá, lúc là buôn làng của những người Bana, lúc là buôn làng của nhóm sắc dân Rơ Ngao, Gia Rai, Xơ Ðăng, Rơlăng, Rơmăm, Brâu…

Bến nước của người Rơ Ngao khác với bến nước của người Brâu, điệu chiêng người Gia Rai khác điệu chiêng người Xơ Ðăng, thẩm mỹ hoa văn trên gùi nơi vai các sơn nữ Rơlăng cũng không giống với hoa văn nơi gùi các thiếu nữ Ba Na, hương vị ché rượu cần người Rơmăm cũng khác hương rượu cần của người Xơ Ðăng. Muốn thấu tỏ các lớp lang tầng văn hóa ấy, có khi cả đời cũng chắc gì hiểu nổi, huống chi cưỡi ngựa xem hoa như chúng tôi. Dọc đường xe chạy, bắt gặp dòng Ðăc Pla với Kroong Pôkô thoắt ẩn hiện với những cù lao bãi đá ấn tượng. Thi thoảng hai bên bờ có những cảnh đánh cá theo kiểu cổ xưa trên những con thuyền độc mộc hiện ra ven những dải rừng cà chít đương nẩy lộc đâm chồi.

Trước khi xuôi xuống nam Tây Nguyên, chúng tôi tới quay phim thác Yaly. Cách thành phố Pleiku khoảng 40km về hướng tây bắc, thẳng quốc lộ 14 hướng Kontum, đi khoảng 15 km đến ngã ba Yaly, quẹo trái, đi thêm 23 km là tới thác Yaly nằm trên sông Sê San thuộc địa bàn xã Ialy, huyện Chưpăh, tỉnh Gia Lai. Đúng ra Yaly toạ ngay đường ranh giới Gia Lai – Kon Tum. Nơi đây đang rục rịch khâu chuẩn bị cho dự án lớn xây nhà máy thủy điện có sản lượng lớn thứ hai và là công trình thủy điện ngầm lớn nhất Việt Nam với công suất lắp đặt 720 Mw và sản lượng điện trung bình 3,7 tỷ kwh/năm. Song trước mặt chúng tôi lúc đó vẫn là một Yaly vô cùng hoang vu. Đoạn lòng sông Sê San sông lởm chởm đá này có độ chênh khá lớn, tạo thành ngọn thác Yaly hùng vĩ. Dòng sông phía thượng lưu hẹp, dồn nước chụm đổ xuống hạ lưu, tạo nên cột nước cao tới 40 thước, nom như chiếc vòi voi khổng lồ. Bọt tung trắng xóa như thảm mưa mù bao phủ cả một vùng hạ lưu. Âm thanh réo ầm ầm, man dại như tiếng rú rít của hung thần nghe sởn gai ốc. Ai yếu tim, đảm bảo không thể đứng trên đỉnh thác mà nhìn xuống dòng Sê San ngầu bọt dữ rằn ấy.

Thác Yaly (nay đã không còn hiện hữu)

Thác Yaly (nay đã không còn hiện hữu)

Chiếc Camera Konvát đen đang lia dọc bỗng khựng lại. Nút bấm máy bằng thép mạ sáng loáng nhỏ như chiếc cúc áo bị rời ra, nảy tưng tưng xuống tảng đá tai mèo dưới chân rồi rơi xuống vách đá sát chân thác. Tiếc chiếc cò máy, như một phản xạ tự nhiên, tôi dúi nhanh chiếc máy cho Sinh và Khang phía sau, lao xuống định lượm lại mà không hề nghĩ đến nguy hiểm là gì. Sinh, Khang và Sơn hoảng quá cản không kịp liền hét toáng lên. Tôi có nghe thấy gì đâu mà hét. Tiếng nước dội ầm ầm thế này. Sau cú sốc như giỡn mặt với tử thần qua đi, tôi mới thấy sợ. Tôi có thể sẽ rơi xuống tảng đá lởm chởm bên dưới, có thể tan xác bởi cột nước khổng lồ điên cuồng. Nhưng ở thời khắc đó tôi nào có nhận ra điều gì. Nẩy vài cái như trêu ngươi, chiếc cò thép đã rơi kẹt vào khe tảng đá mấy chục mét bên dưới. Từng đợt sóng nước lớn oàm oạp đập mạnh xung quanh. Mọi người kéo tôi lên, Khang liền lấy dao zíp gọt tạm cho tôi chiếc cò mới bằng một mẩu cành cây bẻ bên bờ suối. Nhờ thế, tôi cũng thực hiện nốt được phần công việc còn dang dở. Nhìn từ bờ này sang bờ kia ước lượng khoảng ba trăm thước. Hai bên bờ toàn là những tảng đá đủ cỡ nằm chen chúc lên nhau. Mặt nước cũng lố nhố vô số đá nom như bầy cá sấu khồng lồ. Người dẫn đường cho biết, họ đã từng gặp những con cá sấu lớn từ vùng biển hồ Mê Kông bên Campuchia, ngược dòng lên đây trú ngụ và đã sinh sống lâu năm ở khúc sông dưới chân thác này. Trong đời, hễ ai mà một lần nhìn thấy cột nước lớn như thế, hẳn không bao giờ quên. Với tôi, thác Yaly quả là ngọn thác lớn vào bậc nhất của Tây Nguyên và cả bán đảo Đông Dương. Tiếc thay, hôm nay nó đã bị nhà máy thuỷ điện xoá sổ hoàn toàn.

Rời Yaly hùng vĩ, chúng tôi trở lại quốc lộ 14 và xuôi về Đắclák. Những cánh rừng Khộp dọc hai bên đường đang mơn mởn lá non. Đan xen là những vạt ruộng cà phê đang phơi hoa trắng muốt. Tạo cho cao nguyên trước mùa mưa những hương sắc ngất ngây, quyến rũ. Mùi hương cà phê thơm nồng, làm bướm ong khắp nơi đổ về vờn phấn, hút mật. Chúng kéo thành bầy đàn theo hương hoa xuân bay lượn khắp trời Tây nguyên.

Sau một ngày làm việc cật lực. Ổn định chỗ nghỉ xong, khi màn đêm buông, chúng tôi tản bộ vào trung tâm thành phố Buôn Mê Thuột. Quả là thủ phủ của Tây Nguyên! Khác với Kon Tum, PleiKu, hơn 9 giờ tối, khách thập phương vẫn còn tấp nập. Rất đông cư dân thành phố tập trung tại các công viên sinh hoạt hoặc đi bộ trên lề đường như một hình thức tập thể dục buổi tối.

Theo dòng người hành lễ, chúng tôi bước vào toà giáo đường Thiên chúa giáo khang trang ở khu trung tâm. Con gái Buôn Mê Thuột da trắng bóc, giọng nửa Nam nửa Bắc, nói chuyện nhỏ nhẹ, dễ nghe đang kéo vào bên trong thánh đường. Hôm nay là tối chủ nhật, rất đông tín đồ tham gia. Theo gót anh chuyên viên đứng tuổi của bộ Điện lực, chúng tôi kéo nhau vào xem thánh lễ. Cho tới lúc mọi người cùng qùi xuống nền nhà, 4 thằng tuổi ngọ chúng tôi đứng trơ ra. Bất đắc dĩ phải qùy theo các tín đồ, được bữa ê đầu gối. Cứ nhớ mãi cái đận qùi ấy…

Hôm sau chúng tôi lại tiếp tục tới các ngọn thác nổi tiếng quanh Buôn Mê Thuột. Tây Nguyên không chỉ có cà phê, có “cái nắng”, “cái gió” mà còn ôm trong mình những con thác to lớn, nguyên sơ đầy kỳ bí.

Từ Buôn Mê Thuột ngược đường quốc lộ 14, nhằm hướng Pleiku, chừng mươi cây số thôi, chúng tôi đến Đray H’linh. Tiếng Êđê gọi Đray là thác, còn H’linh là tên một người con gái. Thác tuy không cao như Yaly, nhưng thơ mộng, bề thế, khó có thác nào ở Việt Nam mà sánh kịp. Nếu phải bình chọn một ngọn thác như một cuộc thi hoa hậu thì cô gái H’linh chắc chắn sẽ giành vương miện một cách đương nhiên. Những thước phim tôi quay trong bộ phim đầu tay của tôi này có lẽ sẽ là những hình ảnh tư liệu cuối cùng của đời người con gái hồng nhan. Vì chỉ vài năm nữa thôi con thác này sẽ bị hiến tế, chặn dòng để xây nhà máy thuỷ điện Đray H’linh-I.

Sau Yaly, tôi đã giành nhiều cơ số phim nhất để quay với đủ mọi góc độ về Đray H’linh như sự ngưỡng mộ, nuối tiếc vô bờ của một kẻ si tình trước mỹ nữ quốc sắc thiên hương vì việc nước sắp phải “qúa quan” ra đi mãi mãi.

Thác Đray Sáp

Thác Đray Sáp

Xa hơn chút nữa, cách Buôn Mê Thuật chừng 30 km là Đray Sáp. Ai chưa biết Đray H’linh mà gặp Đray Sáp thì cũng tạm hài lòng vì vắng trăng mà còn sao, chắc cũng được an ủi phần nào. Tiếng Êđê, Đray Sáp là thác Khói. Nước buông từ độ cao khoảng 30 m và rộng chừng trăm mét, tạo thành làn “khói” sương diệu huyền. Những ngọn thác đẹp và gần Buôn Mê Thuột như thế mà biết cách khai thác theo hướng du lịch nghỉ dưỡng, thật tuyệt. Nhưng cái khó bó cái khôn, những nhà làm qui hoạch Bộ Điện lực (Nay là Bộ Công thương) đã đưa vào tầm ngắm nhằm phát triển thủy điện, bất chấp những hệ lụy về môi sinh như thế nào.

Được hợp lưu bởi hai dòng K’rông Na và K’rông Ana bắt nguồn từ vùng lũng núi của nam Trường Sơn, sông Sêrêpôk có chiều dài hơn ba trăm cây số. Gần một nửa chiều dài là chảy trên lãnh thổ Việt Nam. Sêrêpôk không đổ thẳng ra biển Đông như nhiều dòng sông khác mà chảy ngược sang Campuchia, trước khi hợp vào dòng Mekong.

Theo các chuyên gia về địa chất đánh giá, chính dãy núi Trường Sơn Nam là đường phân thủy (chia nước) của những hệ thống sông chảy về đồng bằng duyên hải phía đông rồi đổ về biển Đông. Hệ thống sông đổ về phía tây trở thành phụ lưu của sông Mekong. Sêrêpôk là một trong số ít dòng sông không tuân theo qui luật chảy về biển Đông mà ngược lên phía tây. Đây là dòng sông khá đặc biệt vì cả hai nhánh đều rất hiền hòa, nhưng khi hợp thành Sêrêpôk thì trở nên “hung dữ” với hàng loạt thác ghềnh liên tiếp như Đray H’linh, Gia Long, Đray Sáp, Đray Nur, Trinh Nữ… với dòng nước chảy xiết.

Thác Đray Nur

Thác Đray Nur

Mỗi con thác lớn nhỏ trên dòng Sêrêpôk đều lưu giữ một huyền thoại khác nhau. Nhiều hiện tượng kỳ lạ của thiên nhiên mà tới nay cũng không ai lý giải nổi. Như một con sông mà có hai dòng chảy song song với nhau. Một dòng thì quanh năm đục ngầu, còn dòng kia trong veo. Cư dân sống ở thượng nguồn các dòng sông Tây Nguyên cắt nghĩa sự kỳ bí tự nhiên bằng những huyền tích lãng mạn và bi hùng. Nhằm gửi vào đó khát vọng về tình yêu trai gái, sự gắn kết cộng đồng, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với đấng tạo hóa. Tiếc thay, những thông điệp nhân văn ấy không được lớp hậu sinh chúng ta nhìn nhận một cách tỉnh táo. Đó chính là nguyên nhân phá vỡ môi trường sinh thái ở Tây Nguyên nói riêng và trên dải đất hình chữ S, một thời ta đã tự hào “rừng vàng biển bạc“ nói chung!

Người Tây Nguyên cổ xưa cho rằng, thiên nhiên có nguồn gốc như con người, cũng được sinh ra bởi một đấng sinh thành. Với dòng Sêrêpôk, nó cũng có đấng sinh thành. Đó là hai dòng sông: K’rông Na và K’rông Ana. K’rông Na được coi là cha và K’rông Ana là mẹ.

Thuyền độc mộc trên Sêrêpôk

Thuyền độc mộc trên Sêrêpôk

Dòng sông mang dáng vẻ hùng vĩ, được thừa hưởng nét đẹp vẹn nguyên và hoang sơ từ các đấng sinh thành, Sêrêpôk đã trở thành ngọn nguồn của trái tim Tây Nguyên. Trong suốt quá trình về với hạ nguồn, dòng sông đã hoá thân kỳ diệu thành trăm ngọn thác lớn nhỏ trên khắp cao nguyên. Trải qua bao đời nay, người dân Tây Nguyên luôn gắn bó với Sêrêpôk, luôn coi K’rông Na và K’rông Ana là cha mẹ, là linh hồn của đại ngàn.

Những dòng sông khởi nguồn từ cao nguyên nói chung như sinh lộ của đất nuôi sống con người cùng vạn vật trên thế gian này. Triệt nguồn sinh lộ ấy, thảm họa sẽ ập tới nhãn tiền!

Gocomay

__

* PS:

Thủy điện ở ta có biết ăn thịt người?

file:///J:/D_Copy/Blog_Gocomay/001_GCM_yahoo_blog/Yahoo_Dokumenta/articles/2009-11-11-473391.html

__________________

Hiệu Minh Blog

Càng đi xa, càng thấy mình nhỏ bé

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 36 other followers